HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH HOI AN
CƠ CHế PHáP Lý KIểM SOáT QUYềN LựC
NHà NƯớC ĐốI VớI VIệC THựC HIệN QUYềN
HàNH PHáP ở VIệT NAM
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: Lí LUN V LCH S NH NC V PHP LUT
H NI - 2019
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH HOI AN
CƠ CHế PHáP Lý KIểM SOáT QUYềN LựC
NHà NƯớC ĐốI VớI VIệC THựC HIệN QUYềN
HàNH PHáP ở VIệT NAM
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: Lí LUN V LCH S NH NC V PHP LUT
Mó s: 62 38 01 01
Ngi hng dn khoa hc: GS,TS TRN NGC NG
H NI - 2019
khảo cho Việt Nam
Chương 3: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CƠ
CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM
3.1. Sự hình thành và phát triển cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà
nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam
3.2. Thực trạng cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc
thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay
3.3. Thực trạng vận hành cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối
với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH
PHÁP Ở VIỆT NAM
4.1. Quan điểm và những yêu cầu đặt ra đối với việc tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc
thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam
4.2. Các giải pháp tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở nước ta
hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang
1
8
8
HĐBT
:
Hội đồng Bộ trưởng
HP
:
Hiến pháp
KSQL
:
Kiểm soát quyền lực
MTTQ
:
Mặt trận Tổ quốc
NNPQ
:
Nhà nước pháp quyền
TCN
:
Trước công nguyên
UBTVQH
:
Ủy ban thường vụ Quốc hội
VKSND
:
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền lực nhà nước được sinh ra để giữ gìn trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội
cung ứng dịch vụ công... Gắn với chức năng này là các quyền năng rất lớn, nếu
không được kiểm soát hiệu quả, đây là nguyên nhân căn bản của tệ tham nhũng,
quan liêu, cửa quyền, hách dịch trong hoạt động của cơ quan hành pháp mà xã hội
luôn phải đối mặt. Hoạt động hiệu quả của bộ máy hành pháp mới đem lại tính hiệu
lực, hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước, qua đó thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội; ngược lại sự trì trệ, yếu kém, lạm dụng quyền lực trong hoạt động
của bộ máy hành pháp sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quyền hành pháp có khả năng phản ánh một cách chính xác nhất những nhu
cầu của xã hội. Quyền hành pháp không là việc thi hành pháp luật mà nó còn bao
gồm cả việc quản lý, điều hành, lãnh đạo các hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Đây là một trong các nhánh quyền lực có sự đụng chạm mạnh
nhất tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các chủ thể khác trong quá trình
thực thi và quản lý. Đây cũng là nhánh quyền lực có bộ máy đồ sộ nhất bao gồm các
cơ quan sức mạnh như quân đội, cảnh sát, chi tiêu ngân sách quốc gia nhiều nhất…
Vì vậy, việc KSQL nhà nước đối với việc thực thi quyền hành pháp là một đòi hỏi
khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ), bảo đảm quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân. Kiểm soát quyền hành pháp là cơ chế chính trị - pháp
lý được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và
nhân dân thực hiện thông qua các phương thức thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm
toán, tài phán, phản biện xã hội,... nhằm bảo đảm quyền hành pháp được thực hiện
liên tục, đúng đắn và đầy đủ theo quy định của HP, pháp luật; phát huy hiệu quả,
hiệu lực trong tổ chức và hoạt động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân.
Thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
(XHCN) chỉ ra rằng tình trạng quyền làm chủ của nhân dân chưa được phát huy đầy
đủ, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, chưa được
đẩy lùi. Trong quá trình thực thi công vụ, do lạm dụng chức vụ, quyền hạn, nhiều cán
bộ, công chức hành pháp đã đưa ra những quyết định sai trái làm ảnh hưởng đến lợi ích
của nhân dân, điều này gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế - xã hội. Hơn
nữa, trong thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ một số cơ quan nhà nước đã hành
động mang tính cường quyền, trái pháp luật, áp đặt nhân dân, vi phạm quyền làm chủ
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc xây dựng cơ chế pháp lý KSQL nhà nước đối với
việc thực hiện quyền hành pháp, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành cơ
chế, vai trò, mục đích, tiêu chí xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền hành
pháp; nội dung và phương thức hoạt động của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền hành pháp;
khảo sát cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành
pháp ở một số nước và rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.
4
- Thông qua việc phân tích các thể chế pháp lý từ năm 1945 đến nay mà
cụ thể là từ Hiến pháp 1946, luận án đã khái quát lịch sử hình thành và phát
triển của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện
quyền hành pháp ở Việt Nam; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các
thiết chế và các yếu tố bảo đảm của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền hành pháp,
đồng thời, chỉ rõ hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó.
- Đề xuất các quan điểm định hướng và các giải pháp để hoàn thiện cơ
chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành
pháp ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng cơ chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam, cũng
như tham chiếu một số kinh nghiệm quốc tế. Từ đó, luận án luận chứng cơ sở
khoa học và đề xuất các quan điểm, giải pháp xây dựng cơ chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu về cơ chế pháp lý KSQL nhà
nước từ năm 1945, trong đó, tập trung nghiên cứu giai đoạn từ khi ban hành
Hiến pháp 2013 đến nay.
- Phạm vi về nội dung: Cơ chế pháp lý KSQL nhà nước đối với việc thực
ngành chính trị học, luật học, xã hội học…về các vấn đề về kiểm soát quyền lực,
cơ chế kiểm soát quyền lực, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam,
các vấn đề lý luận nhà nước và pháp luật, về Hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến…
nhằm đánh giá thực trạng vận hành của cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà
nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp (Chương 3).
+ Phương pháp thống kê được áp dụng để thống kê số liệu, phân tích và
đánh giá thực trạng về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc
thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam (Chương 3).
+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được
từ việc phân tích và dẫn nguồn các tài liệu, hỏi ý kiến chuyên gia. Phương pháp này
được áp dụng để nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đưa ra những đề
xuất của tác giả luận án ở chương 3 về quan điểm, giải pháp hoàn thiện.
+ Phương pháp luật học so sánh được sử dụng để nghiên cứu và so sánh
mô hình, kinh nghiệm của một số nước, từ đó rút ra những giá trị tham khảo
cho Việt Nam (Chương 1).
6
+ Phương pháp quy nạp và diễn dịch để khái quát hóa hoặc cụ thể hóa
nội dung, đối tượng, vấn đề nghiên cứu nhằm đảm bảo tính chính xác, khách
quan đối với việc xây dựng các vấn đề có tính lý luận và thực tiễn của luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án "Cơ chế pháp lý KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền
hành pháp ở Việt Nam" có một số đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, luận án đã xây dựng các yếu tố cơ bản về cơ sở lý luận của cơ
chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành
pháp ở Việt Nam như: khái niệm quyền hành pháp; khái niệm cơ chế pháp lý và
cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành
pháp; đặc điểm, các yếu tố cấu thành cơ chế; mục đích, vai trò, các điều kiện
kiến tạo theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN đang tiến hành ở nước ta.
- Luận án là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo tin cậy, góp phần phục vụ
cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy trong các cơ sở giáo dục và
đào tạo chuyên ngành luật học, xã hội học và chính trị học ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm 4 chương, 12 tiết và các nội dung khác gồm phần mở đầu,
kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến
luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1. Các công trình nghiên cứu dưới góc độ kiểm soát quyền lực nhà nước Bàn về
giới hạn quyền lực, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, các tác
giả đã đưa ra các quan điểm và nhận định: quyền lực công phải bị giới hạn, kiểm
soát và giám sát để nhằm ngăn chặn sự tha hóa quyền lực, ngăn chặn tệ tham
nhũng, lạm quyền trong điều hành. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu tiếp cận
dưới góc độ này có thể kể đến các công trình sau:
Trong sách chuyên khảo: "Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với
việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992" của GS.TS Trần Ngọc Đường [40] đã nghiên cứu
có hệ thống về lý luận tổ chức thực thi quyền lực nhà nước mà trung tâm là phân
công, phối hợp và KSQL nhà nước. Đây là công trình quan trọng, hữu ích giúp
nghiên cứu sinh thực hiện đề tài của mình. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể
các nhánh quyền lực theo chiều dọc và theo chiều ngang cùng với một cơ chế giám
sát, kiểm tra sẽ góp phần để hạn chế quyền lực. Để làm điều này, cần có một số
chính sách cụ thể như: Tổ chức lại cấu trúc quyền lực nhà nước; sự công khai, minh
bạch của chính quyền; hoạt động tự do báo chí; bỏ phiếu trưng cầu ý dân; tòa án
độc lập… Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tác dụng gợi mở đề NCS tiếp
tục nghiên cứu về cơ chế KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp và
trách nhiệm của Nhà nước trong tạo lập cơ chế đó.
Trong công trình nghiên cứu: "Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước"
của tác giả PGS.TS Thái Vĩnh Thắng [106] đã viện dẫn quan điểm của Jean
Jacques Rousseau về KSQL nhà nước và khẳng định tính khoa học của những
nguyên lý này. Tác giả đã phân tích, lý giải cách thức tổ chức và KSQL nhà nước
trong các kiểu nhà nước, mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam và mô hình
nhà nước từ Hiến pháp 1946 đến nay; nghiên cứu về tổ chức và KSQL nhà nước
của Nga và các nước Đông Âu qua các thời kỳ, có sự so sánh, đối chiếu, khảo
nghiệm. Đây là công trình khoa học có chất lượng và ý nghĩa đối với việc rút ra
các nguyên lý, kinh nghiệm về tổ chức và KSQL nhà nước. Tuy vậy, tác giả chưa
đề cập đến vấn đề cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực
hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
Trong luận án tiến sĩ Luật học: "Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức
năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả
Trương Thị Hồng Hà [45] đã phân tích về cơ chế, làm sáng tỏ khái niệm cơ chế
10
pháp lý, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố tạo nên
hệ thống cơ chế pháp lý. Đây là công trình có ý nghĩa tham khảo về mặt lý luận
cho việc hoàn thiện cơ chế KSQL nhà nước bằng thực hiện dân chủ đại diện ở
Việt Nam.Tiếp cận dưới góc độ khoa học chính trị, cũng bàn về chức năng giám
sát của Quốc hội, trong nghiên cứu: "Thực hiện chức năng giám sát quyền lực
Liên quan đến góc độ tiếp cận này, có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu của các tác giả: "Xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của
12
nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức
trong hệ thống chính trị" của Đào Trí Úc [125]; "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế
kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực chính trị, đảm bảo dân chủ và kỷ luật
trong hệ thống chính trị" của Đào Trí Úc [127]; "Nhân dân giám sát các cơ quan
dân cử ở Việt Nam thời kỳ đổi mới" của Đặng Đình Tân [101]; "Các hình thức và
giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt
động của hệ thống chính trị" của Trần Hậu [50]; "Về quyền giám sát tối cao của
Quốc hội" của Phạm Ngọc Kỳ [57]; "Quyền giám sát của Quốc hội - Nội dung và
thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu" của Nguyễn Sĩ Dũng [23]; "Thường thức về
hoạt động giám sát của Quốc hội" của Nguyễn Sĩ Dũng [24]; "Cơ quan lập pháp
và hoạt động giám sát" của Văn phòng Quốc hội [129]; "Chức năng giám sát của
Quốc hội trong nhà nước pháp quyền" của Nguyễn Đăng Dung [20]...
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên, cơ bản đều cho rằng: quyền lực
nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân, thuộc về nhân dân, để quyền lực không bị tha
hóa và vận hành trong giới hạn, khuôn khổ nhân dân giao cho thì quyền lực nhà
nước phải bị kiểm soát. Cơ chế KSQL nhà nước nói chung, cơ chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp nói riêng ở Việt Nam
còn chưa hoàn thiện và thống nhất về mặt nhận thức lý luận cũng như về thể chế;
về cơ chế vận hành và tổ chức thực hiện. Để ngăn ngừa lạm quyền, đi ngược lại với
dân chủ xã hội, đặc biệt đối với việc thực thi quyền hành pháp của bộ máy công
quyền, yêu cầu quan trọng là phải hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực
nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực
qua dưới các góc độ: cơ chế nhân dân KSQL nhà nước, cơ chế kiểm soát QLNN bên
trong tổ chức quyền lực nhà nước, cơ chế KSQL nhà nước độc lập do luật định đồng
thời đưa ra những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện, trong đó nhấn mạnh Hiến
pháp 2013 đã có một bước tiến mới đối với việc phân công và KSQL nhà nước. "Ủy
quyền lập pháp trong cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát việc thực hiện quyền
hành pháp" của Trần Ngọc Đường [43] đã nêu khái niệm ủy quyền lập pháp, phân
tích những mặt tích cực và hạn chế và trên cơ sở đó đề ra những giải pháp khắc
phục hạn chế việc ủy quyền lập pháp ở nước ta. Theo công trình này, ủy quyền lập
pháp là việc QH giao cho CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều,
khoản, điểm trong các đạo luật, bộ luật dưới hình thức Nghị định và ban hành nghị
định để quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của QH, UBTVQH nhưng chưa
đủ điều kiện để xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh và giao cho UBTVQH ban
14
hành pháp lệnh quy định những vấn đề được QH giao. Tuy nhiên, cần phải có
những nghiên cứu đề đảm bảo cho việc ủy quyền lập pháp phù hợp với nguyên tắc
phân công phối hợp và kiểm soát quyền lực. Nghiên cứu: "Cơ chế kiểm soát quyền
lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền" của tác giả Nguyễn Hoàng Anh [3] đã
bàn về khái niệm, các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước gồm kiểm soát
trong và kiểm soát ngoài nhà nước, kiểm soát nhà nước và kiểm soát chính trị và
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước, kiểm soát chung và kiểm soát chuyên biệt.
