ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH THANH KHOẢN VÀ KHẢ
NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY
DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 8 34 03 01
Đà Nẵng - Năm 2019
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS ĐƢỜNG NGUYỄN HƢNG
Phản biện 1: TS. NGUYỄN HỮU CƯỜNG
Phản biện 2: TS. TRẦN THƯỢNG BÍCH LA
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
vào ngày 11 tháng 8 năm 2019.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng
một cách tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng
sinh lời của các công ty xây dựng được niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
- Xem xét mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng
sinh lời của các công ty xây dựng thông qua việc tìm hiểu mối quan
hệ giữa khả năng thanh toán nhanh và tỷ suất sinh lời trên tài sản,
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và tỷ suất sinh lời trên tài sản, vòng quay
các khoản phải thu và tỷ suất sinh lời trên tài sản, vòng quay hàng
tồn kho và tỷ suất sinh lời trên tài sản.
- Nhận định tầm quan trọng của khả năng thanh khoản đối
với hiệu quả hoạt động của các công ty xây dựng tại Việt Nam trong
giai đoạn nền kinh tế còn nhiều khó khăn, bất ổn như hiện nay.
3. Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu đặt ra, đề tài sử dụng mô
hình hồi quy đa biến để xem xét mối quan hệ giữa tính thanh khoản
và khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng tại Việt Nam.
Theo đó đề tài thực hiện ước lượng mô hình OLS với mô hình
Pooled OLS, Fixed Effect, Random Effect để kiểm tra mối quan hệ
giữa thanh khoản và khả năng sinh lời.
Dữ liệu nghiên cứu của đề tài được thu thập từ các công ty
xây dựng tại Việt Nam bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ năm 2011
đến năm 2016. Sau khi loại bỏ các công ty không đầy đủ dữ liệu, kết
quả còn lại, đề tài thực hiện nghiên cứu 61 công ty với 366 quan sát.
Nam.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
4
7. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo một số tài
liệu sau:
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế năm 2014 của Hà Đức Hiếu,
trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh “Mối quan hệ giữa
quản lý thanh khoản và khả năng sinh lời của các công ty sản xuất
tại Việt Nam”.
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế năm 2014 của Nguyễn Thị Thiện,
trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh“Mối quan hệ giữa
tính thanh khoản và tỷ suất sinh lời trên thị trường chứng khoán Việt
Nam”.
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính năm 2014 của
Trần Thị Thanh Vân, trường Đại học Thăng Long “Mối quan hệ
giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời: Nghiên cứu điển
hình các công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam”.
Bài viết “Mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả
năng sinh lời của các công ty thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Bùi Thu Hiền và Nguyễn
Hoài Nam đăng trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 71 tháng 03/2015.
Nội dung các bài viết và luận văn kể trên đều là những công
trình khoa học có giá trị. Tuy nhiên, có thể nhận thấy các nghiên cứu
trên mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu thanh khoản và lợi nhuận
với số lượng mẫu nghiên cứu và các biến trong mô hình còn hạn chế
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH THANH KHOẢN VÀ KHẢ
NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp
1.1.1. Thanh khoản và lợi nhuận
Thanh khoản là một điều kiện tiên quyết để đảm bảo rằng
các công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của nó. Thanh
khoản của công ty được xem xét từ hai khía cạnh khác nhau: quan
điểm tĩnh và quan điểm động (Farris và Hutchison, 2002).
Lợi nhuận là khoản tiền còn lại sau khi doanh thu trừ đi chi
phí sau khi xem xét chi phí bán hàng, chi phí quản lý và tất cả các
chi phí khác có liên quan. Lợi nhuận ròng là lợi nhuận còn lại sau khi
đã trừ lãi vay và thuế. Các nhà đầu tư tiềm năng quan tâm đến cổ tức
và giá thị trường của cổ phiếu, do đó, họ quan tâm đến khả năng sinh
lời của công ty. Trong khi đó, các nhà quản lý quan tâm đến việc
đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua lợi nhuận.
1.1.2. Lý thuyết đánh đổi giữa thanh khoản và lợi nhuận
(Liquidity- Profitability Trade-off)
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tính thanh
khoản và khả năng sinh lời
1.2.1. Mối quan hệ ngƣợc chiều giữa tính thanh khoản và khả
năng sinh lời
1.2.2. Mối quan hệ cùng chiều giữa tính thanh khoản và khả
năng sinh lời
1.2.3. Không có mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng
sinh lời
7
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍNH THANH KHOẢN VÀ KHẢ
NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1. Đặc điểm của ngành xây dựng
Ngành xây dựng có đặc điểm là phụ thuộc vào ngành bất
động sản. Khi ngành bất động sản phát triển, tức là nhu cầu xây dựng
nhà cửa, cơ sở hạ tầng tăng lên, từ đó ngành xây dựng mới có “công
ăn việc làm”.
