Hôn nhân hiện nay của người h’mông đen ở xã tà xùa, huyện bắc yên, tỉnh sơn la - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUYỀN

HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƯỜI H’MÔNG ĐEN
Ở XÃ TÀ XÙA, HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUYỀN

HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƯỜI H’MÔNG ĐEN
Ở XÃ TÀ XÙA, HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA

Ngành: Dân tộc học
Mã số: 8 31 03 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VI VĂN AN

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ÐOAN

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền

ii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN
CỨU........................................................................................................................................................ 14
1.1. Cơ sở lý thuyết............................................................................................................................ 14
1.2. Khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu............................................................... 17
1.3. Khát quát về người H’mông Đen........................................................................................ 21
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI H’MÔNG ĐEN Ở XÃ TÀ
XÙA........................................................................................................................................................ 32
2.1. Những vấn đề chung về hôn nhân....................................................................................... 32
2.2. Chu trình của một đám cưới.................................................................................................. 40
Chương 3. BIẾN ĐỔI HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI H’MÔNG ĐEN TỪ NĂM
1998 ĐẾN NAY.................................................................................................................................. 56
3.1. Các khía cạnh biến đổi............................................................................................................ 56
3.2. Những yếu tố tác động đến sự biến đổi của hôn nhân................................................. 66
3.3. Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị hôn nhân........................................................... 71
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 81
PHỤ LỤC

iii



Ủy ban nhân dân

5

Tr

Trang

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Thống kê nhân khẩu, dân tộc xã Tà Xùa năm 2017 ...........................

19

Bảng 3.1. Số liệu thống kê tình trạng tảo hôn trên địa bàn xã Tà Xùa từ 2009 2018 .................................................................................................................
60
Bảng 3.2. Số liệu đăng kí kết hôn của xã Tà Xùa từ 2008 - 2018 ............................ 60

v


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi dân tộc. Nó không chỉ
là một sự kiện quan trọng đánh dấu sự thay đổi trong chu kì đời người đối với cá
nhân, đối với gia đình và dòng họ; mà còn phản ánh rõ đặc trưng văn hóa tộc người.
Hôn nhân gắn liền với nhiều nghi lễ, phong tục và chứa đựng nhiều sắc thái văn hoá
của mỗi dân tộc. Ngoài nhằm duy trì nòi giống, đánh dấu sự chuyển đổi và trưởng

nghi, thủ tục rườm rà, tốn kém trong đám cưới được lược bỏ, các quan niệm về hôn
nhân, độ tuổi kết hôn, thủ tục đám cưới cũng có nhiều khác biệt so với trước kia.
Những thay đổi này một mặt làm phong phú thêm đời sống văn hóa tộc người, mặt
khác đó cũng chính là những nhân tố làm thay đổi các giá trị văn hóa vốn có của
người H’mông. Bởi vậy, nghiên cứu hôn nhân của nhóm H’mông Đen ở xã Tà Xùa
còn nhằm góp phần làm sáng rõ thêm vấn đề văn hóa tộc người hiện nay. Bên cạnh
đó, kết quả nghiên cứu cũng làm cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý có những chủ
trương, chính sách cụ thể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc tộc người,
góp phần thực hiện hiệu quả Luật Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước. Theo đó,
nghiên cứu này còn là hướng đi phù hợp với tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ
IX Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về: xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Là một cán bộ giảng dạy và nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thuộc Trường
Đại học Tây Bắc, tôi có điều kiện tiếp xúc với đồng bào người H’mông xã Tà Xùa,
huyện Bắc Yên trong những chuyến thực tế chuyên môn. Bản thân tôi đã được tham
dự và tham gia nhiều nghi lễ thực hành phong tục tập quán độc đáo, trong đó có hôn
nhân và cưới xin của họ. Mỗi lần như thế, các nghi thức, nghi lễ này luôn lôi cuốn
và thôi thúc tôi tìm hiểu về chúng với mong muốn góp phần nhỏ, giới thiệu với bạn
bè, đồng nghiệp. Vì thế, tôi quyết định chọn đề tài “Hôn nhân hiện nay của người
H’mông Đen ở xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La” làm nội dung nghiên cứu
luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Một số nghiên cứu về người H’mông Việt Nam
Là một trong 53 tộc người thiểu số ở Việt Nam, từ lâu người H’mông cũng là
một trong những tộc người dành được sự quan tâm, chú ý đặc biệt của các nghiên

