HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH HOI AN
CƠ CHế PHáP Lý KIểM SOáT QUYềN LựC NHà NƯớC
ĐốI VớI VIệC THựC HIệN QUYềN HàNH PHáP
ở VIệT NAM
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: Lí LUN V LCH S NH NC V PHP LUT
H NI - 2019
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH HOI AN
CƠ CHế PHáP Lý KIểM SOáT QUYềN LựC NHà NƯớC
ĐốI VớI VIệC THựC HIệN QUYềN HàNH PHáP
ở VIệT NAM
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: Lí LUN V LCH S NH NC V PHP LUT
Mó s: 62 38 01 01
Ngi hng dn khoa hc: GS,TS TRN NGC NG
H NI - 2019
QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN
QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM
2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực
nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp
2.2. Các yếu tố cấu thành của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước
đối với việc thực hiện quyền hành pháp
2.3. Các điều kiện bảo đảm cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước
đối với việc thực hiện quyền hành pháp
2.4. Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện
quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham
khảo cho Việt Nam
35
35
52
66
72
Chương 3: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CƠ
CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM
3.1. Sự hình thành và phát triển cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà
nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam
3.2. Thực trạng cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc
thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay
3.3. Thực trạng vận hành cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối
với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay
156
167
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GS&PBXH :
Giám sát và phản biện xã hội
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
HĐBT
:
Hội đồng Bộ trưởng
HP
:
Hiến pháp
KSQL
:
Quy phạm pháp luật
QLNN
:
Quản lý nhà nước
TAND
:
Tòa án nhân dân
TCN
:
Trước công nguyên
UBTVQH :
Ủy ban thường vụ Quốc hội
VKSND
:
hành pháp ở trung ương) với tính chất điển hình của cơ quan này là thực hiện hoạt
động chấp hành và điều hành các hoạt động của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, các chủ
thể thực hiện quyền hành pháp không chỉ có Chính phủ, các cơ quan hành pháp ở trung
ương, mà một số các cơ quan nhà nước ở địa phương cũng thực hiện quyền lực này.
Quyền hành pháp có tính độc lập tương đối so với các nhánh quyền lực khác. Với vai
trò, vị trí của mình, hành pháp không đơn thuần chỉ là bộ phận được tổ chức ra để thực
thi một cách thụ động các quyết định của cơ quan lập pháp, mà còn là nhánh quyền lực
có ảnh hưởng rất lớn đến các nhánh quyền lực khác. Phạm vi hoạt động của quyền
hành pháp rất rộng với những nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội như: thu thuế; hoạch định, thực thi chính sách công; thực thi pháp luật;
2
cung ứng dịch vụ công... Gắn với chức năng này là các quyền năng rất lớn, nếu không
được kiểm soát hiệu quả, đây là nguyên nhân căn bản của tệ tham nhũng, quan liêu,
cửa quyền, hách dịch trong hoạt động của cơ quan hành pháp mà xã hội luôn phải đối
mặt. Hoạt động hiệu quả của bộ máy hành pháp mới đem lại tính hiệu lực, hiệu quả
trong hoạt động của bộ máy nhà nước, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội;
ngược lại sự trì trệ, yếu kém, lạm dụng quyền lực trong hoạt động của bộ máy hành
pháp sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quyền hành pháp có khả năng phản ánh một cách chính xác nhất những nhu
cầu của xã hội. Quyền hành pháp không là việc thi hành pháp luật mà nó còn bao
gồm cả việc quản lý, điều hành, lãnh đạo các hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Đây là một trong các nhánh quyền lực có sự đụng chạm mạnh nhất
tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các chủ thể khác trong quá trình thực thi
và quản lý. Đây cũng là nhánh quyền lực có bộ máy đồ sộ nhất bao gồm các cơ quan
sức mạnh như quân đội, cảnh sát, chi tiêu ngân sách quốc gia nhiều nhất…Vì vậy, việc
KSQL nhà nước đối với việc thực thi quyền hành pháp là một đòi hỏi khách quan của
việc xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ), bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân. Kiểm soát quyền hành pháp là cơ chế chính trị - pháp lý được các cơ quan
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng cơ
chế pháp lý KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp. Trên cơ sở đó
đề xuất các quan điểm và giải pháp tiếp tục xây dựng cơ chế pháp lý KSQL nhà
nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, Luận án này xác định các nhiệm
vụ nghiên cứu cơ bản như sau:
- Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án bao gồm:
các công trình nghiên cứu về quyền lực nhà nước và cơ chế pháp lý KSQL nhà
nước; cơ chế pháp lý KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở
trong nước và nước ngoài và những vấn đề liên quan, từ đó, rút ra những vấn đề cần
tiếp tục nghiên cứu ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc xây dựng cơ chế pháp lý KSQL nhà nước đối với
việc thực hiện quyền hành pháp, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành cơ
chế, vai trò, mục đích, tiêu chí xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền
hành pháp; nội dung và phương thức hoạt động của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền hành
pháp; khảo sát cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện
quyền hành pháp ở một số nước và rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.
