LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tác giả. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy
định, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố!
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thụy Vũ
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1
Những công trình nghiên cứu có liên quan đến tai nạn thương
tích ở trẻ em
1.2
Những công trình nghiên cứu có liên quan đến phòng chống tai nạn
thương tích và giáo dục phòng chống tai nạn thương tích trẻ em
1.3
Những công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý hoạt động
giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non
1.4
Khái quát kết quả của các công trình khoa học đã công bố và
những vấn đề đặt ra luận án cần giải quyết
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Thực trạng các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục
5
15
15
19
24
31
37
37
55
67
73
73
74
80
107
124
phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non
ngoài công lập thành phố Hồ Chí Minh
3.6
Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục
phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non
STT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
1
Cán bộ quản lý
CBQL
2
Cha mẹ học sinh
CMHS
3
Cơ sở vật chất
CSVC
4
Giáo viên
GV
10
Nhân viên
NV
11
Phòng chống tai nạn thương tích
PCTNTT
12
Số thứ tự
STT
13
Tai nạn thương tích
TNTT
14
Thành phố Hồ Chí Minh
Tp. HCM
Thực trạng về nhận thức của các lực lượng sư phạm trong
nhà trường vềcác loại tai nạn thương tích trẻ thường gặp ở
trường mầm non ngoài công lập
Thực trạng các thời điểm xảy ra tai nạn thương tích cho trẻ
tại các trường mầm non ngoài công lập
Thực trạng việc thực hiện mục tiêu giáo dục phòng chống
tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài
công lập thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Thực trạng nhận thức của các lực lượng sư phạm về mức
độ cần thiết của hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ ở trường mầm non ngoài công lập
Kết quả đánh giá của các lực lượng sư phạmvề việc thực
hiện các nội dung giáo dục phòng chống tai nạn thương
tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đánh giá mức độ thường xuyên của các lực lượng sư phạm
về việc tham dự các chuyên đề, chương trình bồi dưỡng các
kiến thức, kỹ năng hoạt động giáo dục phòng chống tai
nạn thương tích cho trẻ trong các trường mầm non ngoài
công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đánh giá của các lực lượng sư phạm về thực trạng tổ
chức thực hiện những yêu cầu về đảm bảo an toàn phòng
chống tai nạn thương tích trong khi tổ chức cho trẻ ăn
Đánh giá của các lực lượng sư phạm về việc tổ chức giấc
ngủ đảm bảo an toàn phòng chống tai nạn thương tích
cho trẻ.
Đánh giá của các lực lượng sư phạm về việc tổ chức hoạt
động học đảm bảoan toàn phòng chống tai nạn thương
tích cho trẻ
Đánh giá của các lực lượng sư phạm về thực trạng sử
Bảng 3.16
Bảng 3.17
Bảng 3.18
Bảng 3.19
Bảng 3.20
Bảng 3.21
Bảng 3.22
Bảng 3.23
Bảng 3.24
Đánh giá của các lực lượng sư phạm về thực trạng những
nội dung trong chế độ sinh hoạt hàng ngày ảnh hưởng
nhiều đến công tác đảm bảo an toàn phòng chống tai nạn
thương tíchcho trẻ tại các trường mầm non ngoài công lập
Kết quả đánh giá của các lực lượng sư phạm về cách thức
hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho
trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
Thực trạng về kết quả giáo dục các lực lượng sư phạm về
hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các
trường mầm non ngoài công lập thành phố Hồ Chí Minh
phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường
mầm non ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh
103
104
106
108
111
114
116
117
119
122
125
Bảng4.1
Bảng4.2
Bảng4.3
Bảng4.4
tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
Phân bố tần suất (f)
Phân bố tần suất tích luỹ (fi)
164
166
168
169
170
176
177
179
164
137
169
178
178
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là nguồn nhân lực tương lai của mỗi
quốc gia, là nguồn yêu thương to lớn nhất trong cuộc sống hạnh phúc của mỗi gia đình.
Dành cho trẻ em nói chung, trẻ mầm non nói riêng sự quan tâm chăm sóc đầy đủ nhất,
với những gì tốt đẹp nhất luôn là mong muốn cao cả của từng gia đình, của toàn xã hội.
Vì vậy, trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia luôn đặt chính sách giáo dục lên
hàng đầu, coi giáo dục mầm non là trọng tâm ưu tiên quan trọng nhất.