2.2. Tổng quan về các công ty xây dựng niêm yết trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam
2.3. Thực trạng tính thanh khoản và khả năng sinh lời của các
công ty xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán tại Việt
Nam
2.3.1. Thực trạng tính thanh khoản
Tính thanh khoản ở các doanh nghiệp Việt Nam nói chung,
các doanh nghiệp xây dựng nói riêng còn yếu kém. Đại bộ phận các
doanh nghiệp chưa quan tâm đến tính thanh khoản nên hoạt động của
doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng, tác động bởi những yếu tố kinh tế tài chính từ bên ngoài, tính ổn định trong hoạt động chưa cao gây
ảnh hưởng không nhỏ tới lợi nhuận và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.3.2. Thực trạng khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời được thể hiện trên hai khía cạnh. Khía
cạnh thứ nhất về mặt sổ sách thì khả năng sinh lời thể hiện mức lợi
nhuận đạt được trên một yếu tố chi phí, đầu vào hoặc đầu ra phản
ánh kết quả sản xuất. Khía cạnh thứ hai về mặt thị trường đó là đánh
giá của thị trường về tiềm lực của công ty.
9
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Nội dung chương 2 đã trình bày về thực trạng tính thanh
3.1. Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
3.1.1. Các giả thuyết về ảnh hƣởng của tính thanh khoản đến
khả năng sinh lời của doanh nghiệp
a. Giả thuyết về ảnh hưởng của khả năng thanh toán nhanh đến
khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Về mối quan hệ giữa khả năng thanh toán nhanh và khả năng
sinh lời, kết quả của các nghiên cứu trước đây tồn tại hai quan điểm
trái chiều. Để kiểm chứng kết luận này tại thị trường chứng khoán
Việt Nam, cụ thể với đối tượng là các công ty ngành xây dựng niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Giả thuyết đặt ra là:
H1: Khả năng thanh toán nhanh ảnh hưởng cùng chiều đến
khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
b. Giả thuyết về ảnh hưởng của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt đến
khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Về mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp, kết quả các nghiên cứu trước đây
đều cho thấy giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời
của doanh nghiệp tồn tại một mối quan hệ ngược chiều. Giả thuyết
đặt ra là:
H2: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ảnh hưởng ngược chiều đến
khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
c. Giả thuyết về ảnh hưởng của vòng quay các khoản phải thu đến
khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Gill và các cộng sự (2010) về mối quan hệ
giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận của công ty dựa trên số liệu
11
12
b. Cấu trúc tài sản
Giả thuyết đặt ra là:
H6: Cấu trúc tài sản (được tính bằng tỷ số của tài sản dài
hạn so với tổng tài sản của doanh nghiệp) ảnh hưởng ngược chiều
đến khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam.
c. Cấu trúc vốn
Giả thuyết đặt ra là:
H7: Cấu trúc vốn (được tính bằng tỷ số của tổng số nợ so với
tổng nguồn vốn của doanh nghiệp) ảnh hưởng ngược chiều đến khả
năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
d. Tốc độ tăng trưởng doanh thu
Giả thuyết đặt ra là:
H8: Tốc độ tăng trưởng doanh thu có ảnh hưởng cùng chiều
đến khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam.
e. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Giả thuyết đặt ra là:
H9: Tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng cùng chiều đến
khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
3.1.3. Mô hình nghiên cứu
Từ giả thuyết đặt ra và các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu khả
năng sinh lời của doanh nghiệp, tác giả xây dựng mô hình nghiên
cứu cụ thể như sau:
ROA = β0 + β1QR + β2CCC + β3RCC + β4ICC + β5SIZE + β6AS +
β7CS + β8GS + β9dGDP + εi
14
sự hiệu quả của công ty trong việc quản lý, sử dụng tài sản để tạo ra
lợi nhuận. Sử dụng ROA là phù hợp với đặc điểm của công ty xây
dựng khi sử dụng nhiều tài sản trong thi công công trình như máy
móc, trang thiết bị thi công và các loại vật liệu xây dựng.