2


cứu khoa học xã hội và Nhân văn, nhất là các nhà Dân tộc học/Nhân học. Vì thế,



Trong cuốn “Đặc trưng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở
Kỳ Sơn Nghệ An” của tập thể tác giả Trần Tất Chủng, Phạm Quang Hoan, Cầm
Trọng, Nguyễn Ngọc Thanh [7] tập trung nghiên cứu về 3 dân tộc chính ở huyện Kì
Sơn, tỉnh Nghệ An gồm người Thái, người Khơ-mú và người H’mông. Nội dung về
đặc trưng văn hóa các dân tộc chiếm ½ dung lượng cuốn sách, đã đề cập đến các
mặt về kinh tế truyền thống, văn hóa vật chất, tổ chức xã hội, hôn nhân và gia đình.
Trong đó nghi lễ hôn nhân của người H’mông ở Kì Sơn Nghệ An cũng được mô tả
một cách chi tiết về các bước trong tiến trình hôn nhân.
Cuốn “Văn hóa dân tộc Mông ở Hà Giang” của Trường Lưu và Hùng Đình
Quý [22] và cuốn “Văn hóa người Mông ở Nghệ An” của tác giả Hoàng Xuân
Lương [21] là một trong những khảo tả khá đầy đủ về văn hóa của các nhóm
H’mông Trắng và H’mông Hoa nơi đây. Tuy nhiên, phần hôn nhân và cưới xin cũng
chỉ được trình bày khái quát.
Tương tự, cuốn“Tiếp cận văn hóa Hmông” của hai tác giả Mã A Lềnh, Từ
Ngọc Vụ [19] cũng cung cấp cho chúng ta cái nhìn khái quát, toàn diện về lịch sử
cư trú, tổ chức xã hội - dòng họ và mối quan hệ thân tộc, huyết thống, văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần với những giá trị biểu hiện đặc trưng... trong đó vấn đề
hôn nhân cũng được đề cập đến là được xem là một trong những bước ngoặt trong
chu kì đời người của cộng đồng người H’mông.
Cuốn sách ảnh “Người Hmông ở Việt Nam” của Vũ Quốc Khánh và cộng sự
[18]. Với dung lượng gồm 8 phần đã giới thiệu một cách khái quát về người
H’mông ở Việt Nam với các nội dung cụ thể: Nguồn gốc - lịch sử và sự phân bố dân
cư; Bản làng; Trang phục; Nhà; Ẩm thực; Chợ; Lễ hội. Hiện nay đây được coi là
công trình sách ảnh duy nhất cung cấp cho chúng ta những hiểu biết và cái nhìn sơ
lược nhất về đời sống thực tế người H’mông ở Việt Nam.
Cuốn “Phong tục tập quán một số dân tộc thiểu số” của tập thể các tác giả
Ninh Văn Hiệp, Tuấn Dũng, Hoàng Quyết, Trương Thị Xứng, Bùi Ngọc Quang
[13]. Cuốn sách là tập hợp sưu tầm và giới thiệu về phong tục tập quán của một số

Cuốn “Dân số kế hoạch hóa gia đình người Hmông ở Hòa Bình” của tập thể
các tác giả Viện Dân tộc học gồm PGS.PTS Khổng Diễn và các cộng sự [9] là cuốn
sách song ngữ Việt - H’mông đầu tiên, nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách dân
số kế hoạch hóa gia đình tới đồng bào dân tộc H’mông ở tỉnh Hòa Bình. Dựa trên số
liệu điều tra điền dã thu được tại hai xã Hang Kia và Pà Cò, huyện Mai Châu, cuốn

