Giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM THỊ OANH

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SO SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
QUA HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG

Chuyên ngành:

Giáo dục Mầm non

Mã số:

9 14 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:
1: PGS.TS Đỗ Thị Minh Liên
2: TS Trần Thị Ngọc Trâm

HÀ NỘI - 2019


MỤC LỤC

MỤC LỤC........................................................................................................1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.............................................................6
DANH MỤC CÁC BẢNG..............................................................................7
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ.........................................................................7

1.3.3. Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 5 – 6 tuổi...............34
1.3.4. Quá trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 5 –
6 tuổi ở trường mầm non.................................................................................35

1.4. Kĩ năng so sánh qua hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng
của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.......................................................39
1.4.1. Khái niệm..............................................................................................39

Những hành động, thao tác SS được thực hiện có ý thức, có kĩ thuật, có
kết quả là yếu tố cốt lõi thể hiện bản chất của KNSS. KNSS qua hoạt
động hình thành BTHD không chỉ hướng tới việc SS các đối tượng
theo dấu hiệu hình dạng mà còn SS theo các dấu hiệu khác như: kích
thước, màu sắc, số lượng… và KN này được trẻ thường xuyên luyện
tập và vân dụng trong các hoạt động đa dạng khác ở trường MN.......39
1.4.2. Những biểu hiện kĩ năng so sánh của trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động hình
thành biểu tượng hình dạng.............................................................................39
1.4.3. Sự phát triển kĩ năng so sánh qua hoạt động hình thành biểu tượng hình
dạng của trẻ 5 – 6 tuổi.....................................................................................40

1.5. Giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động hình
thành biểu tượng hình dạng ở trường mầm non....................................41
1.5.1. Khái niệm..............................................................................................41

Quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục
phải được cụ thể ra thành những biện pháp giáo dục KNSS qua hoạt
động hình thành BTHD. Thực chất biện pháp giáo dục là một trong
những thành tố của quá trình giáo dục, nó quan hệ mật thiết và có tính
biện chứng với những thành tố khác của quá trình giáo dục, nó chính
là cách làm cụ thể, cách giải quyết vấn đề một cách cụ thể hay hướng
tới giải quyết nhiệm vụ từng phần...........................................................42

hình thành BTHD............................................................................................63
2.2.2. Kết quả khảo sát thực trạng kĩ năng so sánh qua hoạt động hình thành
biểu tượng hình dạng của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.............................76


Kết luận chương 2.........................................................................................84
Chương 3. BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SO SÁNH......................85
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH.....................85
BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG.......................................................................85
3.1. Nguyên tắc xây dựng biện pháp giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5
- 6 tuổi qua hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng......................85
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu........................................................85
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống........................................................85
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa..........................................................85
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi...........................................................86

3.2. Đề xuất các nhóm biện pháp giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi qua hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng...........................86
3.2.1. Nhóm biện pháp kích thích nhu cầu, hứng thú và tạo điều kiện cho trẻ
rèn luyện KNSS..............................................................................................86
3.2.3. Nhóm biện pháp đánh giá kết quả so sánh của trẻ...............................106

Kết luận chương 3........................................................................................111
- Các biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ được xây dựng dựa trên những
nguyên tắc cơ bản làm nền tảng định hướng cho quá trình giáo dục trẻ kĩ
năng này đạt hiệu quả cao...........................................................................111
Chương 4. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...................................................112
4.1. Tổ chức thực nghiệm........................................................................112
4.1.1. Mục đích thực nghiệm.........................................................................112
4.1.2. Yêu cầu thực nghiệm...........................................................................112

Trung bình
Tỷ lệ

Quy định viết tắt
BTHD
ĐC
GDMN
GV
KN
KNSS
MN

SS
SL
TN
TB
TL


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1a. Phân bố mẫu nghiên cứu là giáo viên.......................................57
Bảng 2.1b. Trình độ đào tạo của giáo viên..................................................58
Bảng 2.2. Số lượng đối tượng cho trẻ so sánh qua hoạt động hình thành
BTHD và mức độ sử dụng............................................................................67
Bảng 2.3. Thực trạng sử dụng các hình thức để giáo dục KNSS..............68
Bảng 2.4. Nhận thức của GV về các biểu hiện KNSS của trẻ....................68
Bảng 2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục KNSS cho trẻ qua hoạt
hình thành BTHD và mức độ sử dụng........................................................69
Bảng 2.7. Các phương tiện giáo dục KNSS cho trẻ qua hoạt động...........73