- Thứ hai, mô hình đã đưa thêm vào các yếu tố thuộc về khả
năng, đặc điểm của từng công ty như cấu trúc vốn (CS), cấu trúc tài
sản (AS) và tốc độ tăng trưởng doanh thu (GS). Với các yếu tố mang
tính đặc thù này, mô hình sẽ trở nên hoàn chỉnh và toàn diện hơn khi
phản ánh được tình trạng thực tế của từng công ty. Ngoài ra, để xác
định ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh luận văn cũng đưa thêm
vào mô hình biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (dGPD) để phản ánh tác
động của sự phát triển kinh tế tới khả năng sinh lời của các công ty.
3.2. Đo lƣờng các biến trong mô hình
3.2.1. Đo lƣờng biến phụ thuộc
Tỷ suất sinh lời trên tài sản được tính bằng công thức:
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản bình quân
3.2.2. Đo lƣờng biến độc lập
a. Đo lường biến biểu thị khả năng thanh toán nhanh - QR
b. Đo lường biến biểu thị chu kỳ chuyển đổi tiền mặt - CCC
c. Đo lường biến biểu thị vòng quay các khoản phải thu - RCC
d. Đo lường biến biểu thị vòng quay hàng tồn kho - ICC
e. Đo lường biến biểu thị quy mô công ty - SIZE
f. Đo lường biến biểu thị cấu trúc tài sản của công ty - AS
tới việc lựa chọn phương pháp và mô hình nghiên cứu phù hợp để
tìm ra bản chất của mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng
sinh lời của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Nội dung trọng tâm của chương 3 là xây dựng mô hình
nghiên cứu gồm: biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)
đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp; biến độc lập phản
ánh tính thanh khoản gồm khả năng thanh toán nhanh (QR), chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt (CCC), vòng quay các khoản phải thu (RCC),
vòng quay hàng tồn kho (ICC). Ngoài ra, để mô hình cân đối và phản
ánh một cách toàn diện các yếu tố tác động đến lợi nhuận và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp, mô hình sử dụng thêm các biến kiểm
soát gồm: quy mô công ty (SIZE), cấu trúc tài sản (AS), cấu trúc vốn
(CS), tốc độ tăng trưởng doanh thu (GS) và tốc độ tăng trưởng kinh
tế (dGDP).
Trên cơ sở mô hình đã xây dựng, ở nội dung tiếp theo, đề tài
sẽ sử dụng số liệu đã thu thập được về tình hình hoạt động của các
công ty ngành xây dựng để phân tích tìm ra mô hình hoàn chỉnh và
phù hợp nhất. Từ đó, đưa ra những phân tích và đánh giá cụ thể cũng
như có những khuyến nghị cho các nhà quản lý doanh nghiệp để có
những chính sách phát triển phù hợp nhất cho doanh nghiệp theo
hướng đảm bảo sự cân bằng giữa yếu tố lợi nhuận và tính thanh
khoản trong quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp, qua đó đảm bảo
sự tồn tại, phát triển ổn định và bền vững của doanh nghiệp.
17
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Kết quả nghiên cứu
4.1.1. Thống kê mô tả
CS
-0,0947
0,0252
GS
0,0027
0,0008
dGDP
0,4422
0,3047
Total Sum of Squares
Residual Sum of Squares
R-Squared
Adj. R-Squared
F-statistic
Prob(F-statistic)
t-value
-0,5395
-2,0877
0,8430
2,3378
3,2741
1,1444
-3,3673
-3,7570
3,2403
1,4512
Prob
0,5899
mức ý nghĩa là 10%. Tức là biến khả năng thanh toán nhanh có quan
hệ ngược chiều với tỷ suất sinh lời trên tài sản của các công ty niêm
yết thuộc nhóm ngành xây dựng. Như vậy, ta bác bỏ giả thuyết H1:
Khả năng thanh toán nhanh ảnh hưởng cùng chiều đến khả năng
sinh lời của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Đối với biến vòng quay các khoản phải thu RCC, hệ số trong
mô hình có giá trị là 0,0026. Tức là biến vòng quay các khoản phải
thu RCC có tương quan thuận chiều đến tỷ suất sinh lời trên tài sản
với mức ý nghĩa 10%. Do vậy, ta bác bỏ giả thuyết H3: Vòng quay
các khoản phải thu ảnh hưởng ngược chiều đến khả năng sinh lời
của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Biến vòng quay hàng tồn kho ICC có hệ số trong mô hình có
giá trị là 0,0023. Tức là biến vòng quay hàng tồn kho ICC có tương
quan thuận chiều đến tỷ suất sinh lời trên tài sản với mức ý nghĩa
5%. Như vậy, ta bác bỏ giả thuyết H4: Vòng quay hàng tồn kho ảnh
hưởng ngược chiều đến khả năng sinh lời của các công ty ngành xây
19
dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cấu trúc tài sản của công ty AS có hệ số là -0,0505 với mức
ý nghĩa 1%. Vậy, cấu trúc tài sản của công ty AS (được tính bằng tỷ
số của tài sản dài hạn so với tổng tài sản của doanh nghiệp) có mối
tương quan ngược chiều với tỷsuất sinh lời trên tài sản với mức ý
nghĩa 1% Như vậy, giả thuyết H6: Cấu trúc tài sản (được tính bằng
tỷ số của tài sản dài hạn so với tổng tài sản của doanh nghiệp) ảnh
hưởng ngược chiều đến khả năng sinh lời của các công ty ngành xây
dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được chứng
công ty tăng thì tỷ suất sinh lời trên tài sản sẽ giảm và ngược lại.