4
- Thông qua việc phân tích các thể chế pháp lý từ năm 1945 đến nay mà cụ thể
là từ Hiến pháp 1946, luận án đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế
pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt
Nam; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các thiết chế và các yếu tố bảo đảm
của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền hành pháp, đồng thời, chỉ rõ hạn chế và nguyên
nhân của các hạn chế đó.
- Đề xuất các quan điểm định hướng và các giải pháp để hoàn thiện cơ chế
pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở
Việt Nam.
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của
triết học Mác-Lênin để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài. Trên
từng phương diện nghiên cứu cụ thể, Luận án sử dụng các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp phân tích tài liệu. Phương pháp này được áp dụng để phân
tích các tài liệu bao gồm: các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật, các công trình khoa học đã công bố, các số liệu thống
kê chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các bài báo, tạp chí, các kết
luận, các nhận định, phân tích đã được các tác giả khác thực hiện và công bố ở các
công trình khác có liên quan (Chương 1,2).
+ Phương pháp chuyên gia được sử dụng để thu thập thông tin và ý kiến của
những chuyên gia, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về các chuyên ngành
chính trị học, luật học, xã hội học…về các vấn đề về kiểm soát quyền lực, cơ chế
kiểm soát quyền lực, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, các vấn đề
lý luận nhà nước và pháp luật, về Hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến…nhằm đánh giá
thực trạng vận hành của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc
thực hiện quyền hành pháp (Chương 3).
+ Phương pháp thống kê được áp dụng để thống kê số liệu, phân tích và đánh
giá thực trạng về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực
hiện quyền hành pháp ở Việt Nam (Chương 3).
+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có
được từ việc phân tích và dẫn nguồn các tài liệu, hỏi ý kiến chuyên gia. Phương
pháp này được áp dụng để nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đưa
ra những đề xuất của tác giả luận án ở chương 3 về quan điểm, giải pháp hoàn thiện.
+ Phương pháp luật học so sánh được sử dụng để nghiên cứu và so sánh mô
hình, kinh nghiệm của một số nước, từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho Việt
Nam (Chương 1).
6
+ Phương pháp quy nạp và diễn dịch để khái quát hóa hoặc cụ thể hóa nội
nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của Luận án gớp phần hình thành cơ sở khoa học về cơ
chế pháp lý KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn vận hành có hiệu quả cơ chế
pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp theo
tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013, trong điều kiện xây dựng Chính phủ
liêm chính, kiến tạo theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN đang tiến hành ở nước ta.
- Luận án là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo tin cậy, góp phần phục vụ
cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy trong các cơ sở giáo dục và
đào tạo chuyên ngành luật học, xã hội học và chính trị học ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm 4 chương, 12 tiết và các nội dung khác gồm phần mở đầu, kết
luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến luận án,
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1. Các công trình nghiên cứu dưới góc độ kiểm soát quyền lực nhà nước
Bàn về giới hạn quyền lực, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà
cho nhà nước thông qua một cơ chế pháp lý cụ thể. Nhà nước do nhân dân thiết lập
và trao quyền lực, nghĩa là quyền lực nhân dân trở thành quyền lực nhà nước. Nhà
nước khi sử dụng quyền lực sẽ nảy sinh xu hướng lộng quyền và lạm quyền. Tuy
nhiên, công trình chưa nghiên cứu sâu vấn đề cơ chế pháp lý nói chung, cơ chế
KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam nói riêng.