5


sách đã khái lược về thực trạng kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe bà mẹ
trẻ em trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, trên cơ sở đó đề xuất việc sử dụng kết hợp các
biện pháp phòng tránh thai theo y học hiện đại cùng với các bài thuốc dân gian đã
được người H’mông áp dụng từ xa xưa nhằm đạt mục tiêu giảm tỉ lệ sinh trong cộng
đồng tộc người vốn còn tồn tại nhiều hạn chế về nhận thức và bất bình đẳng xã hội.
Chuyên khảo “Người Hmông ở Pà Cò huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình” của
tác giả Khổng Diễn [8] đã cho chúng ta thấy được bức tranh tổng quát nhất về tình
hình dân số, đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hóa của người H’mông ở Pà Cò, huyện
Mai Châu. Từ đó chỉ ra những khó khăn cơ bản nhất của người H’mông nơi đây
nhằm góp phần thực hiện tốt chính sách dân tộc nói chung và với người H’mông
tỉnh Hòa Bình nói riêng.
Tác giả Đỗ Ngọc Tấn và cộng sự với công trình nghiên cứu “Hôn nhân gia
đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng” [31] đã đi sâu
phân tích, làm rõ những đặc điểm, thực trạng trong hôn nhân và gia đình của hai dân
tộc H’mông và Dao căn cứ vào số liệu điều tra cụ thể. Tuy nhiên cuốn sách không
nghiên cứu chuyên sâu về một nhóm H’mông nào và cũng chưa phân tích các nghi
lễ diễn ra trong hôn nhân của người H’mông.
Cuốn “Đám cưới của người Hmông Lềnh (Hmông Hoa) ở Lào Cai” của tác
giả Trần Hữu Sơn [29] đã giới thiệu nhiều nghi lễ độc đáo, đặc trưng của tộc người
với các lễ xem tuổi, lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt. Cuốn sách đã nghiên
cứu về một nhóm địa phương cụ thể là nhóm H’mông Lềnh ở Lào Cai. Đây là

bản cụ thể của tỉnh Sơn La. Hôn nhân của người H’mông Đen ở huyện Bắc Yên nói
chung và xã Tà Xùa nói riêng cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu
chuyên sâu nào.
Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, chúng ta còn có thể kể đến
nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác, là những bài nghiên cứu đăng trên
các Tạp chí chuyên ngành như: “Trẻ em và phụ nữ người Hmông, thực trạng và nhu
cầu trợ giúp (Nghiên cứu tại bản Sảng Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang)” của
tác giả Lâm Bá Nam - Phạm Văn Thành [23]; “Ảnh hưởng của du lịch đến một số
thiết chế xã hội của người Hmông ở Sapa” của Trần Hữu Sơn [28]; “Tri thức địa
phương về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em người Hmông ở xã Văn Lăng, huyện
Đồng Văn, tỉnh Thái Nguyên” của Vũ Thị Hồng - Nguyễn Thị Minh Nguyệt [15];

