ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG CÂY PHÚC BỒN TỬ (RUBUS IDAEUS)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY IN VITRO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng - Năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG CÂY PHÚC BỒN TỬ (RUBUS IDAEUS)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY IN VITRO
Ngành
: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn: TS. VÕ CHÂU TUẤN
2. Mục tiêu đề tài ............................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.....................................................................2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................3
1.1. Giới thiệu một số phương pháp nhân giống ở thực vật ......................................3
1.2. Giới thiệu về phương pháp nhân giống in vitro ...................................................4
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến đến quá trình nhân giống in vitro .......................4
1.2.1.1. Mẫu nuôi cấy ...............................................................................................4
1.2.1.2. Vô trùng trong nuôi cấy ...............................................................................5
1.2.1.3. Môi trường nuôi cấy ....................................................................................6
1.2.1.4. Điều kiện nuôi cấy .....................................................................................10
1.2.2. Các giai đoạn nhân giống in vitro ..................................................................10
1.2.2.1. Giai đoạn 1: Khử trùng mô nuôi cấy ........................................................10
1.2.2.2. Giai đoạn 2: Tái sinh mẫu nuôi cấy mô ....................................................10
1.2.2.3. Giai đoạn 3: Giai đoạn nhân nhanh ..........................................................11
1.2.2.4. Giai đoạn 4: Tạo cây hoàn chỉnh ..............................................................11
1.2.2.5. Giai đoạn 5: Đưa cây ra đất ......................................................................11
1.2.3. Một số nghiên cứu nhân giống in vitro trên cây ăn quả, cây thuốc .............11
1.3. Giới thiệu về cây phúc bồn tử ..............................................................................12
1.3.1. Nguồn gốc và vị trí phân loại .........................................................................12
1.3.1.1. Nguồn gốc, phân bố ...................................................................................12
1.3.1.2. Vị trí phân loại ...........................................................................................13
1.3.2. Đặc điểm sinh học, sinh thái ..........................................................................13
1.3.3. Công dụng và giá trị sử dụng .........................................................................14
1.3.4. Các nghiên cứu liên quan ...............................................................................16
1.3.4.1. Nghiên cứu ngoài nước ..............................................................................16
1.3.4.2. Nghiên cứu trong nước ..............................................................................17
1.3.5. Tình hình phát triển phúc bồn tử tại Việt Nam .............................................17
1.3.5.1. Tình hình trồng phúc bồn tử tại Lâm Đồng - Việt Nam.............................17
.......................................................................................................................................29
3.3.1. Ảnh hưởng của hàm lượng khoáng đến khả năng tái sinh rễ in vitro cây
phúc bồn tử ................................................................................................................29
3.3.2. Ảnh hưởng của IBA đến khả năng tái sinh rễ in vitro cây phúc bồn tử ......30
3.4. Kết quả khảo sát các điều phù hợp cho giai đoạn vườn ươm của cây con in
vitro phúc bồn tử .........................................................................................................31
3.4.1. Kết quả khảo sát giá thể tối ưu .......................................................................31
3.4.2. Kết quả đánh giá ảnh hưởng tuổi cây in vitro đến khả năng sống trong giai
đoạn vườn ươm .........................................................................................................33
3.4.3. Đánh giá khả năng phát triển của cây trong giai đoạn vườn ươm ..............34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .........................................................................................36
1. Kết luận.....................................................................................................................36
2. Đề nghị ......................................................................................................................36
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................37
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2,4-D
: Diclorophenoxyacetic acid
AC
: Active carbon (than hoạt tính)
BAP
NAA : α-naphthalen acetic acid
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Nồng độ và thời gian khử trùng của một số tác nhân vô trùng .......................5