Trong tác phẩm: "Sự hạn chế quyền lực Nhà nước" của GS.TS. Nguyễn
Đăng Dung [16] cho rằng sự hạn chế quyền lực nhà nước như là biểu hiện khách
quan của việc tổ chức NNPQ dân chủ. Theo tác giả, việc phân công, phân nhiệm rõ
ràng giữa các nhánh quyền lực theo chiều dọc và theo chiều ngang cùng với một cơ
chế giám sát, kiểm tra sẽ góp phần để hạn chế quyền lực. Để làm điều này, cần có
một số chính sách cụ thể như: Tổ chức lại cấu trúc quyền lực nhà nước; sự công
khai, minh bạch của chính quyền; hoạt động tự do báo chí; bỏ phiếu trưng cầu ý
dân; tòa án độc lập… Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tác dụng gợi mở
đề NCS tiếp tục nghiên cứu về cơ chế KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền
hành pháp và trách nhiệm của Nhà nước trong tạo lập cơ chế đó.
Trong công trình nghiên cứu: "Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước"
của tác giả PGS.TS Thái Vĩnh Thắng [106] đã viện dẫn quan điểm của Jean Jacques
Rousseau về KSQL nhà nước và khẳng định tính khoa học của những nguyên lý
này. Tác giả đã phân tích, lý giải cách thức tổ chức và KSQL nhà nước trong các
kiểu nhà nước, mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam và mô hình nhà nước từ
Hiến pháp 1946 đến nay; nghiên cứu về tổ chức và KSQL nhà nước của Nga và các
nước Đông Âu qua các thời kỳ, có sự so sánh, đối chiếu, khảo nghiệm. Đây là công
trình khoa học có chất lượng và ý nghĩa đối với việc rút ra các nguyên lý, kinh
nghiệm về tổ chức và KSQL nhà nước. Tuy vậy, tác giả chưa đề cập đến vấn đề cơ
chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở
Việt Nam.
Trong luận án tiến sĩ Luật học: "Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức
năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả
Trương Thị Hồng Hà [45] đã phân tích về cơ chế, làm sáng tỏ khái niệm cơ chế
lại với dân chủ xã hội, đặc biệt đối với việc thực thi quyền hành pháp của bộ máy
công quyền, yêu cầu quan trọng là phải hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền
lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà
nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp
1.1.2.1. Các nghiên cứu về kiểm soát quyền lực đối với hành pháp thông
qua cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp (cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các quyền)
và cơ chế bảo hiến
Trước yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng NNPQ
đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.
13
Hiến pháp là nền tảng chính trị - pháp lý của quốc gia, của chế độ, là nhân tố
bảo đảm các quyền con người, quyền công dân và sự phát triển của đất nước. Một
trong những nguyên tắc tổ chức và vận hành của NNPQ đó là đảm bảo tính tối cao
của Hiến pháp. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhưng nhân dân không trực
tiếp thực hiện mà giao cho Nhà nước thông qua ủy quyền nên tất yếu nảy sinh đòi
hỏi chính đáng và tự nhiên là phải kiểm soát việc thực hiện, trong đó có việc kiểm
soát tính hợp hiến, hợp pháp giữa các quyền lập pháp và tư pháp đối với hành pháp
là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bảo hiến cơ chế quan trọng ngăn chặn sự
lạm quyền của nhánh hành pháp, đảm bảo cho quyền lực hành pháp thuộc về nhân
dân; nhân dân thực hiện ủy quyền nhưng không bị mất quyền.