Các nghiên cứu về đặc điểm lứa tuổi của trẻ mầm non cho thấy, trẻ từ 0 đến 6 tuổi
ý thức thơ dại, cơ thể non nớt, chưa thể tự bảo vệ được mình trước những tác động xấu
khu chế xuất đã tăng mạnh nhu cầu gửi trẻ mà các cơ sở giáo dục mầm non công lập
không thể đáp ứng. Do đó nhiều cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập không đảm bảo
điều kiện vẫn hoạt động, dẫn đến nhiều vụ việc mất an toàn với trẻ, thậm chí gây cho trẻ
thương tích rất thương tâm, gây bức xúc trong dư luận.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của vùng đồng bằng sông Cửu
Long và cả nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thu hút đông đảo lực lượng lao
động cả nước đến làm ăn sinh sống. Đi kèm với đô thị hóa là tăng trưởng nhu cầu giáo
dục, nhất là giáo dục mầm non trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Số lượng
trường mầm non ngoài công lập phát triển khá ồ ạt riêng tại thành phố Hồ Chí
Minh hiện có hơn 1.000 trường mầm non, trong đó công lập 431 trường. Hiện
thành phố có 1.551 nhóm lớp, trong đó còn 121 nhóm lớp chưa được cấp phép và
485 hộ gia đình giữ trẻ, trong khi nguồn nhân lực (giáo viên) chưa đáp ứng nhu cầu
tuyển dụng tại các trường. Rất nhiều cơ sở sử dụng bảo mẫu chưa qua trường lớp
đào tạo đứng lớp. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trường mầm non ngoài
công lập chưa đảm bảo (chế độ dinh dưỡng, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị
không đúng theo Qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo...). Rõ ràng, tình hình phòng
chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập ở thành phố
Hồ Chí Minh hiện đang là điểm nóng.
Để hạn chế, loại trừ tai nạn thương tích cho trẻ mầm non ở các cơ sở giáo
dục mầm non ngoài công lập phải tiến hành đồng bộ và quyết liệt nhiều giải pháp cả
về giáo dục, tổ chức, quản lý và đảm bảo. Nhưng vấn đề quan trọng trước tiên là
giáo dục bồi dưỡng nhận thức, xây dựng ý thức trách nhiệm, tình cảm yêu thương
trẻ em đồng thời cần nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích
cho đội ngũ là những người tiếp xúc trực tiếp với trẻ, trực tiếp chăm sóc, giáo dục
trẻ. Đây là lực lượng hàng ngày trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, quyết
định trực tiếp đến chất lượng giáo dục trẻ, gắn liền với mọi hoạt động của trẻ, do đó
7
có vai trò quan trọng nhất trong hướng dẫn, giáo dục trẻ biết tự bảo vệ bản thân,
8
huấn, bồi dưỡng giáo viên mầm non của Phòng Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo
dục và Đào tạo thành phố tổ chức, nhưng sự chuyển biến không nhiều, thậm chí còn để
xảy ra có nhiều vụ gây sự quan tâm rộng rãi của dư luận. Sự hạn chế này thể hiện việc
quản lý, tổ chức giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm
non ngoài công lập còn nhiều thiếu sót. Điều đó cho thấy vấn đề quản lý hoạt động
giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công
lập cần phải nghiên cứu kỹ hơn, tìm những biện pháp quản lý hiệu quả hơn để
phù hợp với tình hình hiện nay.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, với cương vị của bản thân
là hiệu trưởng một trường mầm non ngoài công lập thâm niên ở thành phố Hồ Chí
Minh, tôi thấy vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương
tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập” vừa có ý nghĩa lý luận, vừa
có giá trị thực tiễn thiết thực. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động
giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non
ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án tiến sĩ
của mình với mong muốn tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng
chống tai nạn thương tích hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện cho trẻ ở lứa tuổi mầm non nhất là tại các cơ sở mầm non ngoài công lập tại
thành phố Hồ Chí Minh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động giáo dục
phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non, luận án đã đề xuất các biện pháp
chủ yếu quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các
trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện Giáo
dục và Đào tạo hiện nay.