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển với những vấn đề, những tình huống nảy sinh
trong cuộc sống hàng ngày đòi hỏi con người phải thích ứng, năng động để có thể
giải quyết được yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Chính trong những tình huống có
vấn đề ấy, tư duy con người được hình thành và phát triển. Trong quá trình giáo dục,
con người không chỉ giải quyết các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra mà còn tiến
hành tư duy nhằm lĩnh hội nền văn hóa xã hội để hình thành và phát triển nhân
cách, trên cơ sở đó đóng góp những kết quả hoạt động của mình vào kho tàng văn
hóa xã hội của loài người.
So sánh là một thao tác tư duy rất quan trọng đối với con người nói chung và
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nói riêng. “So sánh giúp con người nhận biết được sự giống
và khác nhau giữa các sự vật và hiện tượng có trong thế giới xung quanh, nhờ vậy
con người nhận biết thế giới đầy đủ và sâu sắc” [40].
Trong môi trường xung quanh, mỗi vật đều có những dấu hiệu nhất định về
màu sắc, hình dạng, kích thước, vị trí sắp đặt trong không gian... và con người đã
dựa vào những dấu hiệu này để phân biệt vật này với vật khác. Dấu hiệu hình dạng
là một trong những dấu hiệu bên ngoài mà dựa vào đó con người có thể tiến hành so
sánh và tạo nhóm các vật khác nhau.
Hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng là quá trình trẻ thực hiện các hành
động tác động vào sự vật nhằm tiếp nhận những hình ảnh về hình dạng của vật thể
và khái quát, lưu giữ, tái hiện lại trong ý thức của trẻ. Đó chính là điều kiện thuận
lợi để giáo dục KNSS cho trẻ, bởi trong hoạt động này trẻ được thực hành trải
nghiệm kĩ năng nhận biết, phân biệt sự giống nhau và khác nhau về số lượng, kích
thước, hình dạng và vị trí sắp đặt giữa các đối tượng hay nhóm đối tượng. Từ đó,
giúp trẻ có thái độ tích cực đối với hoạt động so sánh, biết vận dụng KNSS trong
các hoạt động đa dạng. Vì vậy, việc giáo dục KNSS cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ
quan trọng của giáo dục mầm non.



Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi
qua hoạt động hình thành BTHD, đề xuất các biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6


3

tuổi qua hoạt động hình thành BTHD nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục
KNSS và góp phần phát triển tư duy cho trẻ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động hình thành BTHD ở
trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động hình thành BTHD ở
trường mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Kĩ năng so sánh của trẻ 5 - 6 tuổi chịu ảnh hưởng bởi các biện pháp giáo dục của
GV. Nếu sử dụng một cách đồng bộ, linh hoạt các biện pháp nhằm kích thích hứng
thú, nhu cầu SS của trẻ; tạo cơ hội cho trẻ được tích cực trải nghiệm và giúp trẻ nắm
vững tiến trình SS thì kĩ năng so sánh của trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động hình thành
BTHD sẽ phát triển tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động
hình thành BTHD ở trường mầm non.
5.2. Đánh giá thực trạng giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động hình
thành BTHD ở trường mầm non.
5.3. Đề xuất các biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động hình
thành BTHD ở trường mầm non.
5.4. Thực nghiệm sư phạm một số biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi
qua hoạt động hình thành BTHD đã đề xuất.

trẻ, nhà giáo dục bao giờ cũng hướng vào vùng phát triển gần nhất của trẻ để có
những biện pháp giáo dục phù hợp
7.1.3. Quan điểm tiếp cận tích hợp
Vận dụng quan điểm tiếp cận tích hợp, luận án nghiên cứu giáo dục KNSS
qua hoạt động hình thành BTHD có lồng ghép các nội dung so sánh về màu sắc,
kích thước, số lượng, công dụng, chất liệu.
7.1.4. Quan điểm tiếp cận thực tiễn
Quan điểm tiếp cận này đòi hỏi nhà giáo dục phải phân tích được thực trạng
giáo dục KNSS cho trẻ ở trường MN, tìm ra nguyên nhân, những điểm mạnh, điểm


5

yếu để từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ phù hợp với thực tiễn
giáo dục ở trường MN.
7.1.5. Quan điểm tiếp cận hoạt động
KNSS của trẻ được thể hiện rõ nhất thông qua hoạt động. Vì thế nhà giáo dục
cần tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm với nhiều hoạt động phong phú, hấp dẫn
đòi hỏi trẻ phải sử dụng các hành động, các thao tác so sánh để giải quyết nhiệm
vụ, từ đó giáo dục KNSS cho trẻ.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2.1.1. Các phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết
Mục đích: nhằm xây dựng các luận cứ khoa học cho đề tài luận án, xây dựng
cơ sở lí luận và định hướng cho công việc nghiên cứu luận án
Nội dung nghiên cứu: các lí thuyết, các vấn đề lí luận cơ bản có liên quan đến
đề tài luận án, các kết quả nghiên cứu thực tiễn về vấn đề này...
Cách thực hiện: tra cứu, thu thập thông tin, tài liệu từ thư viện, internet, các
phương tiện thông tin đại chúng. Tổng hợp, phân tích các tài liệu, các công trình
nghiên cứu có liên quan tới luận án.