7


“Di dân tự do của người Hmông ở miền núi Thanh Hóa từ 1990 đến nay” của Vũ
Trường Giang [12]; “Lễ lên đồng của người Hmông Trắng ở Tây Bắc” của Khổng
Kim Anh - Đặng Thị Hoa [1]; “Lễ cưới của người Hmông Trắng ở Lào Cai” của
Nguyễn An Châu [6]... cùng hệ thống các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ, khoá
luận tốt nghiệp của cử nhân hiện đang được lưu trữ tại Viện Dân tộc học, thư viện
các trường đại học... Những công trình nghiên cứu này một mặt giúp chúng tôi có
cái nhìn toàn diện và sinh động về dân tộc H’mông - một dân tộc thiểu số với nhiều
nét văn hóa đặc sắc, đa dạng, bên cạnh đó cũng có dịp tìm hiểu sâu hơn về một số
nhóm nhỏ trong dân tộc H’mông từ đó thấy được cái riêng biệt nằm trong cái chung
của cộng đồng người H’mông ; Mặt khác những nghiên cứu trên còn góp phần cung
cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách đề xuất những giải
pháp can thiệp phù hợp nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho
đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa nói riêng
nhằm xóa bỏ các hủ tục, xây dựng đời sống văn hóa mới lành mạnh, văn minh
nhưng vẫn đảm bảo bản sắc văn hóa truyền thống tộc người.

- Triển khai các đợt điền dã Dân tộc học để thu thập tài liệu...
- Luận văn tập trung phân tích, lý giải các khía cạnh nội hàm liên quan đến
hôn nhân và lễ cưới gồm: quan niệm, nguyên tắc, tính chất, hình thức...; các bước
thực hành trước và trong lễ cưới của nhóm H’mông Đen nơi đây.
- Chỉ rõ các khía cạnh biến đổi và phân tích, lý giải nguyên nhân của sự biến
đổi trong hôn nhân hiện nay của nhóm H’mông Đen tại điểm nghiên cứu. Trong
chừng mực nào đó, luận văn cũng sẽ cố gắng so sánh với hôn nhân của nhóm
H’mông Hoa tại địa bàn nghiên cứu.
- Thảo luận một số vấn đề đặt ra và các khuyến nghị nhằm bảo tồn và phát
huy các giá trị tốt đẹp trong hôn nhân của người H’mông Đen ở xã Tà Xùa, huyện
Bắc Yên, tỉnh Sơn La nêu trên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là người H’mông Đen ở xã Tà Xùa,
huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Trong đó, nội dung luận văn tập trung phân tích, lý
giải sâu về các đặc điểm trong hôn nhân của người H’mông Đen ở xã Tà Xùa và
thực trạng trong hôn nhân của người H’mông Đen hiện nay. Cách thực hiện này sẽ

9


làm rõ những biến đổi trong hôn nhân và các yếu tố tác động và cả những vấn đề đặt
ra trong hôn nhân hiện nay ở nhóm H’mông này. Ngoài ra, luận văn có một số so
sánh với hôn nhân của nhóm H’mông Hoa đồng tộc của họ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu hôn nhân của người H’mông, nhóm H’mông Đen ở
xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
Về không gian: Địa bàn nghiên cứu chính của luận văn được xác định là bản
Tà Xùa A, Tà Xùa C của xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, nơi người
H’mông Đen tập trung sinh sống đông nhất và lâu đời nhất. Ngoài ra, luận văn còn

Luận văn thực hiện dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng
của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà
nước ta về vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc
Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tác giả đã sử dụng các
phương pháp sau đây:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu có sẵn
Để tổng hợp và phân tích các tài liệu có sẵn, chúng tôi tiến hành tìm tòi và
đọc các công trình nghiên cứu về người H’mông đã công bố nói chung, nhất là các
công trình, bài viết liên quan đến trực tiếp đến nội dung của đề tài luận văn. Theo
đó, tác giả cũng tiếp cận với một số luận án, luận văn của những người đi trước,
trong đó có đề cập đến hôn nhân và cưới xin của người H’mông. Các tài liệu như
báo cáo, số liệu về dân số, dân tộc, số liệu thống kê liên quan đến dân tộc H’mông ở
huyện, xã cũng được tham khảo, cập nhật.
- Phương pháp điền dã dân tộc học
Đây là phương pháp chủ đạo được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực
hiện và hoàn thành luận văn. Theo đó, tác giả đã thực hiện 4 đợt điền dã tại địa bàn
xã Tà Xùa từ tháng 5/2017 đến tháng 12/2018, mỗi đợt điền dã kéo dài ít nhất 5
ngày, dài nhất 10 ngày. Tác giả đã cùng ăn, cùng ở, cùng làm với người dân từ đó
hòa nhập và có những hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa và phong tục tập quán của
đồng bào nơi đây. Các thao tác cơ bản trong phương pháp này bao gồm (i). Quan
sát tham dự được tác giả sử dụng trong suốt quá trình điền dã tại địa phương và đã