Bảng 3.1: Hiệu quả khử trùng hạt phúc bồn tử ..............................................................22
Bảng 3.2: Hiệu quả khử trùng đoạn thân có mắt lá cây phúc bồn tử .............................23
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của BAP trong nhân nhanh chồi in vitro cây phúc bồn tử sau 4
tuân nuôi cấy ..................................................................................................24
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của Kin đến khả năng nhân nhanh chồi in vitro cây phúc bồn tử
sau 4 tuần nuôi cấy ........................................................................................26
Bảng 3.5: Hiệu quả nhân nhanh chồi in vitro phúc bồn tử khi kết hợp BAP và IBA ở
các nồng độ khác nhau sau 4 tuần nuôi cấy...................................................27
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của nước dừa đến khả năng nhân nhanh chồi in vitro phúc bồn tử trên
môi trường MS bổ sung 0,75mg/l BAP và 0,2mg/l IBA sau 4 tuần nuôi cấy ......28
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá ảnh hưởng hàm lượng khoáng đến khả năng ra rễ cây phúc
bồn tử sau 20 ngày khảo sát ...........................................................................30
Bảng 3.8: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của IBA đến khả năng tái sinh rễ cây phúc bồn
tử sau 20 ngày nuôi cấy trên môi trường ¼ MS ............................................31
Bảng 3.9: Khảo sát giá thể tối ưu trồng phúc bồn tử sau 15 ngày ươm trồng ...............32
Bảng 3.10: Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của cây phúc bồn tử trong điều
kiện nhà lưới ..................................................................................................35
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Cây phúc bồn tử ngoài tự nhiên.....................................................................19
Hình 2.2: Sơ đồ quy trình nghiên cứu ...........................................................................20
Hình 3.1: Hạt cây phúc bồn tử được nuôi trên môi trường MS không chất kích thích
không có hiện tượng tái sinh chồi ..................................................................22
Hình 3.2: Chồi phúc bồn tử tái sinh trên môi trường MS không chất kích thích sinh
sở sản xuất trong khi nhu cầu thị trường lại quá cao. Việc nghiên cứu, chủ động nguồn
giống và mở rộng sản xuất một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao là điều cần
thiết để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, giảm giá thành sản phẩm và hướng đến
việc xuất khẩu ra nước ngoài.
Phúc bồn tử còn gọi là quả mâm xôi, là một loại quả cao cấp, được sử dụng ở
nhiều nước trên thế giới, nhất là ở châu Âu và châu Mỹ. Phúc bồn tử được trồng tập
trung nhiều nhất ở Bắc và Nam Mỹ. Quả phúc bồn tử được sử dụng như một loại quả
ăn tươi, nó còn được dùng trong công nghiệp thực phẩm chế biến hương liệu, làm sirô,
chế biến nước giải khát, nước cốt, sản xuất rượu vang, các loại mứt là mặt hàng xuất
khẩu có giá trị cao. Ngoài ra, phúc bồn tử còn được sử dụng nhiều trong y học, kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học ở Mỹ và Nhật Bản cho rằng isothiocyanates trong
phúc bồn tử ngoài tác dụng diệt khuẩn còn có khả năng điều hòa tiêu hóa, ngăn ngừa
việc tắc nghẽn mạch máu, giảm huyết áp, chống hen suyễn, ung thư và sâu răng [24].
Tại Việt Nam, phúc bồn tử cũng đã được Trung tâm ứng dụng Khoa học công
nghệ & Tin học nghiên cứu và đưa vào trồng tại Lâm Đồng. Các giống này có nguồn
gốc từ Mỹ, Thụy Điển, New Zealand được du nhập từ những năm 1990. Một số mọc
dại và được người dân thuần hóa mang về trong tại địa phương nhưng diện tích trồng
không nhiều. Trong khi nền nông nghiệp Việt Nam còn chưa phát triển cao, vẫn chưa
có nhiều sản phẩm nổi bậc và xuất khẩu ra nước ngoài, chưa kể phúc bồn tử tại Việt
Nam còn được xem như vua của những loại quả, giá thành khá đắt đỏ, khoảng hai trăm
nghìn đồng 1kg. Như vậy, việc đưa cây phúc bồn tử, rộng rãi tại Việt Nam là điều hết
sức cần thiết, góp phần làm phong phú thêm mặt hàng nông phẩm có giá trị.
Cây phúc bồn tử phát triển tốt ở nhiệt độ 6-27oC, nơi có nhiều ánh sáng [23].
Trong khi đó, Đà Nẵng thuộc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, ít biến động. Nhiệt
1
độ trung bình các tháng trong năm dao động từ 21,3 đến 29,2oC, độ ẩm không khí
trung bình khoảng 80%, nhiều nắng, phù hợp với điều kiện phát triển của cây phúc bồn
tử [12]. Trong khi đó, nền nông nghiệp tại Đà Nẵng vẫn chưa được chú trọng phát
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu một số phương pháp nhân giống ở thực vật
- Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt: Đây là hình thức nhân giống khá khổ
biến, dễ thực hiện, giá thành sản xuất thấp. Tuy nhiên, cây giống gieo từ hạt dễ phát
sinh biến dị do thụ phấn chéo, khó giữ được đặc tính, năng suất ban đầu. Với phương
pháp này, trên quy mô sản xuất, chỉ nên áp dụng đối với những đối tượng có khả năng
hạt nảy mầm cao, đồng đều. Quy trình sản xuất hạt giống cần đảm bảo tạo ra nguồn
hạt giống đảm bảo tính xác thực về di truyền, hình thái và chất lượng với nguồn gen
vật liệu nhân giống khi được cung cấp cho sản xuất gieo trồng ở thế hệ tiếp theo [16].