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Về khách thể khảo sát
Luận án tập trung điều tra, khảo sát tại 19 cơ sở mầm non ngoài công lập tại
10 quận, huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, tổng số khách thể
khảo sát: 240 người, gồm: Cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào
tạo; Hiệu trưởng; Phó hiệu trưởng: 30 người; Giáo viên, nhân viên: 210 người
Nội dung khảo sát về tình hình thực hiện hoạt động giáo dục phòng chống tai
nạn thương tích và quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho
trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
10
Về thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong thời gian từ tháng 6 năm 2015 đến nay.
Giả thuyết khoa học
Quản lý một cách khoa học hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương
tích sẽ bảo đảm cho trẻ hưởng thụ các tác động giáo dục có chất lượng và an toàn ở
trường mầm non ngoài công lập. Trong những năm qua, hoạt động giáo dục phòng
chống tai nạn thương tích và quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh đã được quan tâm, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là
biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích chưa thực sự
phù hợp. Nếu Hiệu trưởng nhà trường thực hiện tốt kế hoạch hóa các hoạt động giáo
dục; chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục nghiêm túc và hiệu quả; hướng dẫn giáo
viên dạy trẻ những kỹ năng tự phòng chống tai nạn thương tích cho mình; chú trọng
xây dựng môi trường an toàn; phối hợp có hiệu quả với gia đình, chính quyền địa
phương và các tổ chức xã hội trong quá trình giáo dục, đồng thời quản lý khoa học
và hiệu quả kết quả giáo dục đã thực hiện thì sẽ quản lý tốt hoạt động giáo dục các
lực lượng sư phạm của nhà trường về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các
trường mầm non ngoài công lập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non
quản lý; đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ ở trường mầm non.
Quan điểm thực tiễn
Luận án sẽ phân tích thực trạng quản lý giáo dục của các trường mầm non ngoài
công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; xem xét sự tác động của môi trường
kinh tế xã hội thành phố và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của các trường để đề xuất biện
pháp quản lý phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận án đã sử dụng phối hợp các phương
pháp nghiên cứu sau đây:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tài liệu về quản lý, tài liệu liên quan đến giáo dục phòng chống
tai nạn thương tích cho trẻ mầm non và các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên
cứu. Trên cơ sở đó tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống tài liệu để xây dựng
khung lý luận làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu.
Đồng thời, luận án đã thu thập và phân tích các tài liệu khoa học, các văn bản Chỉ
thị, thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND thành phố Hồ Chí Minh, Sở Giáo dục và
12
Đào tạo về quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các
trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để xác định các nội
dung quản lý, các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục của đề tài.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Quan sát các biểu hiện của hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương
tích; quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích của giáo viên,
nhân viên các trường mầm non ngoài công lập.
Phương pháp điều tra
Để điều tra thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn
mới quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích … Từ đó, đề xuất
các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích phù hợp.
Phương pháp khảo nghiệm
Qua nghiên cứu thực tiễn khảo nghiệm mức độ cần thiết, tính khả thi và thử
nghiêm sự phù hợp của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai
nạn thương tích cho trẻ mầm non.
Các phương pháp bổ trợ
Sử dụng một số công thức toán học như tính tỷ lệ phần trăm, điểm bình
quân; tính hệ số tương quan; sử dụng hàm Spearman; tính độ lệch chuẩn… để
thống kê số lượng, chất lượng quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh và xử lý số liệu, định lượng kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những
kết luận phục vụ công tác nghiên cứu.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã có những đóng góp sau đây:
Làm rõ hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích và quản lý hoạt
động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non là việc làm cấp
bách cần thực hiện trong giai đoạn hiện nay ở các cơ sở mầm non ngoài công lập trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Làm sáng tỏ, bổ sung và cụ thể hóa các khái niệm về giáo dục phòng chống
tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập; xác định rõ các nội
dung quản lý, chỉ rõ các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục phòng
chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập.
Đề xuất hệ thống 6 biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng chống tai
nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập phù hợp với điều
14
kiện của thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng quản lý giáo dục
mầm non và chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non trên địa bàn thành phố
tuổi mỗi năm (WHO, 2008) [56]. Do đó, tai nạn thương tích ở trẻ em đã trở thành vấn
đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều
nhà nghiên cứu, chuyên gia y tế công cộng và giáo dục.
Bước sang thập niên 1980, các tổ chức quốc tế đã nỗ lực nâng cao sức khỏe
trẻ em nói chung và phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ nói riêng thông qua nhiều
văn bản có giá trị trên phạm vi quốc tế.
