VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI MỸ LINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆP
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9 38 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LƯƠNG THANH CƯỜNG
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các tư liệu, số liệu được sử dụng trong luận án này là trung thực và có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Bùi Mỹ Linh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay.......................................................................... 74
3.2. Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công
nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc................................................................................ 87
3.3. Thực trạng chủ thể, nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với nguồn
nhân lực công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc......................................................... 96
3.4. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế trong quản lý nhà
nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc.......................113
Kết luận Chương 3....................................................................................... 120
Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN
TỈNH VĨNH PHÚC.....................................................................................121
4.1. Định hướng chung bảo đảm quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công
nghiệp.......................................................................................................... 121
4.2. Một số giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công
nghiệp từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.............................................................. 123
4.3. Một số kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp từ
thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.............................................................................. 146
KẾT LUẬN..................................................................................................149
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN.................................151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................152
PHỤ LỤC.................................................................................................................................................. 1
THCS
THPT
UBND
XHCN
DANH MỤC CÁC BIỂU
TT
Biểu 3.1.
Biểu 3.2.
Biểu 3.3.
Biểu 3.4.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt
Nam, chủ trương của Đảng đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước
công nghiệp” [35, tr.24]. Để CNH, HĐH đất nước yếu tố con người luôn được
coi trọng là trung tâm và quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định
“Đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự
phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH”. Vì vậy các địa phương trong cả nước
đồng thời với việc đẩy mạnh thu hút một lượng lớn vốn đầu tư (nhất là vốn
đầu tư nước ngoài – FDI) luôn quan tâm, đẩy mạnh phát triển NNL với số
lượng và chất lượng đáp ứng cho yêu cầu CNH, HĐH của địa phương.
Luật Hành chính tại Học viện Khoa học xã hội.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm luận giải cơ sở lý luận dưới góc
độ của khoa học luật về QLNN đối với NNLCN, đánh giá thực trạng QLNN
đối với ở tỉnh Vĩnh Phúc để đề xuất các giải pháp bảo đảm QLNN đối với
NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới. Từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc tác
giả sẽ khái quát bài học kinh nghiệm QLNN đối với NNLCN cho các địa
phương trên phạm vi cả nước có điều kiện tương đồng với tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Một là, thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu về QLNN đối với
NNLCN, cụ thể là tổng hợp và đánh giá các công trình khoa học đã được
công bố, có nội dung đề cập đến vấn đề QLNN đối với NNLCN. Thực hiện
2
nhiệm vụ này, giúp tác giả luận án có được cái nhìn tổng quan, đa diện, đa
chiều về vấn đề nghiên cứu, kế thừa và phát triển tri thức đã được công bố
về vấn đề QLNN đối với NNLCN và xây dựng lên những vấn đề mới về
mặt lý luận, giải đáp những vấn đề còn đang đặt ra dưới góc độ thực tiễn.
Hai là, tìm hiểu, xây dựng và phân tích những vấn đề lý luận về QLNN đối
với NNLCN như: khái niệm NNLCN, QLNN đối với NNLCN; những yếu tố ảnh
hưởng đến QLNN đối với NNLCN; mục tiêu, nội dung, phương thức QLNN đối
với NNLCN; điều chỉnh của pháp luật về QLNN đối với NNLCN ….
Ba là, tìm hiểu phân tích và đánh giá: các quy định của pháp luật Việt
Nam điều chỉnh về QLNN đối với NNLCN ở địa phương; Điều kiện tự
về chủ thể và nội dung QLNN đối với NNLCN xác định trên 02 nhóm bộ
phận dân cư tại địa phương, gồm: (i) Nhóm học sinh, sinh viên, người đang
theo học tại các cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và (ii) người lao động
làm việc tại các doanh nghiệp công nghiệp trong các KCN.
Hai là, phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: Luận án giới hạn
nghiên cứu thực tiễn QLNN đối với NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm
1997 đến năm 2017.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận
án * Về phương pháp luận
Đề tài luận án có cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Hệ tư tưởng lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà
nước về NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI, XII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Luận án được nghiên cứu theo cách tiếp cận theo chức năng quản lý
nhà nước: bao gồm chức năng xây dựng chính sách (chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch liên quan đến phát triển NNL); chức năng dự báo; chức năng tổ
chức, điều hành nhằm tác động, tổ chức, điều chỉnh quá trình quản lý và
phát triển nguồn nhân lực công nghiệp.