- Giâm cành: là một trong những phương pháp nhân giống vô tính, được sử dụng
khá rộng rãi tỏng nghề trồng trọt, nhất là trong sản xuất cây ăn quả, cây công nghiệp...,
và cả cây cảnh. Ưu điểm cơ bản là giữ được hầu hết các đặc điểm của cây giống (cây
mẹ), tức là cây mới được tạo ra không bị phân ly, biến dị. Đây là đặc tính rất quý trong
việc chọn tạo giống mới. Tuy nhiên số lượng cây giống tạo ra không nhiều.
- Chiết cành là phương pháp nhân giống vô tính cây trồng bằng cách cho một
cành hay một đoạn cành ra rễ trên cây, sau đó tách khỏi cây mẹ, đem trồng thành
cây mới.
- Ghép cây là tách rời một mắt ghép, một chồi non vừa lú ra ở nách lá hoặc một
đoạn thân non của cây có những đặc tính nổi bật đặt vào một cây khác có đặc tính
sống khoẻ và phát triển tốt, còn gọi là gốc ghép (gốc tháp) tiếp tục sống và tăng trưởng
nhờ vào gốc ghép. Cây ghép giữ được các đặc tính của giống muốn nhân. Tuy nhiên,
lấy mắt ghép liên tục nhiều đời của một giống để ghép có thể dẫn đến hiện tượng thoái
hóa giống.
- Nhân giống in vitro: Nuôi cấy mô tế bào thực vật là tổng hợp những kỹ thuật
được sử dụng để duy trì và nuôi cấy các tế bào, mô hoặc cơ quan thực vật trong điều
phân sinh ngọn, tượng tầng, đầu rễ, phôi đang phát triển, thịt quả non…, khi đặt
vào môi trường có chứa một lượng hormon thích hợp đều có khả năng tạo mô sẹo.
Tuy nhiên, mỗi tế bào ở mỗi mô khác nhau có khả năng tạo mô sẹo, phân hóa thành
rễ, thân, cành, lá… rất khác nhau. Do đó kết quả thu được cũng rất khác nhau ở
những mẫu khi đưa vào nuôi cấy. Việc chọn mẫu thực vật để sử dụng trong quá
trình nuôi cấy có vai trò quyết định, nếu chọn sai mẫu chúng ta sẽ không thu nhận
được kết quả, hoặc thu được những cây sẽ không phát triển mạnh, thậm chí cây có
thể ngưng phát triển ở một giai đoạn nhất định. Các kết quả nghiên cứu cho thấy để
bắt đầu nghiên cứu nhân giống vô tính một cây nhất định, người ta chú trọng đến
các chồi bên và mô phân sinh đỉnh [4].
4
1.2.1.2. Vô trùng trong nuôi cấy
Môi trường nuôi cấy mô thực vật có chứa đường, muối khoáng và vitamin, thích
hợp cho các loài nấm, vi khuẩn phát triển. Do tốc độ phân chia tế bào của nấm và vi
khuẩn lớn hơn rất nhiều so với tế bào thực vật. Nếu môi trường nuôi cấy bị nhiễm vài
bào tử nấm hoặc vi khuẩn thì sau vài ngày đến một tuần toàn bộ bề mặt môi trường
nuôi cấy và mẫu cấy sẽ phủ đầy nấm, khuẩn, thí nghiệm phải loại bỏ vì trong điều kiện
này mô cấy không thể phát triển và chết dần. Khác với thí nghiệm vi sinh có thể kết
thúc trong vài ngày, mức độ vô trùng trong thí nghiệm nuôi cấy mô thực vật đòi hỏi rất
cao mới có hi vọng thành công. Để đảm bảo điều kiện vô trùng trong quá trình nuôi
cấy đòi hỏi chúng ta phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Vô trùng mô cấy.
