Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh đắk lắk - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ KHẮC ĐỨC

PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA


Lê Khắc Đức


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................1
Chương 1........................................................................................................... 8
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CƯỠNG CHẾ THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ.........................................................................................8
1. 1. Khái quát chung về cưỡng chế thi hành án dân sự............................ 8
1.2. Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự.......................................11
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành
án dân sự..........................................................................................................18
TIỂU KẾT CHƯƠNG I...................................................................................22
Chương 2......................................................................................................... 23
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK...............................................................23
2.1. Thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự.....................23
2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy thi hành án dân sự ở tỉnh Đắk Lắk và khái
quát tình hình thi hành án dân sự ở tỉnh thời gian qua.................................... 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.................................................................................. 74
Chương 3......................................................................................................... 76
ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG
CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK............76
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự từ
thực tiễn tỉnh Đắk Lắk..................................................................................... 76
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự từ
thực tiễn tỉnh Đắk Lắk..................................................................................... 82
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.................................................................................. 94
KẾT LUẬN LUẬN VĂN................................................................................96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................97

1. Lý do chọn đề tài
Thực hiện chủ trương xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án
theo hướng tiến tới tập trung nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thi hành
án dân sự về một đầu mối theo các Nghị quyết của Đảng, nhất là từ năm 1993
đến nay (đặc biệt là vào thời điểm năm 2005, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị
quyết số 9-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020), công tác thi hành án dân sự ngày càng được Quốc hội, Chính phủ, Bộ
Tư pháp và các Bộ, Ngành Trung ương quan tâm, nhiều văn bản pháp luật
quan trọng về thi hành án dân sự đã được ban hành, đặc biệt là từ khi Quốc
hội thông qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã xác định mô hình tổ chức
bộ máy cơ quan Thi hành án dân sự theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống
nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện, tương xứng với nhiệm vụ
chính trị được giao và phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp theo Nghị
quyết số 9-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; con người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [6, tr.4]. Để thực hiện thành
công mục tiêu đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân là một trong những phương hướng cơ bản và tôn trọng,
thượng tôn pháp luật là nguyên tắc mang tính nền tảng cho các hoạt động tổ
chức và quản lý xã hội. Hiến pháp năm 2013, bản Hiến pháp của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã dành nhiều quy định thể hiện
sâu sắc và toàn diện nguyên tắc này trên tất cả các phương diện hoạt động của
các cơ quan, tổ chức và cá nhân như các quy định tại Điều 2, Điều , Điều 8,
Điều 6, Điều 79 hay Điều 115.

1





bảo cho quyền lực Tư pháp được thực thi trên thực tế. Mặt khác, nó còn là
công cụ hữu hiệu để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị
xâm hại. Hiệu quả của hoạt động thi hành án có tác động trực tiếp đến lòng tin
của nhân dân đối với pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội của
nước ta hiện nay, không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ quan
có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi, xuất
phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó, có thể kể đến nguyên nhân cơ bản nhất
là ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án còn hạn chế, họ
thường có tâm lý chống đối, cản trở việc thi hành án, vì lúc này, lợi ích vật
chất của họ bị định đoạt để đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án.
Do mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa người được thi hành án và người phải thi
hành án là đối lập, nên việc áp dụng biên pháp cưỡng chế thi hành án có thể
xem như là biện pháp giải quyết cuối cùng của cơ quan Thi hành án dân sự
nhằm thực thi Bản án, Quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền,
đảm bảo công lý phải được thực thi trên thực tế. Hoạt động cưỡng chế thi
hành án tác động sâu rộng đến các quan hệ xã hội của người được thi hành án,
người phải thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong bản án.
Đây cũng chính là công đoạn khó khăn, phức tạp nhất của quá trình giải quyết
việc thi hành án. Do đó, vấn đề cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án
phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật,
đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự. Đây là một vấn đề cấp
thiết có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với lĩnh vực thi hành án dân sự. Việc
nghiên cứu kỹ biện pháp cưỡng chế giúp đem lại quyền và lợi ích thực tế cho
cá nhân, tổ chức, góp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa công
bằng, văn minh.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, từ tình hình thực tiễn công tác thi
hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Pháp
luật về cưỡng chế thi hành án dân sự - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm Đề

giáo trình và tổ chức nghiên cứu, giảng dạy môn Thi hành án dân sự, như:
trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Học