Trong nghiên cứu: "Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả Tào Thị Quyên [96] đã làm rõ cơ chế bảo vệ
Hiến pháp trong NNPQ XHCN Việt Nam, đó là tổng thể các yếu tố thể chế, thiết chế
và phương thức vận hành bảo vệ Hiến pháp, có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn
nhau, hình thành một hệ thống thực hiện các hoạt động bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm
cho Hiến pháp được tôn trọng, ngăn ngừa và xử lý mọi hành vi vi phạm Hiến pháp.
Tác giả đã đánh giá thực trạng cơ chế bảo hiến và đề xuất các quan điểm, giải pháp
hoàn thiện cơ chế bảo hiến: Tiếp tục củng cố một số điểm hợp lý, bảo đảm tiếp tục
Thanh tra là một chức năng, một bộ phận của quản lý, thanh tra không giống như
các hoạt động chuyên môn khác mà là hoạt động nhằm bảo đảm thực hiện chính
sách, pháp luật, giữ vững kỷ cương trật tự trong quản lý. Mục đích của thanh tra là
hướng vào xem xét các hành vi hợp pháp và hợp lý của chủ thể quản lý.
Trong nghiên cứu cấp bộ: "Hoàn thiện cơ chế thanh tra kiểm tra, giám sát
nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước" của Trần Đức Lượng [59] đã làm rõ
những vấn đề lý luận và quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát; tổ chức và hoạt động của các cơ quan có chức năng thanh tra,
kiểm tra, giám sát ở một số nước trên thế giới; các quy định của pháp luật về tổ
chức và hoạt động của các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát ở
nước ta; thực trạng phân định chức năng, nhiệm vụ và thực hiện cơ chế phối hợp
giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát; hoàn thiện cơ chế
thanh tra, kiểm tra, giám sát với việc đổi mới tổ chức, hoạt động thanh tra và tăng
cường hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng. Nhóm
nghiên cứu đã khẳng định vai trò của thanh tra với tư cách là công cụ kiểm soát
trong nội bộ cơ quan hành pháp, song chưa có các kiến nghị, đề xuất phù hợp để
tăng cường năng lực kiểm soát đối với cơ quan hành pháp.
Trong nghiên cứu: "Thanh tra - Quyền kiểm soát quyền lực của bộ máy hành
pháp" của tác giả Đinh Văn Mậu [63] đã làm rõ đối tượng KSQL trong hệ thống hành
pháp của thanh tra là các cơ quan chức năng thực hiện quản lý hành chính nhà nước.
Theo tác giả, quyền hành pháp nhằm bảo đảm các quyền tự do cho công dân, hoạch
định và thực thi chính sách, nếu các quyền này không được thực thi đúng
16
pháp luật thì thanh tra có quyền xem xét, kiến nghị xử lý. Vai trò kiểm soát của
thanh tra thể hiện đối với việc đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định
hành chính (QĐHC). Tác giả đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong cơ chế kiểm
soát hành pháp thông qua hoạt động thanh tra và đề xuất, kiến nghị một số giải
pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra.
Đề tài đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa NNPQ với các định chế xã hội ở Việt
Nam; chỉ ra những nhân tố tác động, chi phối mối quan hệ này. Nghiên cứu này
cũng đã đề cập đến vai trò giám sát xã hội của các định chế xã hội với nhà nước
trong quá trình mở rộng dân chủ và xây dựng NNPQ XHCN và kiến nghị một số
giải pháp để nâng cao chất lượng giám sát xã hội; và đề nghị đưa vấn đề phản
biện xã hội vào hoạt động của MTTQ.