4
* Về phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ và mục đích của đề tài, luận án
sử dụng hợp lý và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu, gồm: Phương
pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp;
phương pháp hệ thống; Phương pháp điều tra, khảo sát; phương pháp trao
đổi, toạ đàm và phỏng vấn chuyên gia ... Cụ thể:
5
điểm, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong QLNN đối
với NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc.
(3)
Phương pháp phân tích - dự báo khoa học và phương pháp tiếp cận
hệ thống đa ngành và liên ngành luật học được áp dụng ở chương 4 của
luận án nhằm định hướng và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc.
* Về hướng tiếp cận của luận án
-
Hướng tiếp cận mang tính lịch sử, hệ thống: Trên cơ sở tập hợp, hệ
thống các công trình nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan đến
đề tài của luận án mà tác giả thu thập được, luận án sẽ kế thừa có chọn lọc
các kết quả nghiên cứu trên cơ sở phân tích, đánh giá các kết quả nghiên
cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể để xác định vấn đề nghiên cứu và định
hướng tiếp tục nghiên cứu của luận án.
-
Hướng tiếp cận mang tính liên ngành: Trên cơ sở vận dụng kiến thức
và hiểu biết của NCS về các ngành khoa học xã hội và nhân văn như quản
lý học, chính trị học, luật học, khoa học lịch sử để xây dựng cơ sở lý luận
cho các vấn đề nghiên cứu.
- Hướng tiếp cận mang tính dự báo: Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn
các nhóm giải pháp là: (i) Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện pháp
luật điều chỉnh về quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp;
(ii) Nhóm giải pháp hoàn thiện và phát huy lợi thế của các yếu tố ảnh
hưởng tới quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp; (iii)
Nhóm giải pháp về chủ thể, nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối
với nguồn nhân lực công nghiệpl; (iv) Nhóm các giải pháp khác.
Năm là, từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, luận án đã khái quát những bài
học kinh nghiệm trong QLNN đối với NNLCN có giá trị tham khảo cho
các địa phương có cùng điều kiện với tỉnh Vĩnh Phúc.
7
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có tính hệ thống
về QLNN đối với NNLCN. Luận án đã bổ sung và phát triển về mặt lý thuyết
những vấn đề lý luận về QLNN đối với NNLCN. Sự đóng góp này tạo cơ sở
khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật
QLNN về NNLCN. Đồng thời, những luận cứ dựa trên sự phân tích, đánh giá
của luận án còn là cơ sở đáng tin cậy để đối chiếu và điều chỉnh thực tiễn thực
hiện pháp luật về QLNN đối với NNLCN từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.
Luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình
giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên ngành luật học, lao động xã hội,
quản lý công, chính sách công …. Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo
hữu ích, cung cấp những tri thức khoa học, thiết thực, các số liệu cụ thể cho
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến QLNN đối với NNLCN.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận án gồm 4 chương.
tắc chung trong quản lý công việc và người lao động; (3) Quản lý nguồn
nhân lực và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bài viết “Hội nhập kinh tế đem lại lợi ích gì cho Việt Nam và ASEAN”
của ông Yoshiteru Uramoto, Giám đốc ILO khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương. Ông cho rằng, để đón được cơ hội của hội nhập quốc tế mang lại, Việt
Nam có bốn vấn đề trọng tâm phải giải quyết: (i) Ưu tiên thực hiện các biện
pháp nâng cao năng suất lao động và chất lượng việc làm trong ngành nông
nghiệp và đa dạng hóa công việc trong các ngành chế tạo mới. (ii) Cần
9
mở rộng độ bao phủ phúc lợi xã hội, trong đó có cơ chế bảo hiểm thất nghiệp
trên toàn quốc. (iii) Cần củng cố hệ thống đào tạo phát triển kỹ năng, tập trung
cải thiện giáo dục trung học và đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng đối với lao động có kỹ năng. (iv) Cần cải thiện công tác bảo vệ nhóm lao
động di cư và các hệ thống phục vụ việc công nhận kỹ năng của họ.
Bài viết “Hướng tới một mô hình quản trị nhân lực kiểu Châu Âu”, Tạp
chí nghiên cứu Kinh doanh quốc tế, ấn bản số 26, xuất bản Quý 1, 1995 của
tác giả Chris Brewster, Quản trị nguồn nhân lực Châu âu, Trường Đại học
quản lý, Đại học Cranfield, Vương quốc Anh. Bài viết đã đưa ra, so sánh các
khái niệm khác nhau về Quản lý nguồn nhân lực của các nhà nghiên cứu khác
nhau; đánh giá tác động của văn hóa và pháp lý đến quản lý nguồn nhân lực.