Một trong những cơ chế bảo hiến quan trọng là: giữa các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp kiểm soát lẫn nhau trong đó, lập pháp và tu pháp kiểm soát hành
pháp là một cơ chế được Hiến pháp 2013 ghi nhận. Dưới góc độ tiếp cận này trong
bài viết: "Phát huy vai trò của Hiến pháp và tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ hiến
pháp" của tác giả Trần Ngọc Đường [37] đã khảo sát, đánh giá cơ chế bảo hiến hiện
theo Hiến pháp 1992 và khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi hiến pháp, xây dựng
thành một hệ thống thực hiện các hoạt động bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm cho Hiến pháp
được tôn trọng, ngăn ngừa và xử lý mọi hành vi vi phạm Hiến pháp. Tác giả đã đánh
giá thực trạng cơ chế bảo hiến và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế
bảo hiến: Tiếp tục củng cố một số điểm hợp lý, bảo đảm tiếp tục phát huy kết quả tích
cực đã đạt được của cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành; đổi mới tư duy pháp lý, nâng
cao nhận thức về vị trí, vai trò, tính chất của Hiến pháp, cơ chế bảo vệ Hiến pháp; đổi
mới quy trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp; xây dựng một cơ chế bảo vệ Hiến pháp
mới với thiết chế chuyên trách, độc lập; thể chế đồng bộ, thống nhất, rõ ràng và phương
thức hoạt động mang tính tố tụng hiến pháp;…
Ở Việt Nam, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, trong công trình nghiên cứu
"Luật hiến pháp và chính trị học" của tác giả Nguyễn Văn Bông [8] cho rằng bảo
hiến là "kiểm soát tính cách hợp hiến của các đạo luật", là "điều tra, xem xét coi
những đạo luật - tức là những hành vi pháp lý ở một địa vị kém hơn Hiến pháp - có
phù hợp với nội dung của Hiến pháp hay không" và "nếu không có sự kiểm soát này
thì tất cả quyền công dân ghi trong Hiến pháp không còn giá trị nữa" [8]. Nghiên
cứu về cơ chế bảo hiến, tác giả cho rằng có thể bảo hiến thông qua kiểm soát bởi
một cơ quan chính trị hoặc bởi một cơ quan tài phán. Cũng một nghiên cứu dưới
chế độ cũ, trong cuốn: "Luật Hiến pháp - Khuôn mẫu dân chủ" của tác giả Lê Đình
Chân [11] nhấn mạnh đến cơ chế bảo hiến bằng tòa án. Theo ông, để bảo hiến có
hiệu quả, tòa án phải được tổ chức độc lập và "tòa án phải từ chối áp dụng đạo luật
bất hợp hiến" [11].
15
1.1.2.2. Các nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ cơ
quan hành pháp thông qua cơ chế thanh tra, kiểm tra
Theo Điều 96, Hiến pháp năm 2013 thì, "…tổ chức công tác thanh tra, kiểm
tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy
nhà nước…" [90] là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Như
vậy, Chính phủ thực hiện KSQL nhà nước thông qua việc tổ chức công tác thanh
thanh tra thể hiện đối với việc đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định
hành chính (QĐHC). Tác giả đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong cơ chế kiểm
soát hành pháp thông qua hoạt động thanh tra và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp
nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra.
Dưới góc độ luật học, đề cập trực tiếp đến vai trò của thanh tra trong kiểm
soát quyền hành pháp, luận án tiến sĩ luật học: "Vai trò của các cơ quan thanh
tra nhà nước trong kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn
Văn Tuấn [120] đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò và nội dung của
cơ quan thanh tra nhà nước trong kiểm soát quyền hành pháp thông qua chức
năng thanh tra, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng.
Đánh giá thực trạng vai trò của các cơ quan thanh tra trong kiểm soát quyền hành
pháp và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra nhằm kiểm
soát quyền hành pháp.
1.1.2.3. Các nghiên cứu về kiểm soát quyền lực đối với hành pháp thông
qua cơ chế giám sát, phản biện xã hội của nhân dân, Mặt trận tổ quốc Việt Nam,
các tổ chức chính trị - xã hội và truyền thông
Kiểm soát quyền lực nhà nước vừa được thực hiện bởi cơ chế bên trong bộ
máy nhà nước và cơ chế bên ngoài bộ máy nhà nước. Liên quan đến vấn đề nghiên
cứu có thể kể đến một số công trình sau:
Trong: "Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta" của Nguyễn Đức Bình [5], trong đó có đề tài: "Vị trí và những đặc trưng về hoạt
động của các tổ chức quần chúng và xã hội trong hệ thống chính trị" của Nguyễn Viết
Vượng làm chủ nhiệm. Đề tài đã nghiên cứu các đặc trưng,đánh giá hoạt động, vai trò
của các tổ chức quần chúng và xã hội, chủ yếu là các tổ chức chính trị -xã hội thuộc hệ
thống chính trị trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, trong đó có đề cập đến
vấn đề giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước với tư cách là công cụ quan trọng để
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Trước yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng NNPQ,
phát huy dân chủ đã có các chương trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể
đến đề tài: "Cơ chế quan hệ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
quả nghiên cứu nói trên đã giúp NCS tiếp cận thông tin có giá trị tham khảo hữu ích
cho việc nghiên cứu đề tài: Cơ chế pháp lý KSQL nhà nước đối với việc thực hiện
quyền hành pháp ở Việt Nam.