Như vậy, rõ ràng để có sự hài hòa giữa khả năng sinh lời và khả năng
thanh toán, doanh nghiệp cần phải duy trì hệ số thanh toán nhanh ở
mức phù hợp nhất vừa đảm bảo không quá cao để duy trì được khả
năng sinh lời nhưng cũng không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh
toán nợ và duy trì quan hệ với các đối tác kinh doanh.
Vòng quay các khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho
đều ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lời trên tài sản. Tức là khi
vòng quay các khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho của công
ty tăng thì tỷ suất sinh lời trên tài sản sẽ tăng và ngược lại. Do vậy để
tăng khả năng sinh lời, các doanh nghiệp cần phải tăng chỉ số vòng
quay các khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho. Tuy nhiên để
đảm bảo vừa duy trì được khả năng sinh lời ở mức cao, vừa ổn định
được hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải đảm bảo các
chỉ số đó trong mức tăng cho phép.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra cấu trúc tài sản,
cấu trúc vốn và tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng có ảnh hưởng đến
tỷ suất sinh lời trên tài sản của công ty.
Về cấu trúc tài sản, theo kết quả nghiên cứu, cấu trúc tài sản
(được tính bằng tỷ số của tài sản dài hạn so với tổng tài sản của
21
doanh nghiệp) có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ suất sinh lời trên tài
sản của công ty. Do vậy để tăng khả năng sinh lời, các doanh nghiệp
phải giảm tỷ lệ tài sản dài hạn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Về cấu trúc vốn, kết quả nghiên cứu chỉ ra, cấu trúc vốn của
công ty CS (được tính bằng tỷ số của tổng số nợ so với tổng nguồn
vốn của doanh nghiệp) có mối tương quan ngược chiều với tỷ suất
sinh lời trên tài sản. Do vậy để tăng khả năng sinh lời, các doanh
trên tài sản, nghiên cứu đã đưa ra hàm ý kết quả nghiên cứu và một
số khuyến nghị cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các cơ quan
quản lý nhà nước để không ngừng nâng cao khả năng sinh lời của
các doanh nghiệp Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trong các yếu tố thể hiện tính
thanh khoản thì khả năng thanh toán nhanh (QR), vòng quay các
khoản phải thu (RCC) và vòng quay hàng tồn kho (ICC) là các yếu
tố có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời. Trong đó, khả năng thanh
toán nhanh (QR) dùng để đo lường tính thanh khoản của doanh
nghiệp trong trạng thái tĩnh là yếu tố ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ
suất sinh lời trên tài sản (ROA). Hai biến còn lại dùng để đo lường
tính thanh khoản của doanh nghiệp trong trạng thái động là vòng
quay các khoản phải thu (RCC) và vòng quay hàng tồn kho (ICC) có
ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lời trên tài sản. Bên cạnh đó,
nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố khác ảnh hưởng đến suất sinh
lời trên tài sản gồm: cấu trúc tài sản của công ty (AS), cấu trúc vốn
của công ty (CS) và tốc độ tăng trưởng doanh thu (GS). Trong đó
cấu trúc tài sản và cấu trúc vốn của công ty có ảnh hưởng ngược
chiều còn tốc độ tăng trưởng doanh thu có ảnh hưởng cùng chiều đến
tỷ suất sinh lời trên tài sản.
23
KẾT LUẬN
Với mục tiêu là tìm hiểu mối quan hệ giữa tính thanh khoản
và khả năng sinh lời của các công ty xây dựng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2016, thông qua việc
ước lượng mô hình và kiểm định giả thuyết nghiên cứu, đề tài đã tìm
thấy bản chất mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng sinh
lời của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán