CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:………..
1. Tên sáng kiến: “Giải pháp dạy học Lịch sử theo định hướng tiếp cận
năng lực học sinh ở trường phổ thông”.
(Nguyễn Thị Thùy Dương, Huỳnh Thanh Mộng, @THPT Mạc Đĩnh Chi)
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Lĩnh vực dạy học
3. Mô tả bản chất sáng kiến:
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta để đạt được mục
tiêu trở thành nước công nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế vào năm 2020 là
phát triển nguồn nhân lực. Nhân tố quan trọng và là điều kiện để phát triển
nguồn nhân lực là giáo dục và đào tạo, như Nghị quyết hội nghị Trung ương 8
khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo đã xác định: “Tiếp
tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học;
khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Chính những đổi
mới của GD –ĐT đã đặt đội ngũ giáo viên trong trường phổ thông trước những
cơ hội và thách thức to lớn, đòi hỏi họ phải có sự thay đổi căn bản vai trò từ
chỗ là người truyền thụ tri thức có sẵn sang đóng vai trò của người chịu trách
nhiệm trong “phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công
dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh”.
Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học
tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”; “Phải đổi mới
phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, đảm bảo điều kiện và thời gian TH, tự
nghiên cứu”
Hiện nay, vấn đề dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đang được
thông tin...), khả năng làm việc nhóm, trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh
hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
+ Hướng học sinh tới nhận thức đúng về những giá trị truyền thống của
dân tộc, giúp học sinh hình thành, phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con
người Việt Nam và những giá trị phổ quát của công dân toàn cầu
+ Mở rộng, nâng cao kiến thức và năng lực sử học đáp ứng yêu cầu phân
hoá sâu ở cấp trung học phổ thông. Tăng cường hoạt động trải nghiệm thực tế,
giúp học sinh phát triển tình yêu, sự say mê, ham thích tìm hiểu lịch sử dân tộc
Việt Nam, lịch sử thế giới.
+ Giúp học sinh hiểu sâu hơn vai trò của sử học trong đời sống thực tế,
những ngành nghề có liên quan đến lịch sử để học sinh có cơ sở định hướng
nghề nghiệp sau này cũng như có đủ năng lực cơ bản để giải quyết những vấn
đề có liên quan đến lịch sử và tiếp tục tự học lịch sử suốt đời.
- Giúp giáo viên đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, lựa chọn và
phối hợp có hiệu quả giữa các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học lịch
sử.
- Tiến hành đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học
lịch sử theo hướng phát triển năng lực học sinh.
Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển toàn diện
học sinh; đồng thời giúp giáo viên tự đánh giá được kết quả công tác giảng dạy
của bản thân, thấy được thành công và những vấn đề rút kinh nghiệm để có giải
pháp thích hợp nâng cao chất lượng bộ môn.
- Phát huy được vai trò tối ưu của thiết bị và đồ dùng dạy học trong dạy
học Lịch sử.
3.2.2 Tính mới của giải pháp
2
- Nêu lên được sự cần thiết và kết quả tích cực trong việc dạy học theo
thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành
các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã
biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn...
+ Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và
các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm
tòi và phát hiện kiến thức mới... Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân
tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần
hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
+ Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và
kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học
tập chung.
+ Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt
tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú
3
trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều
hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu
chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
* Vận dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại)
Là phương pháp mà giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi và hướng dẫn học
sinh suy nghĩ trả lời, qua đó, gợi mở cho các em sáng tỏ những vấn đề mới; tự
khai thác những tri thức mới qua việc tái hiện những kiến thức đã học hoặc từ
những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, giúp học sinh củng cố,
mở rộng, hệ thống hóa những kiến thức đã tiếp thu được, đồng thời còn giúp
học sinh tự kiểm tra, đánh giá lĩnh hội tri thức. Trong đó, giáo viên đặt ra
những câu hỏi với những mục đích khác nhau, ở những khâu khác nhau của
quá trình dạy học, nhưng quan trọng nhất là nghiên cứu tài liệu mới. Trao đổi,
đàm thoại có nhiều ưu thế trong việc hình thành kiến thức trên cơ sở hoạt động
cách mạng bùng nổ và thắng lợi ở Nga năm 1917 là gì? Vì sao cuộc cách mạng
tháng Hai năm 1917 ở nước Nga nổ ra nhanh chống giành thắng lợi? Cuộc cách
4
mạng này đã giải quyết vấn đề gì cho nước Nga trước đó? Vì sao cách mạng
tháng Hai nước Nga có 2 chính quyền song song tồn tại? Vấn đề này đặt ra
nhiệm vụ gì cho Đảng Bônsêvich Nga ? Đảng Bônsêvich và Lênin đã lãnh đạo
nhân dân Nga đấu tranh để chuyển từ cách mạng tháng Hai sang cách mạng
tháng Mười như thế nào? Vai trò của Lênin với hai cuộc cách mạng này?...
Như vậy, thông qua những câu hỏi, những “tình huống có vấn đề”, giáo
viên dẫn dắt học sinh tìm tòi, phát hiện kiến thức.Phương pháp dạy học này rèn
cho học sinh kĩ năng phân tích, tổng hợp và lí giải vấn đề, giúp học sinh làm
quen dần với việc nghiên cứu khoa học một cách đơn giản; giúp học sinh tạo ra
“chất”, “lượng” mới trong việc nắm vững kiến thức, vì những kiến thức vận
dụng sẽ được củng cố trong trí nhớ các em và sẽ là công cụ phát triển, công cụ
thu nhận kiến thức mới.
* Sử dụng hệ thống bài tập lịch sử trong dạy học .
Nhằm giúp học sinh nắm vững tri thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, tình cảm
và phát triển năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện trí thông minh và khơi
gợi hứng thú học tập của các em. Muốn đạt được điều này, giáo viên phải sử
dụng tốt hệ thống các phương tiện dạy học, trong đó phải kể đến việc sử dụng
hệ thống bài tập lịch sử trong dạy học .
Vì từ trước đến nay không ai phủ nhận vai trò, ý nghĩa của bài tập đối với
việc hình thành tri thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm và đạo đức đồng thời phát
triển năng lực cho học sinh.
Cùng với việc ghi nhớ các sự kiện lịch sử, bài tập do giáo viên đưa ra và
hướng dẫn học sinh giải sẽ giúp các em khôi phục, tái hiện lại toàn bộ bức tranh
quá khứ, đó cũng là cơ sở để học sinh nhận thức lịch sử một cách chân thực,
chính xác.
ở địa phương sẽ được khắc sâu trong trí nhớ của các em.
Học sinh sẽ tìm hiểu lịch sử địa phương thông qua nguồn sách báo của thư
viện, tranh ảnh tài liệu liên quan để làm giàu thêm kiến thức, phát triển năng lực
nhận thức, tư duy sáng tạo, nhận định và phân tích vấn đề chặt chẽ nhất.
* Tổ chức học sinh trải nghiệm sáng tạo trong dạy học lịch sử đại
phương
Trải nghiệm sáng tạo là hình thức dạy học bằng cách tạo ra nhiều hoạt
động để học sinh khám phá khả năng sáng tạo của bản thân . Việc tổ chức cho
học sinh trải nghiệm sáng tạo tại di tích lịch sử trong quá trình dạy học làm cho
tiết học trở nên nhẹ nhàng. Học sinh được trải nghiệm tại thực tế sẽ hứng thú
hơn trong quá trình tìm hiểu và tiếp thu những nội dung lịch sử liên quan đến di
tích này. Trên cơ sở đó, góp phần trang bị cho các em những kiến thức về lịch
sử, giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức. Hoạt động này còn góp phần
giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ và phát huy những giá trị của di sản văn
hóa của quê hương
Ví dụ: Khi dạy bài 21 Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đấu tranh
chống đấ quốc Mĩ và chính quyền Sài gòn ở miền Nam (1954 – 1960) (lịch sử
12) sau khi dạy về Đồng Khởi;
Giáo viên có thể tổ chức học sinh trải nghiệm ở Di tích quốc gia đặc biệt
Di tích Đồng Khởi Bến Tre. Sau khi trải nghiệm, học sinh sẽ viết thu hoạch
theo nội dụng giáo viên gợi ý :
Giới thiệu về di tích Đồng Khởi Bến Tre và cảm nhận của em khi tham gia
trải nghiệm di tích.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trên, học sinh phải tham khảo nhiều nguồn tư
liệu khác nhau. Ngoài tham quan thực tế,các em có thể tìm hiểu qua sách báo
thư viện, sưu tầm thêm tranh ảnh,cán bộ thư viện sẽ hỗ trợ thêm cho các em về
khai thác tài liệu. Bài cảm nhận hay sẽ được giới thiệu qua Bản tin của thư viện
để các em có thể đọc và cảm nhận sau đó lưu trữ lại thư viện.
3.3 Khả năng áp dụng giải pháp
Giải pháp này nhằm chia sẽ kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy theo
tập của bạn thân để điều chỉnh hoạt động học tập của chính mình. Cụ thể: Biết
được tiếp thu bài học ở mức độ nào? Cần phải bổ khuyết những gì? Có cơ hội
nắm chắc những yêu cầu của từng phần trong chương trình học tập.
Ngoài ra với giải pháp này còn giúp giáo viên:
Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để khơi dậy lòng đam mê,
sự ham học, nội lực vốn có của học sinh, cũng như giúp các em rèn luyện phẩm
chất đạo đức, thế giới quan khoa học thông qua nội dung bài học, đây được coi
là “chìa khóa” để nâng cao chất lượng dạy học.Qua thực tiễn việc dạy học bộ
môn, giáo viên lịch sử đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo hứng
thú, kích thích sự say mê, chủ động trong học tập của học sinh.
Bên cạnh đó:
- Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực đặt trọng tâm
vào việc xây dựng và phát triển năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình
huống của cuộc sống, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành,
thực tiễn. tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giữa người dạy
và người học theo hướng cộng tác, đối thoại, lấy học sinh làm trung tâm nhằm
phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, đáp ứng mục tiêu của chương trình
tổng thể.
- Giờ học lịch sử trở thành quá trình tìm kiếm sự thật lịch sử. Học sinh
được hướng dẫn đọc hiểu, giải mã văn bản lịch sử thông qua các kênh hình,
kênh chữ, hiện vật lịch sử... để từ đó tái hiện quá khứ, nhận thức sự thật lịch sử,
đưa ra suy luận, đánh giá về bối cảnh, nguồn gốc, sự tiến hóa của sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử cũng như quá trình phát triển của lịch sử.
- Học sinh được trang bị phương pháp tự học, biết cách khai thác các
nguồn sử liệu, xác minh thông tin, đồng thời biết cách phân tích các sự kiện,
hiện tượng lịch sử và tự mình rút ra những nhận xét, đánh giá, tạo cơ sở phát
7
triển năng lực tự học, năng lực học lịch sử suốt đời và khả năng ứng dụng vào