- Vô trùng dụng cụ thủy tinh, môi trường và nút đậy.
- Trong thao tác nuôi cấy cần phải tránh làm rơi nấm, khuẩn lên bề mặt môi
trường nuôi cấy.
Mô cấy có thể là các bộ phận khác nhau của thực vật, tùy theo sự tiếp xúc với
môi trường bên ngoài mà các bộ phận này chứa nhiều hay ít vi khuẩn, nấm. Phương
pháp vô trùng mẫu cấy phổ biến hiện nay là dùng các chất hóa học có hoạt tính diệt
Nước Brom
1-2%
2-10
Tốt
0,1-1%
2-10
Trung bình
Chất kháng sinh
4-50mg/l
30-60
Khá tốt
H2O2
10-12%
5-15
Tốt
Nguồn cacbon giúp mô, tế bào thực vật tổng hợp nên chất hữu cơ giúp tế bào
phân chia, nguồn cacbon bổ sung vào môi trường ở dạng đường [8].
Đường là một phần rất quan trọng của môi trường dinh dưỡng, như là nguồn
năng lượng. Vì hầu hết thực vật nuôi cấy mô không thể quang hợp hiệu quả do sự phát
triển tế bào và mô kém, thiếu chất diệp dục, hạn chế trao đổi khí và CO2 trong bình
nuôi cấy. Do đó khả năng tự dưỡng kém, phải cần có nguồn cacbon bên ngoài để tạo
năng lượng, nguồn cacbon thích hợp nhất là sucrose ở nồng độ 20 – 60 g/l. Trong khi
hấp khử trùng môi trường, sucrose bị thủy phân thành glucose và fructose, được sử
6
dụng cho sự tăng trưởng của thực vật nuôi cấy mô, fructose nếu hấp môi trường sẽ gây
độc hại cho cây [8], [17].
- Các chất hữu cơ:
+ Vitamin
Là những chất hữu cơ cần thiết cho quá trình trao đổi chất, là thành phần của các
enzim, do đó, muốn cây phát triển tốt thì môi trường nuôi cấy cần bổ sung các vitamin.
Thiamine (B1), acid nicotinic (B3), pyridoxine (B6), acid pantothenic (B5) là các
vitamin thường được sử dụng. Trong đó B1 bổ sung vào môi trường để tham gia vào
quá trình chuyển hóa carbohydrate [5], [17].
+ Axit amin
Bổ sung axit amin vào môi trường nuôi cấy là rất quan trọng, để kích thích tăng
trưởng trong tế bào, cũng như kích thích và duy trì các phôi soma. Lglutamine, Lasparagine, L-cystein, L-glycine là các axit amin thường được sử dụng để bổ sung vào
môi trường nuôi cấy ở dạng hỗn hợp, nếu riêng lẻ thì sẽ ức chế sự tăng trưởng của tế
bào [5].
+ Chất hữu cơ phức tạp
Là nhóm các chất hữu cơ bổ sung có thành phần không xác định như protein
hydrolysate, nước dừa, dịch nấm men, nước cam, nước ép cà chua, casein thủy phân,
casein thủy phân đã đem lại hiệu quả đáng kể trong nuôi cấy mô, chiết xuất khoai tây
cũng đã đem lại hiệu quả trong nuôi cấy bao phấn [3]. Công bố đầu tiên về việc sử
lỏng. Bốn chất điều hòa sinh trưởng chính được sử dụng là: auxin, cytokinin, giberelin
và axit abscissic, các chất này được bổ sung trong môi trường nuôi cấy. Tuy nhiên, yêu
cầu các chất này thay đổi theo từng loài thực vật, loại mô, hàm lượng các chất điều hòa
sinh trưởng nội sinh trong cây.
+ Auxin: phân chia tế bào, kéo dài tế bào, hình thành rễ, phát sinh phôi soma.
Khi được sử dụng ở nồng độ thấp, auxin kích thích tạo rễ, ở nồng độ cao sẽ hình
thành mô sẹo. Các auxin thường được sử dụng trong nuôi cấy mô là: 1naphthaleneacetic acid (NAA), 2,4 dichlorophenoxyacetic acid (2,4-D), indole-3
acetic acid (IAA), indolebutyric acid (IBA). Auxin tự nhiên được tìm thấy nhiều ở
thực vật là indol axetic axit (IAA). IAA có tác dụng kích thích sinh trưởng kéo dài
tế bào và điều khiển sự hình thành rễ. Ngoài IAA, còn có các dẫn xuất của nó là
naphtyl axetic axit (NAA) và 2,4 - diclophenoxy axit (2,4 D). Các chất này cũng
đóng vai trò quan trọng trong sự phân chia của mô và trong quá trình hình thành rễ.