Bài viết “Giáo dục và dạy nghề ngày nay: thách thức và sự trả lời” của
tác giả George Psacharopoulos (The world Bank, Washington, USA), (TS.
Hoàng Ngọc Vinh đã dịch ra tiếng Việt Nam). Bài viết đã phân tích vai trò
và sự tác động của giáo dục dạy nghề đối với sự phát triển của xã hội. Bài
viết cũng luận giải và cho rằng các quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến
muốn dùng vốn khai thác lao động giá rẻ ở các quốc gia kém phát triển và
cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở và đào tạo nghề cần phải dựa trên
Chiến lược Phát triển nguồn nhân lực 2011-2020 Chiến lược phát triển giáo
dục 2011-2020, Chiến lược phát triển đào tạo nghề 2011-2020, Chương trình
đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, và Luật Dạy nghề.
Bài tham luận “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Chính phủ
Trung Quốc” của tác giả Xiao Mingzheng -Trường Đại học Bắc Kinh trình
bày tại Hội thảo “Cải cách hành chính dành cho các nước châu Á” do Bộ
Thương mại Trung Quốc tổ chức từ ngày 03/4 – 22/4/2008 (được tác giả
Nguyễn Diệu Tú - Viện Nghiên cứu hành chính, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh dịch và biên tập) đưa ra những phân tích và nhận
định, đánh giá về Chiến lược của Chính phủ Trung Quốc trong phát triển
nguồn nhân lực: (1). Thay đổi quan niệm và hiện thực hoá khái niệm nguồn
11
nhân lực là nguồn lực hàng đầu; (2). Tiếp tục chiến lược “Khoa học và Giáo
dục tiếp sức cho Trung Quốc”, “Giáo dục kiến lập Trung Quốc” và xây dựng
một xã hội học tập; (3). Mở rộng đầu tư và làm theo nhiều biện pháp để phát
triển nguồn nhân lực; (4). Cải thiện cơ cấu thông qua phát triển nguồn nhân
lực; (5). Cải tiến những hệ thống bất hợp lý, hoàn thiện hệ thống thị trường
lao động, tạo ra một môi trường phát triển và sử dụng nguồn nhân lực tốt hơn;
(6). Thành lập tổ chức phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sự ủng hộ và
bảo đảm của chính phủ trong phát triển nguồn nhân lực.
Báo cáo SCANS ở Mỹ (Secretery’s Commission for Achieving
Necessary Skill’s, United States Department ò Labor, 1991) đánh giá tầm
quan trọng của kỹ năng cốt lõi hơn là kỹ năng chuyên sâu. Năng lực của
những người tham gia thị trường lao động được báo cáo nêu ra (theo thứ tự
ưu tiên), gồm: (i) Khả năng để phân bổ thời gian, phát triển và lựa chọn các
nhà nước vào các quan hệ xã hội trong đó có lĩnh vực NNL và NNLCN,
bao gồm: (i) nghiên cứu về QLNN; (ii) nghiên cứu về NNL và NNLCN;
(iii) nghiên cứu về lý luận và thực tiễn QLNN đối với NNLCN.
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước
Các nghiên cứu đã làm rõ được những nội dung cơ bản như: cơ sở lý
luận của quản lý xã hội của nhà nước; nội dung, phương thức QLNN... Trước
tiên có thể liệt kê ra một số nghiên cứu có tính chất cơ sở. Đó là tài liệu, công
trình nghiên cứu của các đơn vị nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về quản lý,
quản lý hành chính, nhà nước và pháp luật, như: Khoa Luật (Đại học quốc gia
Hà Nội), Khoa Khoa học quản lý (Trường Đại học Kinh tế quốc dân), Trường
Đại học Luật Hà Nội, Viện Nhà nước – Pháp luật (Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh), Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam)… Giáo trình “Quản lý xã hội” của Trường Đại học Kinh tế
quốc dân (Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội 2005) trình bày chi tiết
nhiều vấn đề: xã hội và quản lý xã hội; chủ thể quản lý xã hội; thiết chế và
13
vấn đề nhà nước cần quan tâm trong quản lý xã hội; biến đổi xã hội; nguyên
tắc, phương pháp và hình thức quản lý xã hội của nhà nước; phương pháp và
kỹ thuật trong quản lý xã hội… Giáo trình “Quản lý nhà nước” của Học viện
Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội 2007), giáo trình “Luật hành chính Việt Nam” của Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2010),
Giáo trình “Luật hành chính Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội
(Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội 2005)… đã trình bày cơ sở lý luận
và thực tiễn của QLNN; Các nghiên cứu ở cấp “giáo trình” chỉ có tính tham
khảo cho những nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo. [102].