Sách "Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị Việt Nam" của các tác giả Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình Bôn, Lê
Hữu Nghĩa [70] là công trình nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ những vấn đề
lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các TCCT-XH, trong
đó vấn đề GS&PBXH. Trong công trình này, các tác giả đã chỉ ra nội dung
GS&PBXH của MTTQ trong giai đoạn hiện nay, đó là: Tư vấn, phản biện cho Đảng
và Nhà nước các quyết sách chính trị... kiểm tra, giám sát các hoạt động của cơ
quan Nhà nước, hành vi của công chức, đảm bảo cho quyền lực của nhân dân ủy
quyền cho Nhà nước không bị lạm dụng, lợi dụng, biến dạng. Và để MTTQ thực
hiện GS&PBXH cần đáp ứng các điều kiện: (1). MTTQ cần có những điều kiện cần
và đủ để thực hiện GS&PBXH một cách khách quan và xây dựng, vì lợi ích của dân
tộc; (2). Đảng và Nhà nước có nhu cầu và đòi hỏi một cách thành tâm việc giám sát
và phản biện cho đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật; (3). Có cơ chế, chế
tài để GS&PBXH của MTTQ đi đúng hướng, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước;
nâng cao uy tín của Đảng, Nhà nước trong xã hội; củng cố quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước và nhân dân [70, tr.339]. Trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã đề xuất nhiều
giải pháp quan trọng đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận, đây là yêu
cầu quan trọng để MTTQ thực hiện tốt chức năng GS&PBXH.
Trong cuốn sách chuyên khảo: "Cơ sở lý luận và các nguyên tắc cơ bản để
hình thành và quản trị các tổ chức xã hội dân chủ ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn
Mạnh Cường [13] đã tập trung chủ yếu vào việc đưa ra các vấn đề lý luận và thực
tiễn về tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam, trong đó có đề cập vấn đề giám sát của các
tổ chức xã hội trong thực hiện chính sách của nhà nước. Tuy nhiên, đó chỉ là sự
tham gia của một số chủ thể mang tính xã hội trong thực hiện KSQL nhà nước,
Bàn về hình thức dân chủ trực tiếp và việc nhân dân trực tiếp thực hiện
quyền lực nhà nước, cuốn sách: "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế Nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp - cơ sở lý luận và thực tiễn" của Phan
Trung Lý, Đặng Xuân Phương [60] đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế
Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, trong đó đã phân
tích những ưu điểm và hạn chế, thuận lợi và thách thức đặt ra đối với việc thực hiện
quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp của nhân dân. Trên cơ sở phân tích thực
trạng, các tác giả đã đề xuất các giải pháp quan trọng như: tiếp tục đổi mới
19
phương thức hoạt động của các chủ thể trong hệ thống chính trị; đổi mới
phương thức, chấn chỉnh lối làm việc của bộ máy nhà nước phù hợp với yêu cầu
thực hành dân chủ trực tiếp của nhân dân; xây dựng một số đạo luật chung về
tang cường năng lực thực hành dân chủ trực tiếp của nhân dân. Các kết quả
nghiên cứu này đã giúp NCS tiếp cận thông tin có giá trị tham khảo hữu ích cho
việc nghiên cứu cơ chế pháp lý KSQL nhà nước đối với việc thực hiện quyền
hành pháp ở Việt Nam bên ngoài bộ máy nhà nước để bổ sung vào luận án.
Tiếp cận dưới góc độ khoa học chính trị, đề tài: "Vấn đề nhân dân giám
sát các cơ quan dân cử ở nước ta hiện nay" của Viện Khoa học chính trị [131] đã
phân tích sâu, khoa học, cụ thể về bản chất nền dân chủ XHCN mà nội dung căn
bản là xây dựng cơ chế nhân dân làm chủ bằng việc tham gia QLNN, quản lý xã
hội, thực hiện quyền kiểm soát, giám sát thông qua các tổ chức đại diện của
nhân dân ở cơ sở đối với các cơ quan nhà nước và các chính sách của Nhà nước.
Các tác giả đều nghiên cứu, đề cập đến vấn đề kiểm soát, giám sát đối với quyền
lực nhà nước, nêu những yêu cầu cấp thiết của KSQL nhà nước. Những kết quả
nghiên cứu này đã tạo tiền đề để NCS tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống,
toàn diện hơn vấn đề xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực
nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
Dưới góc độ luật học, trong luận án tiến sĩ: "Hoàn thiện cơ chế pháp lý