NAA được Went và Thimann (1937) phát hiện. Chất này có tác dụng tăng hô hấp
của tế bào và mô nuôi cấy, tăng hoạt tính enzim và ảnh hưởng mạnh đến trao đổi
chất của nitơ, tăng khả năng tiếp nhận và sử dụng đường trong môi trường. NAA là
auxin nhân tạo, có hoạt tính mạnh hơn auxin tự nhiên IAA, NAA có vai trò quan
trọng đối với phân chia tế bào và tạo rễ [5].
8
+ Cytokinin: kích thích tổng hợp ADN, thúc đẩy sự phân chia tế bào, kích thích
sự tăng trưởng của chồi, liên quan đến sự thay đổi ưu thế ngọn và phân hóa chồi trong
nuôi cấy mô, các cytokinin thường được sử dụng là: Zeatin, 6- benzylaminopurine
(BAP), kinetin, 2-iP. Khi sử dụng ở nồng độ cao, các chất này kích thích sự hình thành
chồi và ức chế tạo rễ [8]. Kinetin được Skoog phát hiện ngẫu nhiên trong chiết xuất
axit nucleic. Kinetin thực chất là một dẫn xuất của bazơ nitơ adenine. BAP là
cytokinin tổng hợp nhân tạo nhưng có hoạt tính mạnh hơn kinetin. Kinetin và BAP
cùng có tác dụng kích thích phân chia tế bào kéo dài thời gian hoạt động của tế bào
phân sinh và làm hạn chế sự hoá già của tế bào. Ngoài ra các chất này có tác dụng lên
quá trình trao đổi chất, quá trình tổng hợp ADN, tổng hợp protein và làm tăng cường
đông đặc của agar. Ngoài ra sự ổn định pH trong môi trường sẽ giúp duy trì trao đổi
chất trong tế bào. pH tối ưu cho môi trường nuôi cấy là 5,8 trước khi khử trùng. Giá trị
pH thấp hơn 4,5 hoặc cao hơn 7 sẽ ức chế sự tăng trưởng và phát triển của cây. pH của
môi trường nuôi cấy thường giảm 0,3 – 0,5 sau khi hấp khử trùng và luôn thay đổi qua
các giai đoạn của quá trình nuôi cấy [17].
1.2.1.4. Điều kiện nuôi cấy
Để tăng hiệu quả của kỹ thuật nuôi cấy in vitro, ngoài thành phần môi trường thì
điều kiện nuôi cấy như ánh sáng, nhiệt độ, cũng phải được tối ưu hóa.
- Ánh sáng: Chất lượng ánh sáng (chất lượng quang phổ), số lượng (photon
thông lượng) và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển và phát
sinh hình thái của các mô nuôi cấy. Nhìn chung, đèn huỳnh quang là nguồn ánh sáng
chính cho việc duy trì nuôi cấy mô [10].
- Nhiệt độ: Là nhân tố có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân chia tế bào và các quá
trình trao đổi chất của mô nuôi cấy, đồng thời nó có ảnh hưởng tới sự hoạt động của
auxin, do đó làm ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của cây con được nuôi cấy [10].
1.2.2. Các giai đoạn nhân giống in vitro
Theo Trần Thị Dung (2003), sự thành công của việc nhân giống in vitro chỉ đạt
được khi trải qua các giai đoạn [13]:
1.2.2.1. Giai đoạn 1: Khử trùng mô nuôi cấy
Đây là giai đoạn tối quan trọng quyết định toàn bộ quá trình nhân giống in vitro.
Mục đích của giai đoạn này là phải tạo ra được nguyên liệu vô trùng để đưa vào nuôi
cấy in vitro.
Vô trùng mô cấy là một thao tác khó, ít khi thành công ngay lần đầu tiên. Tuy
vậy, nếu kiên trì tìm được nồng độ và thời gian vô trùng thích hợp thì sau vài lần thử
chắc chắn sẽ đạt kết quả.
1.2.2.2. Giai đoạn 2: Tái sinh mẫu nuôi cấy mô
Mục đích của các giai đoạn này là sự tái sinh một cách định hướng các mô nuôi
cấy. Quá trình này được điều khiển chủ yếu dựa vào tỷ lệ của các hợp chất auxin,
10
MS bổ sung 0,2mg/l BAP. Cảm ứng tái sinh cụm chồi đạt hiệu quả cao nhất trên môi
trường MS bổ sung 1mg/l BAP, 0.3mg/l Kin và 0.2mg/l NAA. Tỷ lệ ra rễ đạ 100%
trên môi trường MS bổ sung 0.2mg/l IBA, 0.1mg/l NAA và 20g/l sucrose sau 4 tuần
nuôi cấy [1].
11
- Năm 2013, Priyanka và cs đã nghiên cứu nhân giống in vitro loài dược liệu
Psoralea Corylifolia. Nguyên liệu được dùng nuôi cấy là thân cây, các mắt thân cây
được cắt ngắn cấy vào môi trường nhân chồi, được khảo sát trên ba loại môi trường: MS
bổ sung thêm BAP (12 μM), MS + NAA (10,0 μM) và MS + Kinetin (15,0 μM) kết quả
thu được trên môi trường cơ bản MS + BAP 12 μM là tốt nhất cho nhân nhanh chồi với
số chồi cao nhất (6,12 chồi/mẫu cấy). Trong vòng hai tuần nuôi cấy trên môi trường MS
bổ sung 2,5 μM IBA tạo rễ in vitro chồi có chiều dài trung bình 7,11cm [39].
- Nghiên cứu được tiến hành nhằm xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây
dâu tây SmiA từ vật liệu ban đầu là chồi nảy mầm từ hạt của Nông Thị Huệ (2018). Hệ
số nhân chồi đạt cao nhất (7,8 chồi/mẫu) sau 5 tuần nuôi cấy trên môi trường MS bổ
sung 0,4 mg/l BA. Môi trường thích hợp để tạo rễ cho chồi in vitro là môi trường bán
lỏng MS bổ sung 0,25 mg/ α-NAA, tỷ lệ chồi tạo rễ đạt 93,33%, số rễ trung bình đạt
12,36 rễ/chồi, chiều dài rễ trung bình đạt 1,49 cm sau 4 tuần nuôi cấy. Trên giá thể đất
phù sa, tỷ lệ cây sống cao, sinh trưởng tốt. Chế độ bón phân NPK kết hợp Atonik thích
hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của cây dâu tây SmiA in vitro với chiều cao
cây trung bình đạt 19,13 cm sau 1 tháng chăm sóc. Hoa nở sau 20 - 25 ngày hình thành
nụ và quả chín sau 30 - 35 ngày [10].
- Sedlák (2008) cũng đã nghiên cứu tối ưu hóa môi trường nuôi cấy hai giống
cherry Karešova và Rivan. Theo đó, tốc độ tăng sinh cao nhất 3,0 chồi/mẫu là thu
được cho Rivan trên môi trường MS chứa 2 mg/l BAP. Trong trường hợp trồng
Karešova, bất kỳ cytokinin nào được thử nghiệm đã không thúc đẩy sự gia tăng thỏa
đáng. Tốc độ tăng sinh cao nhất 1,6 chồi/mẫu đạt được trên môi trường MS với 2 mg/l
2iP không đủ cho quy mô sản xuất trong ống nghiệm lớn hơn [41].
- Cây Phúc bồn tử thuộc loại cây rễ chùm sống thành từng bụi có khoảng 20-30
cây con. Mỗi cây con này khi trưởng thành, cho quả sẽ tiếp tục sinh sản ra nhiều cây
con tiếp theo [31].
- Thân cây có đường kính 0,5-1,5 cm, có nhiều lông và gai mềm, màu sắc của
lông mang đặc trưng của từng loài. Khi cây còn nhỏ thân cây có màu xanh khi cây già
thân cây chuyển sang màu nâu. Khi cắt ngang thân cây già thân nhìn tương tự cây hoa
hồng, trong cùng là một lõi xốp, phần sát biểu bì nhu mô vỏ đã hóa gỗ [31], [43].
- Lá Phúc bồn tử là loại lá đơn có lông ở mặt trên, gốc phiến hình tim, phiến chia
5 thùy hình chân vịt. Cuống lá tròn nối liền phần thân với phiến lá. Viền quanh lá có
hình răng cưa [42].
- Hoa Phúc bồn tử mọc thành cụm, cụm hoa hình chụm hay hình đầu có 5 cánh
trắng, đường kính khoảng 4-5 mm và có 5 đài hoa, mỗi hoa có 60-100 bầu nhụy và 6090 nhị đực. Sự thụ phấn của cây Phúc bồn tử phụ thuộc vào côn trùng, thông thường
do lòai ong thụ phấn. Phấn hoa đã thành thục trước khi bao phấn nở và không
13
phát tán ra ngòai trước khi hoa nở. Hạt phấn có thể sống được 2 đến 3 ngày và núm
nhụy có thể tiếp nhận phấn hoa hiệu quả trong vòng 8-10 ngày. Thường ra hoa vào đầu
hè và có thể ra hoa 1-2 lần trong năm [43], [45].
- Quả thuộc lọai quả hạch có chứa nhiều khóang chất, vitamin..., được dùng ăn
tươi, dùng làm nguyên liệu chế biến dạng sấy khô, sirô, các lọai rượu vang...[24]
Trong tự nhiên, phúc bồn tử thích nghi với loại đất pha cát hoặc đất sét mùn.
Không nên trồng Phúc bồn tử trên các vùng đất đã canh tác các cây họ cà trên 5 năm
(hồ tiêu, cà chua, khoai tây…) vì cây phúc bồn tử cũng dễ bị nhiễm một số bệnh nấm
mốc như cây họ cà [23], [45].
Thời gian trồng trọt và thu hoạch cây phúc bồn tử kéo dài từ 9 tháng đến 3 năm
tùy thuộc vào điều kiện và môi trường canh tác [34].
Hiện nay, việc nhân giống cây phúc bồn tử chủ yếu dùng phương pháp gieo
hạt và nhân cấy từ ngó, nhân giống in vitro. Việc nhân giống được thực hiện ở
vườn ươm cho đến khi cây cao khoảng 15 cm thì đem ra trồng với khoảng cách cây
thì 36% người lớn sau 50 tuổi thường bị chứng thoái hoá điểm vàng mà nguyên nhân
chính là ăn không đủ lượng trái cây cần thiết mỗi ngày. Nghiên cứu đánh giá trên
110.00 phụ nữ và nam giới cho thấy một nhóm cần phải ăn ba khẩu phần gồm rau củ
và trái cây mỗi ngày mới đủ chất bảo vệ thị lực, và một nhóm chỉ cần ăn một muỗng
bột phúc bồn tử thì đã đầy đủ các carotenoid, vitamin A, C, E và các khoáng tố vi
lượng như Cu, Zn, là những thành phần giúp loại trừ các gốc tự do gây hại cho võng
mạc [37].
Chống rối loạn cương dương, chữa liệt dương: các nhà nghiên cứu ở Mỹ chứng
minh rằng phúc bồn tử giúp cải thiện vi tuần hoàn ở dương vật, giúp thần kinh hưng
phấn làm dương vật mềm yếu sẽ cương trở lại. Y học cổ truyền cũng sử dụng thảo
dược này để làm thuốc bổ can minh mục, ích thận trợ dương, bổ huyết, chữa liệt
dương di tinh, xuất tinh sớm, mắt mờ, phụ nữ kinh nguyệt không đều, thận suy, tiểu
tiện nhiều [37].
Giúp đẹp da, đen tóc: vitamin E, carotenoid và các chất flavonoid trong phúc bồn
tử có tác dụng giải dị ứng, tiêu viêm, thải độc, bảo vệ da chống lại các tia cực tím làm
giảm các vết thâm nám trên da, giúp da đàn hồi, tăng cường tuần hoàn ở các mao mạch
ngoại vi, thúc đẩy sự tái tạo các tế bào collagen mới giúp da sáng đẹp. Các hoạt chất
này còn ngăn cản sự rụng tóc, chậm bạc tóc [25].
Cải thiện tuần hoàn não, chống rối loạn tiền mãn kinh: nghiên cứu của một số
nhà khoa học Mỹ còn cho thấy chất chống ôxy hoá trong phúc bồn tử có tác dụng
phòng ngừa các gốc tự do gây tổn hại đến não, đồng thời tăng lưu lượng máu và ôxy
đến não, từ đó nâng cao khả năng phán đoán, tăng trí nhớ, sức sáng tạo. Đối với phụ
nữ trong giai đoạn mãn kinh hoặc rối loạn tiền mãn kinh, nó giúp giảm stress, giảm
15