4


Viện Tư pháp. Các giáo trình đã nêu những vấn đề cơ bản, về Luật thi hành án
dân sự; công tác thi hành án dân sự.
Các Tạp chí khoa học như Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật
học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật... cũng có nhiều bài viết, nghiên cứu về
lĩnh vực Thi hành án dân sự ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, ít nhiều
cũng đã có đề cập đến vấn đề vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án
dân sự.
Các luận văn, các công trình nghiên cứu, các bài viết,.... nêu trên đã đánh
giá được thực trạng và một số hạn chế, bất cập trong lĩnh vực Thi hành án dân
sự, đồng thời đã đưa ra nhiều giải pháp để khắc phục những hạn chế, bất cập
đó. Tuy nhiên, trong số các công trình nêu trên, chưa có công trình khoa học
nào nghiên cứu chuyên sâu ở bậc sau đại học về những vấn đề liên quan đến
hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk.
Luận văn này sẽ là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về mặt lý
luận và thực tiễn về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk
để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả, luận giải những vướng mắc,
bất cập cả về lý luận, pháp lý cũng như thực tiễn trong cưỡng chế thi hành án
dân sự tại địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về cưỡng
chế thi hành án dân sự nói chung, tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân

Về không gian: Luận văn được nghiên cứu thực hiện tại Cục Thi hành

án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
-

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác cưỡng

chế thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 - 2016, đưa ra
phương hướng, giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2017 - 2021.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
-

Phương pháp luận:

Để đạt được những mục đích đề ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng các phương pháp như phân tích, so sánh, thống kê, tổng
hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết
thực tiễn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong Luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận chung về hoạt động
cưỡng chế thi hành án dân sự.
6


-

Nêu ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động

hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa
án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi
hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn
định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy
hoại tài sản.
Cụ thể hóa các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, Điều 71 Luật thi
hành án dân sự quy định có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án như sau [57,
tr.39]:
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của
người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ.
. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
8


5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện
công việc nhất định.
Từ các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đã được quy định, có thể
thấy chúng có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng
đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh Nhà nước.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải do cơ quan Thi hành án dân
sự thực hiện (bao gồm cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan Thi hành
án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án quân khu và tương đương).
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được Chấp hành viên
áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án
nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định.

phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có
quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án (khoản 1, Điều
13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ) [26, tr.9].
Thứ tư, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào bản án, quyết
định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về mặt
chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức
Chấp hành viên. Vì việc tổ chức cưỡng chế thi hành án có thuận lợi hay không,
an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an
toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế hay không tùy thuộc vào việc có áp
dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế của Chấp hành viên.

1.1.2. Vai trò của cưỡng chế thi hành án dân sự
Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án. Trong tổ chức
thi hành án, Chấp hành viên chú trọng tuyên truyền, giáo dục, giải thích,
hướng dẫn, động viên người phải thi hành án tự giác, tự nguyện thi hành
nghia vụ của mình, nhằm tạo ra ý thức về lối sống cộng đồng, ý thức pháp

10


luật của mỗi công dân, tạo ra thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật. Tuy nhiên, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
nhưng không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là cần thiết, đảm bảo vì lợi ích hợp pháp
của người được thi hành án, giữ nghiêm kỷ cương phap luật chung của nhân
dân, xã hội, nhà nước, trong đó có cả lợi ích cá nhân. Không áp dụng cưỡng
chế, hay coi nhẹ nó cũng có nghĩa là buông nhẹ kỷ cương dẫn tới tình trạng vô
Chính phủ, vô kỷ luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nước. Điều quan
trọng là, không được lạm dụng sử dụng biện pháp cưỡng chế để giải quyết
toàn bộ các việc thi hành án, điều đó sẽ dẫn đến sự chuyên quyền, không đúng

luật về cưỡng chế thi hành án dân sự xác định rõ các quyền năng của cơ quan
nhà nước, của cơ quan Thi hành án dân sự và của Chấp hành viên trong việc
buộc người phải thi hành án phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo nội
dung Bản án, quyết định đã tuyên, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp
luật, bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước và của công
dân.
Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự còn là phương tiện để nhà
nước quản lý xã hội, triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước
một cách đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô cả nước, đồng thời đó cũng
là phương tiện để nhà nước kiểm soát các hoạt động của Chấp hành viên, của
các tổ chức, các cơ quan và mọi công dân trong cưỡng chế thi hành án dân sự.
Bằng các quy định cụ thể trong Luật thi hành án dân sự và các văn bản
hướng dẫn thi hành cùng các quy định có liên quan, pháp luật về cưỡng chế
thi hành án dân sự đã góp phần làm rõ thêm các chủ trương, chính sách của
nhà nước, đặc biệt là chủ trương xây dựng nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả mọi cơ
quan, tổ chức và cá nhân đều phải chấp hành các quy định của pháp luật nói
chung, trong đó bao gồm các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án
dân sự, mọi người đều phải chấp hành tính thượng tôn pháp luật. Điều đó
12


cũng có nghĩa rằng, với tư cách là người trực tiếp thực thi quyền lực nhà
nước, Chấp hành viên cũng phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp
luật về cưỡng chế thi hành án dân sự. Chính các quy định này là ranh giới xác
định phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, để Chấp hành viên
không thể lạm quyền, không thể tùy tiện sử dụng quyền lực nhà nước trong
thực hiện nhiệm vụ của mình.
Là quy phạm pháp luật, nên pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
có những đặc điểm chung, mang tính phổ biến, thống nhất, được quy định

thành phố trực thuộc Trung ương; Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương.
Quy định về Chấp hành viên
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản
án, quyết định theo quy định. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên
sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp. Chấp hành viên
do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, có nhiệm vụ, quyền hạn như sau [57,
tr.11]:
1. Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định
về thi hành án theo thẩm quyền.
2. Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy
định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành
viên.
3. Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải
quyết việc thi hành án.
. Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh

14


địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên
quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế
thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.

6. Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án
theo quy định của pháp luật.

của Chính phủ.
Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây [57, tr.7]: Ban hành
hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
thi hành án dân sự; Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi
hành án dân sự; Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự; Quản lý
hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết
định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm,
miễn nhiệm Chấp hành viên, Thẩm tra viên; Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác
thi hành án dân sự; Thanh tra việc sử dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử
dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức,
người lao động trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự; kiểm tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân
sự; Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương
tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
thi hành án dân sự; Tổng kết công tác thi hành án dân sự; Ban hành và thực
hiện chế độ thống kê về thi hành án dân sự; Báo cáo Chính phủ về công tác thi
hành án dân sự.
Các Bộ, Ngành Trung ương có trách nhiệm phối phối hợp với Bộ Tư
pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về thi hành án dân sự, chỉ đạo các cơ quan thuộc hệ thống quản lý
của mình phối hợp trong công tác thi hành án dân sự theo quy định của pháp
luật [57, tr.78 - tr.83].
16


Trong phạm vi quyền hạn do pháp luật quy định, Ủy ban nhân dân các
cấp, Tư lệnh quân khu và tương đương có trách nhiệm phối hợp chỉ đạo và tạo
điều kiện cho cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thực thi chính sách,
pháp luật về thi hành án dân sự; chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan

Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng
chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết
Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ
là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm
trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa
phương.
Trong trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo
cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương ít nhất là 05 ngày làm
việc trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh
hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định
tại Khoản 1 Điều 172, Khoản 2 Điều 173 và Khoản 2 Điều 17 của Luật Thi
hành án dân sự [57, tr.81].
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi
hành án dân sự
1.3.1. Năng lực thực thi công vụ của cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên thi hành án dân sự
Chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh Tư pháp do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định
của pháp luật; được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp
thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng
quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự. Hoạt động của cơ quan Thi
hành án dân sự được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của đội ngũ Chấp
hành viên, về bản chất, là hoạt động áp dụng pháp luật; do đó, các hoạt động
tác nghiệp của đội ngũ Chấp hành viên phải tuân thủ theo đúng các quy định
18


của pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Nếu áp dụng


Chủ thể của tự nguyện thi hành án không chỉ là người được thi hành án,
người phải thi hành án, mà còn có thể là người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan. Đối với người được thi hành án, sự tự nguyện của người được thi hành
án chính là họ dùng quyền lợi của mình đã được Bản án có hiệu lực pháp luật
ghi nhận để thể hiện sự tự nguyện của mình. Sự tự nguyện thi hành án của
người được thi hành án thể hiện ở chỗ họ có thể thỏa thuận với người phải thi
hành án về thời gian, địa điểm, phương thức thi hành án, nhưng thỏa thuận
này không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Việc tự nguyện thi hành án của người được thi hành án cũng được Nhà
nước khuyến khích và được thể hiện dưới một cơ chế khác, đó là người được
thi hành án cũng có thể đơn phương tự nguyện đồng ý cho bên phải thi hành
án hoãn thi hành án, thời gian hoãn do bên được thi hành án quyết định. Hoặc
người được thi hành án cũng có thể đơn phương tự nguyện từ bỏ quyền và lợi
ích của họ được hưởng theo bản án quyết định, nếu việc từ bỏ này không làm
ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước hoặc của người khác.
Cả hai trường hợp nói trên, tuy cách xử lý khác nhau nhưng về bản chất
đều giống nhau đó là thể hiện việc tự nguyện thi hành án của người được thi
hành án.
Trường hợp nếu các bên không có ý thức tự giác, tự nguyện thi hành án,
không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, thì Chấp hành viên buộc phải áp
dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế
là hết sức cần thiết, bảo đảm công lý được thực thi, bảo đảm tính nghiêm
minh của pháp luật, tuy nhiên, nó cũng có thể làm tốn kém thời gian, chi phí,
ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
1.3.3. Sự phối hợp của các bên liên quan trong cưỡng chế thi hành án
dân sự
Thi hành án dân sự là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền về tài sản
và nhân thân của các bên đương sự, để giải quyết việc thi hành án, cơ quan thi
hành án dân sự phải tiến hành nhiều thủ tục như Tống đạt, xác minh, áp dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status