Đặc biệt là, có một số nghiên cứu có tính chuyên sâu về cơ sở lý luận và
đề QLNN về lao động trong các doanh nghiệp nhà nước chỉ là nội dung thứ
yếu, chưa được đề cập nhiều trong luận án này.[102].
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân
lực công nghiệp
Đề tài V10-05-20 “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực công nghiệp
Khánh Hòa giai đoạn 2010-2020” do PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc chỉ đạo
chung. Đề tài đã phân tích cơ sở lý luận về phát triển NNL phục vụ CNH,
HĐH; Đánh giá thực trạng phát triển khu vực công nghiệp và chất lượng
NNLCN tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2004-2009. Đề tài nêu rõ quan điểm phát
triển ngành công nghiệp tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2010-2020: “Phát triển
nguồn nhân lực công nghiệp gắn kết chặt chẽ với quá trình đổi mới giáo dục
và đào tạo, đặc biệt là đổi mới đào tạo nghề và đào tạo đại học”. Đồng thời đề
tài khuyến nghị bốn nhóm giải pháp, biện pháp và chính sách nhằm phát triển
nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp tỉnh Khánh Hoà giai
đoạn 2010-2020, gồm: (1) Nhóm giải pháp liên quan đến cơ chế, chính sách
và chương trình phát triển kinh tế công nghiệp. (2) Nhóm giải pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp. (3) Nhóm giải pháp tạo
15
nguồn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp; (4) Hoàn thiện
hệ thống kết nối cung-cầu lao động.[77].
Đề tài KX.05- 09: “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng để
phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”: Đề
tài đã nghiên cứu, làm rõ: (i) Cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục phổ thông
và hướng nghiệp để luận chứng cho các giải pháp làm cho giáo dục phổ thông
chuẩn bị tốt nhất cho việc đào tạo nguồn nhân lực; (ii) Xác định các biện pháp
khả thi nhằm làm cho giáo dục phổ thông chuẩn bị tốt nhất cho việc đào tạo
đội ngũ nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều
nâng cao chất lượng và những yêu cầu thực tế của việc nâng cao chất lượng
NNL trước nhu cầu CNH-HĐH. [96]
Bài viết “Giáo dục-đào tạo với phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc
và những gợi mở cho Việt Nam”, GS.TS. Chu Văn Cấp và Ths. Trần Ngọc
Tình, Tạp Chí phát triển và Hội nhập số 17 (27) (Tháng 07-08/2014). Nhóm
tác giải đã nhận định về yêu cầu của CNH đối với NNL là: (1) Phải đảm bảo
đủ số lượng. Để có đủ số lượng cho nguồn công nghiệp hiện đại phải tăng
cường đào tạo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao; đội
ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, công nhân trí thức, các loại lao động trí tuệ…;
(2) Phải có chất lượng cao, tức là phải có tri thức, kiến thức chuyên môn kỹ
thuật, kinh tế … và có năng lực hoạt động tốt, có sự nhạy bén, thích nghi
nhanh, làm chủ khoa học và công nghệ và có năng lực hội nhập … phải có sức
khỏe sung mãn, hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần, có sự dẻo dai của hệ
thần kinh, niềm tin và ý chí, có khả năng thích ứng với những điều kiện khó
khăn về cuộc sống; (3) Phải có cơ cấu NNL hợp lý về độ tuổi, giới tính, trình
độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ đào tạo … giữa các ngành, các vùng, các
khu vực trong nền kinh tế quốc dân. Các tác giả bài viết cũng gợi mở những
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: (i) Phát triển NNL có tri thức thông quan
phát triển giáo dục đào tạo và khoa học – công nghệ; (ii) Nghiên
17
cứu và thực hiện theo mô hình vòng tròn tương tác: Tư duy chiến lược của
lãnh đạo – giáo dục, phát triển NNL – khoa học và công nghệ - công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; (iii) Đẩy mạnh cải cách hệ thống giáo dục quốc dân ở tất
cả các cấp học một cách thường xuyên và phù hợp với yêu cầu phát triển
của nền kinh tế; (iv) giáo dục và đào tạo nghề đáp ứng cho sự phát triển
công nghiệp hiện đại và gắn với như cầu của người sử dụng lao động; (v)
Thu hút nhân tài và hạn chế chảy máu chất xám. [9]