11


tham dự tham dự một số đám cưới của người H’mông Đen ở bản Tà Xùa A và C
vào dịp tháng 5/2017 và tháng 12/2018; (ii). Thao tác phỏng vấn sâu với nhiều đối
tượng khác nhau gồm nông dân, giáo viên, cán bộ xã, hưu trí, người buôn bán nhỏ,

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cùng với việc trình bày và phân tích những đặc điểm của hôn nhân truyền
thống, luận văn cung cấp tư liệu mới về những thay đổi trong hôn nhân cũng như lễ
cưới, lý giải những nguyên nhân tác động dẫn tới thay đổi của các khía cạnh trong
hôn nhân hiện nay của nhóm H’mông Đen tại địa phương.
Nguồn tư liệu của luận văn góp phần làm cơ sở khoa học trong việc định
hướng và gợi ý cho chính quyền địa phương trong việc xây dựng chính sách về văn
hóa - xã hội bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người H’mông nói chung và
người H’mông xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La nói riêng. Đồng thời góp
phần xây dựng đời sống văn hóa mới của cộng đồng tộc người H’mông trong bối
cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ trương xây dựng Nông thôn
mới của Nhà nước ta hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết và khái quát về tộc người nghiên cứu Chương 2.
Đặc điểm hôn nhân của người H’mông Đen ở xã Tà Xùa Chương 3. Biến đổi
trong hôn nhân của người H’mông Đen từ năm 1998
đến nay.

13


Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xác định cần làm rõ những
khái niệm cơ bản liên quan đến hôn nhân gồm: hôn nhân, ngoại hôn dòng họ, hôn
nhân hỗn hợp, nghi lễ, truyền thống, biến đổi...

tắc, tính chất và hình thức hôn nhân, cư trú sau hôn nhân... vì vậy trong quá trình
thực hiện luận văn, tác giả cũng phải nghiên cứu một số khái niệm khác có liên
quan đến hôn nhân nhằm thể hiện được đặc trưng và bản sắc văn hóa tộc người
H’mông nói chung và người H’mông Đen ở xã Tà Xùa nói riêng.
Nội hôn tộc người: là việc chỉ kết hôn với người trong cùng một dân tộc,
hoặc cùng một nhóm tộc người với mình. Đây là tập quán/xu thế phổ biến của nhiều
tộc người thiểu số trong việc kết hôn trước kia.
Ngoại hôn dòng họ: là khái niệm chỉ được kết hôn với những người ngoài
dòng họ của mình và được quy định bởi tập quán pháp của tộc người. Ở người
H’mông cũng vậy, thông thường, việc kết hôn giữa những người cùng dòng họ bất
kể ở xa hay gần đều bị nghiêm cấm.
Hôn nhân hỗn hợp dân tộc: Khái niệm này dùng để chỉ việc kết hôn giữa hai
người không cùng một tộc người/dân tộc với nhau mà không trái với quy định của
pháp luật. Hôn nhân hỗn hợp là một hiện tượng phổ biến diễn ra trong nền kinh tế
thị trường hiện nay. Bởi vì quá trình tiếp xúc giao lưu văn hoá không chỉ bó hẹp
trong phạm vi một cộng đồng tộc người mà xu hướng sẽ phát triển ra bên ngoài.
Không những thuộc phạm vi quốc gia mà còn giữa quốc gia này với quốc gia khác
trong xu thế toàn cầu hoá như ngày nay.
Nghi lễ hôn nhân: được hiểu là những nghi lễ phải thực hành và tuân theo
trong hôn nhân theo quy định của phong tục, tập quán của mỗi tộc người. Để hợp
thức hóa về hôn nhân, đôi trai gái và gia đình hai bên bắt buộc phải thực hiện một
số nghi lễ theo tập quán tộc người quy định. Nghi lễ hôn nhân được thực hiện nhằm
đảm bảo sự chứng kiến và công nhận của cộng đồng về việc kết hôn của đôi trai gái,
đồng thời bên trong các nghi lễ đều chứa đựng yếu tố tâm linh, liên quan đến đời
sống tín ngưỡng của mỗi tộc người.
Truyền thống: theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, truyền thống là thói
quen được hình thành đã lâu trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ

15



16


kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên của tộc người, được bảo lưu lâu dài.
- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa
Lý thuyết này chỉ ra rằng: sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn
hóa khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc đó là sự thay đổi hay biến đổi của một số
loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa. Theo đó, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá
trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng bởi một nền văn hóa khác
bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng. Đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa
nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Tiếp biến văn hóa còn
được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn
hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn. Lý thuyết
về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất yếu của mọi sự vật
và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người nói chung và hôn nhân nói
riêng.
Ngày nay, dưới sự tác động của quá trình phát triển, toàn cầu hóa và xu
hướng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi văn hóa của các tộc
người, trong đó có hôn nhân của nhóm H’mông Đen là không tránh khỏi. Do đó, khi
nghiên cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và
các nghi lễ trong hôn nhân của nhóm H’mông Đen nơi đây, tác giả luận văn không
thể chỉ xem xét vấn đề này một cách biệt lập hay trong trạng thái tĩnh, mà luôn đặt
chúng trong trạng thái động, trong quá trình biến đổi, tiếp biến.
1.2. Khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu
1.2.1. Đôi nét về địa bàn nghiên cứu
- Huyện Bắc Yên: Bắc Yên là một huyện vùng cao nằm ở phía Đông Bắc của
tỉnh Sơn La, cách Thành phố Sơn La 100 km về phía Đông Bắc, tọa độ địa lý điểm
0


người với 7 dân tộc anh em cùng chung sống (Thái, Mường, H’mông, Dao, Kinh,
Tày, Khơ-mú), trong đó đông nhất là dân tộc H’mông chiếm 42,7% [38]. Người
H’mông huyện Bắc Yên gồm các ngành H’mông trắng (H’mông Đơ), H’mông Hoa
(H’mông Lềnh), H’mông đen (H’mông Đu) và H’mông đỏ (H’mông Si), phân bố
rộng rãi ở 13 xã, 63 bản trên địa bàn huyện, trong đó tập trung đông nhất ở khu vực
vùng cao gồm các xã Tà Xùa, Háng Đồng, Làng Chếu, Xím Vàng, Hang Chú, Chim
Vàn.
- Xã Tà Xùa: Tà Xùa là xã vùng cao còn nhiều khó khăn của huyện Bắc Yên,
cách trung tâm huyện 14,5 km. Phía Bắc giáp xã Bản Mù huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên
Bái; phía Nam giáp xã Phiêng Ban; phía Đông giáp xã Suối Tọ và xã Suối Bau
huyện Phù Yên; phía Tây giáp xã Làng Chếu và xã Xím Vàng [3]. Tổng diện tích tự
nhiên của xã là 4.138,61 ha, trong đó đất nông nghiệp có 2.457,71 ha, chiếm 59,4%.
Địa hình phức tạp chủ yếu là đồi, núi... Hiện nay, xã Tà Xùa có 8 bản gồm: Bản Tà
Xùa A, Bản Tà Xùa C, Bản Khe Cải, Bản Mống Vàng, Bản Chung Trinh, Bản Bẹ,
Bản Trò A và Bản Trò B.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status