Vào tháng 11/1989, Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em đã đặt
ra một tiêu chuẩn quốc tế mới cho việc tôn trọng trẻ em và quyền của trẻ em (Liên
Hợp Quốc, 1989) [41]. Công ước nhấn mạnh đến trách nhiệm của xã hội để bảo vệ
trẻ em (từ khi sinh ra cho đến 18 tuổi) và cung cấp cho trẻ em các hỗ trợ và dịch vụ
phù hợp. Công ước còn tuyên bố thêm rằng trẻ em có quyền được hưởng mức độ
cao nhất về y tế và một môi trường an toàn, không phòng tai nạn thương tích và bạo
lực. Phần lớn các quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn Công ước, và nó đại diện một
lời tuyên bố hùng mạnh về các quan điểm tập thể về các trách nhiệm với trẻ em.
Vào tháng 9/2000, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua các Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ. Mục tiêu thứ tư là giảm 2/3 tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5
tuổi, từ năm 1990 đến năm 2015 (United Nations, 2000) [92]. Vì số lượng lớn trẻ
em dưới một tuổi tử vong là do các bệnh truyền nhiễm và các nguyên nhân sơ sinh,
nên tai nạn thương tích chỉ chiếm khoảng 1,5-2,0% số ca tử vong ở độ tuổi này. Tuy
nhiên, đối với trẻ từ 1-4 tuổi, tai nạn thương tích là một nguyên nhân tử vong đáng
kể hơn, chiếm trên 6% trong số tất cả các ca tử vong. Các quốc gia thành viên của
Liên Hợp Quốc cam kết đến năm 2015 sẽ đạt được tất cả các Mục tiêu Phát triển
Thiên niên kỷ. Không phải tất cả các quốc gia đều đạt được mục tiêu thứ tư nếu họ
không đưa công tác phòng ngừa tai nạn thương tích vào các chương trình của mình.
Sự sinh tồn của trẻ em đã trở thành một vấn đề quan trọng trên phạm vi toàn
cầu, là một phần của sự phát triển rộng lớn hơn đối với sức khỏe và tình trạng khỏe
mạnh của trẻ em và thanh niên, được mô tả “Là vấn đề đạo đức cấp bách, khó xử nhất
16
17
bị ảnh hưởng bởi các chi phí và nguồn thu nhập gia đình bị mất đi do hậu quả của
tai nạn thương tích (Rahman và cộng sự, 2005 [87]; Grossman, 2000 [73]).
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa giới tính và tai nạn thương tích ở trẻ em, kết
quả cho thấy trẻ em trai có xu hướng bị thương tích thường xuyên hơn và nghiêm
trọng hơn so với trẻ em gái (Baker và cộng sự, 1992 [67]). Những khác biệt về giới
tính trong tỷ lệ thương tích xuất hiện ngay trong năm đầu tiên của cuộc đời đối với
hầu các loại hình thương tích (Rivara và cộng sự, 1982 [88]). Số liệu từ các quốc gia
đang phát triển chỉ ra rằng, từ khi được sinh ra, nam giới có tỷ lệ thương tích cao hơn
so với nữ giới, đối với tất cả các loại hình thương tích (Spady và cộng sự, 2004) [89].
Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, cùng với những thành tựu về kinh tế, chính trị và xã hội, công tác bảo vệ chăm
sóc giáo dục trẻ em cũng đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Bằng chứng
thể hiện là nguồn lực cho trẻ em được Nhà nước đầu tư nhiều hơn, pháp luật và các chủ
trương chính sách về bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em ngày càng được hoàn thiện, trẻ
em ngày càng được bảo vệ và chăm sóc tốt hơn. Tuy nhiên, Việt Nam đang trong quá
trình chuyển đổi nền kinh tế, do đó, cũng giống như các nước khác trong khu vực, tình
hình tai nạn thương tích nói chung và tai nạn thương tích trẻ em nói riêng đang diễn ra
hết sức phức tạp và ngày càng gia tăng (Đỗ Thanh Thái, 2014) [49]. Thực tế đã có
nhiều công trình nghiên cứu bàn về các đặc điểm cũng như tình hình tai nạn thương
tích trẻ em ở Việt Nam, từ đó đưa ra cái nhìn đúng đắn rằng tai nạn thương tích trẻ em
là một vấn đề y tế công cộng quan trọng, đòi hỏi toàn xã hội phải xây dựng và triển
khai các chiến lược để giảm gánh nặng của vấn đề này.