Bàn về hình thức dân chủ trực tiếp và việc nhân dân trực tiếp thực hiện
quyền lực nhà nước, cuốn sách: "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế Nhân dân thực
hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp - cơ sở lý luận và thực tiễn" của
Phan Trung Lý, Đặng Xuân Phương [60] đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về
cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, trong đó đã
phân tích những ưu điểm và hạn chế, thuận lợi và thách thức đặt ra đối với việc thực
hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp của nhân dân. Trên cơ sở phân tích
thực trạng, các tác giả đã đề xuất các giải pháp quan trọng như: tiếp tục đổi mới
19
phương thức hoạt động của các chủ thể trong hệ thống chính trị; đổi mới phương
thức, chấn chỉnh lối làm việc của bộ máy nhà nước phù hợp với yêu cầu thực hành
dân chủ trực tiếp của nhân dân; xây dựng một số đạo luật chung về tang cường năng
lực thực hành dân chủ trực tiếp của nhân dân. Các kết quả nghiên cứu này đã giúp
NCS tiếp cận thông tin có giá trị tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu cơ chế pháp lý
KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam bên ngoài bộ máy
nhà nước để bổ sung vào luận án.
Tiếp cận dưới góc độ khoa học chính trị, đề tài: "Vấn đề nhân dân giám sát
các cơ quan dân cử ở nước ta hiện nay" của Viện Khoa học chính trị [131] đã phân
tích sâu, khoa học, cụ thể về bản chất nền dân chủ XHCN mà nội dung căn bản là
xây dựng cơ chế nhân dân làm chủ bằng việc tham gia QLNN, quản lý xã hội, thực
hiện quyền kiểm soát, giám sát thông qua các tổ chức đại diện của nhân dân ở cơ sở
đối với các cơ quan nhà nước và các chính sách của Nhà nước. Các tác giả đều
nghiên cứu, đề cập đến vấn đề kiểm soát, giám sát đối với quyền lực nhà nước, nêu
những yêu cầu cấp thiết của KSQL nhà nước. Những kết quả nghiên cứu này đã tạo
tiền đề để NCS tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện hơn vấn đề xây
điểm, hạn chế và nguyên nhân; đề xuất các giải pháp tăng cường vai trò của các tổ
chức chính trị - xã hội hiện nay, trong đó có đề cập đến vấn đề thực hiện chức năng
giám sát của các tổ chức - chính trị xã hội ở Việt Nam.
Truyền thông đại chúng là một kênh xã hội hóa vô cùng quan trọng đối với
đời sống của mỗi người với tư cách là phương tiện cung cấp thông tin cho công
chúng, tạo nên những cơ chế để công chúng tham gia tích cực vào đời sống chính trị
thông qua cơ chế giám sát, phản biện xã hội. Các nghiên cứu: "Báo chí và dư luận
xã hội, Đối tượng tác động của báo chí" của của tác giả Nguyễn Văn Dững [26];
"Báo chí thế giới - Xu hướng phát triển" của Đinh Thị Thúy Hằng [49] cho thấy vai
trò cơ bản của truyền thông là cung cấp thông tin cho công chúng, song bên cạnh đó
nó cũng giữ vai trò hết sức quan trọng trong kiểm soát quyền hành pháp thông qua
việc phát giác kịp thời các sai phạm của cơ quan nhà nước, gây áp lực buộc các chủ
thể QLNN phải công khai, minh bạch, chấp hành đúng các quy định pháp luật.
Truyền thông đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với chính trị, mà cụ
thể là quá trình lãnh đạo, chỉ đạo việc hoạch định và thực thi chính sách. Trong
nghiên cứu: "Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lý" của tác
giả Vũ Đình Hòe [53] đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa các nhà lãnh đạo quản
lý đối với truyền thông. Theo tác giả, vai trò của truyền thông trong quá trình
lãnh đạo, quản lý được thể hiện qua việc: truyền thông đóng vai trò là cầu nối
giữa các nhà lãnh đạo, quản lý đối với công chúng; là nơi nắm bắt thông tin và
truyền tải các ý tưởng chính sách từ công chúng đến các cơ quan hoạch định;