Bàn về yếu tố tuổi và giới tính liên quan đến tai nạn thương tích trẻ em, các
điều tra ở Việt Nam đều chỉ ra rằng nhóm bé trai có nguy cơ tai nạn thương tích
không gây tử vong cao hơn so với bé gái, với tỷ lệ trong nhóm bé trai cao gấp 2-3
lần nhóm bé gái ở nhiều khu vực trong cả nước (Nguyễn Trọng Hà và cộng sự, 2009
[44]). Điều này cũng tương tự các phát hiện trong “Báo cáo tử vong do tai nạn
Thứ hai, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra được một bức
tranh đầy đủ và hệ thống về vấn đề tai nạn thương tích trẻ em, trong đó xác định
nguyên nhân gây tai nạn thương tích ở trẻ em gồm hai loại hình chủ yếu là các
thương tích không chủ ý, như thương tích tai nạn giao thông, đuối nước, bỏng, ngã,
ngộ độc; và các thương tích không chủ ý khác, như ngạt thở, bị nghẹt, tắc khí quản,
động vật hoặc rắn cắn, giảm thân nhiệt và chứng thân nhiệt cao. Các nghiên cứu
cũng nhấn mạnh các yếu tố quan trọng liên quan đến khả năng xảy ra tai nạn thương
tích bao gồm tuổi, giới tính, môi trường nguy hiểm, tình trạng kinh tế - xã hội, yếu
tố thường có mối liên hệ với nhận thức hạn chế về nguy cơ và giám sát đối với trẻ,
tình trạng được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, điển hình là dịch vụ cấp
cứu và chăm sóc trước viện…
19
Thứ ba, ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, tình hình tai nạn thương tích trẻ em diễn biến ngày càng phức tạp và có xu
hướng gia tăng, như là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong và tàn
tật ở trẻ. Đồng nhất quan điểm với các nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế, trên cơ
sở phân tích các đặc điểm liên quan đến tai nạn thương tích cũng như tình hình tai nạn
thương tích trẻ em ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu trong nước xác định nguyên
nhân tai nạn thương tích gây tử vong hàng đầu ở trẻ em nước ta là đuối nước, tai nạn
giao thông, ngộ độc, ngã, bỏng và động vật cắn, từ đó khẳng định tai nạn thương tích
trẻ em là một vấn đề y tế công cộng quan trọng, đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội.
1.2. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến phòng chống tai nạn
thương tích và giáo dục phòng chống tai nạn thương tích trẻ em
Tai nạn thương tích có thể phòng chống hoặc kiểm soát được. Ann M.
Veneman, Giám đốc điều hành UNICEF đã nhấn mạnh: “Chúng ta có một nhiệm vụ
bảo vệ trẻ em trước các thương tích và bạo lực. Trẻ em sống trong một thế giới do
người lớn sắp đặt, nhưng chúng có các nhu cầu đặc biệt và dễ bị tổn thương hơn
người lớn trước các nhân tố nào đó trong môi trường của chúng mà có thể đặt chúng
giảm gánh nặng của vấn đề sức khỏe [74].
Với bản chất tự nhiên của các loại hình thương tích liên quan, việc phòng
chống tai nạn thương tích trẻ em phải là trách nhiệm được chia sẻ giữa các chính
phủ, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan giáo dục, các tổ chức quốc tế và các
ngành kinh doanh. Ngoài ra, một cách tiếp cận đa ngành là thật sự cần thiết. Các
ngành giao thông, pháp luật, giáo dục và môi trường cùng đóng vai trò lớn trong
việc phòng chống tai nạn thương tích trẻ em. Trong đó, việc giáo dục phòng chống
tai nạn thương tích tại các trường học là trách nhiệm được giao cho ngành giáo dục,
các cơ sở đào tạo và cán bộ trong hệ thống giáo dục.
Đối với trẻ em, khi bước vào giai đoạn đi học tức là trẻ đã có sự thay đổi môi
trường sống, bắt đầu rời khỏi môi trường gia đình để dành nhiều thời gian hơn với bạn bè
trang lứa và các sinh hoạt tại trường học và cộng đồng. Trong thời kỳ này, trẻ có thể học
hỏi để tự khẳng định bản thân, xây dựng được niềm tin vào bản thân, tự đánh giá bản
thân và có định hướng về những hành vi tốt và không tốt. Giai đoạn này có ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển về tinh thần, trí tuệ và xã hội sau này của trẻ (Csikszentmihalyi
và Schneider, 2000) [71]. Do đó, việc giáo dục hoạt động phòng chống tai nạn thương
tích cho trẻ ở trường mầm non không chỉ có tác dụng giảm tỷ lệ tai nạn thương tích hiện
tại mà còn có tác dụng thay đổi hành vi an toàn cho thế hệ tương lai.
Nhóm trẻ em dưới 5 tuổi có nguy cơ tử vong vì lửa nhiều gấp 2,5 lần so với
các nhóm trẻ khác. Nghiên cứu của McConnell, Leeming và Dwyer (1996) đánh giá
thực nghiệm về một chương trình chữa cháy an toàn dành cho trẻ mẫu giáo, liên
quan đến 10 cơ sở chăm sóc trẻ và 443 trẻ thuộc các độ tuổi từ 3, 4 và 5 tuổi. Các
trẻ tại 6 trung tâm được tham gia một chương trình đào tạo chữa cháy an toàn 18
21
tuần có tên là Kid Safe (An toàn trẻ nhỏ). Các trẻ tại bốn trung tâm còn lại được chỉ
định vào nhóm so sánh. Tất cả trẻ được kiểm tra trước bằng một thước đo toàn diện
về kiến thức chữa cháy an toàn trước khi bắt đầu tham gia công trình nghiên cứu. Ở
mỗi lứa tuổi, trẻ em ở nhóm đào tạo cho thấy lợi ích kiến thức lớn hơn đáng kể so
22
phải có trách nhiệm. Kinh nghiệm cho thấy những người giảng dạy các kỹ năng sống
có hiệu quả thường là các nhà hoạt động xã hội, giáo viên và các nhà tâm lý học. Họ có
vai trò rất quan trọng trong việc quyết định sự thành công của chương trình [85].
Ở Việt Nam, việc phòng chống và giáo dục phòng chống tai nạn thương tích
trẻ em trong nhiều thập kỷ qua đã đạt được nhiều thành công. Nhờ các chiến dịch
truyền thông, tai nạn thương tích đã được đưa vào chương trình hành động của
nhiều Bộ, ban, ngành. Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản tạo cơ sở quan trọng để
đưa ra những thay đổi pháp lý hỗ trợ cho những nỗ lực phòng chống ở Việt Nam,
điển hình như Chính sách Quốc gia Phòng chống tai nạn thương tích năm 2001; Kế
hoạch phòng, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2009-2010; Chương
trình phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2013-201; Chương trình
phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2016-2020; Tăng cường công tác
phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng giai đoạn 2011-2015…
Ngày 4/5/2012, Lễ công bố kết quả khảo sát quốc gia tai nạn thương tích tại
Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội đã nêu rõ: tai nạn thương tích là một vấn đề sức
khỏe cộng đồng tại Việt Nam với tỷ lệ tử vong và thương tích cao so với các bệnh lây
nhiễm và không lây, trong đó, tai nạn giao thông đường bộ và đuối nước là những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho cộng đồng. Trong đó, 5 nguyên nhân tai nạn
thương tích gây tử vong hàng đầu ở nhóm trẻ em/vị thành niên từ 0 -19 tuổi là: tai nạn
giao thông, ngã, động vật tấn công, vật sắc và bỏng (Đăng Doanh, 2012) [28]. Chính vì
vậy, việc phòng chống và giáo dục phòng chống tai nạn thương tích là một vấn đề hết
sức cấp bách hiện nay, đòi hỏi toàn xã hội phải hành động thiết thực để ngăn chặn
những nguy cơ tai nạn thương tích de dọa đến tính mạng và sức khỏe của trẻ em.
Theo Nguyễn Thúy Quỳnh, Lê Vũ Anh và Nguyễn Đức Quang (2010), tai nạn
thương tích trẻ em có thể xảy ra đối với tất cả các lứa tuổi và là vấn đề y tế công cộng
được quan tâm hiện nay. Tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng,
so với các nguyên nhân tử vong do bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm, tai nạn
thương tích trẻ em đang trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với trẻ. Tai nạn