Mục đích: Nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi qua
hoạt động hình thành BTHD; bổ xung thêm thông tin và khẳng định thêm kết quả
nghiên cứu định lượng.
Nội dung nghiên cứu: Biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt
động hình thành BTHD; biểu hiện của KNSS qua hoạt động hình thành BTHD; ý
nghĩa của việc giáo dục KNSS; các yếu tố ảnh hưởng đến KNSS của trẻ qua hoạt
động hình thành BTHD.
Cách tiến hành: Xây dựng bảng phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn GVMN
đang dạy trẻ 5 – 6 tuổi (Phụ lục 1.3 )
7.2.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Mục đích: Nghiên cứu sản phẩm của GV để tìm hiểu thực trạng sử dụng biện
pháp giáo dục KNSS của GVMN hiện nay, phân tích sản phẩm của trẻ để đánh giá
mức độ phát triển KNSS của trẻ thông qua các tiêu chí đánh giá.
Nội dung nghiên cứu: kế hoạch, giáo án, bài tập.


7

Cách tiến hành: Thu thập các mẫu sản phẩm của GV (kế hoạch, giáo án tổ
chức các hoạt động hình thành BTHD), sản phẩm của trẻ thể hiện ở kết quả thực
hiện các bài tập (Phụ lục 1.5 ); phân tích chương trình và tài liệu hướng dẫn tổ chức
hoạt động hình thành BTHD cho trẻ 5 – 6 tuổi
7.2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Mục đích: Nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học và kiểm tra tính khả thi và
hiệu quả của biện pháp giáo dục KNSS đã đề xuất.
Nội dung nghiên cứu: Biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt
động hình thành BTHD ở trường mầm non.
Cách tiến hành: Thực nghiệm các biện pháp đề xuất vào nhóm TN, nhóm ĐC
thực hiện các biện pháp cũ.
7.2.3. Các phương pháp khác

9. Những đóng góp mới của luận án
9.1. Bổ sung thêm lí luận về giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động
hình thành BTHD giúp các nhà nghiên cứu, giáo viên ngành GDMN có thêm tài
liệu chuyên sâu về giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi.
9.2. Cung cấp tư liệu về thực trạng giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi qua
hoạt động hình thành BTHD giúp cho các trường MN có cái nhìn đúng đắn hơn
về hiệu quả giáo dục trẻ trong thực tiễn và làm cơ sở để điều chỉnh quá trình
giáo dục kịp thời.
9.3. Giới thiệu tài liệu về biện pháp giáo dục KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt
động hình thành BTHD giúp các trường mầm non có thể tham khảo và vận dụng
sáng tạo vào điều kiện giáo dục ở trường mình, góp phần nâng cao hiệu quả giáo
dục trẻ, đáp ứng yêu cầu xã hội hiện nay.

10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình công bố, danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5 - 6 tuổi qua
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt
động hình thành biểu tượng hình dạng.
Chương 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt
động hình thành biểu tượng hình dạng.
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm.


9

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SO SÁNH
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH
BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG

nhiêu. So sánh là cơ sở của hoạt động phân tích và của sự tri giác đúng đắn, rõ ràng
nhất những dấu hiệu của các đối tượng hoặc hiện tượng và của sự xác định những
điểm tương đồng, giống nhau hoặc khác nhau của các đối tượng hoặc hiện tượng ấy”.
- A. A. Liublinxkaia cũng cho rằng: “So sánh là cơ sở của mọi sự phân hóa,
phân loại và hệ thống hóa các sự vật và hiện tượng tiếp sau. Khi sử dụng so sánh, con
người nhận biết được các đặc điểm của mỗi đối tượng mới và của nhóm” [42, tr. 49].
Các nhà tâm lí học Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia,Trần Trọng Thủy,
Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành…[16], [72]... cho rằng: So
sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất
hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận
thức (sự vật, hiện tượng). So sánh có quan hệ chặt chẽ và dựa trên cơ sở phân tích,
tổng hợp. Nhờ so sánh mới tìm được những đặc điểm riêng, không bản chất cũng
như những dấu hiệu chung, bản chất của các sự vật, hiện tượng để trên cơ sở đó
thực hiện các thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa. Cũng theo họ: Khi tham gia
vào quá trình tư duy cụ thể thì các thao tác tư duy đều có mối quan hệ mật thiết máy
móc với nhau, thống nhất theo một hướng nhất định, do nhiệm vụ tư duy quy định.
Trong thực tế tư duy, các thao tác đó đan chéo nhau, chứ không theo trình tự nêu
trên và tùy theo nhiệm vụ, điều kiện tư duy, không nhất thiết trong hành động tư
duy nào cũng phải thực hiện tất cả các thao tác trên.
Khi nghiên cứu về KNSS và sự phát triển KNSS, tác giả A. I. Xôrôkina [77, tr.
6 - 7] cho rằng để hình thành các thao tác so sánh cho trẻ cần dạy trẻ phương pháp
so sánh, các bước của tiến trình so sánh và cách tìm ra các đặc điểm giống và khác
nhau của các đối tượng so sánh. Nghĩa là: khi so sánh đồ vật này với đồ vật khác cô
giáo dạy trẻ nêu lên những dấu hiệu giống và khác nhau. Đồng thời cô đặt ra cho trẻ
những câu hỏi đi sâu dần vào quá trình so sánh. Trẻ nhìn thấy những gì trong từng
đồ vật, chúng có màu sắc và hình dạng gì, có kích thước giống nhau hay khác nhau,
chúng gồm những bộ phận nào, bao nhiêu bộ phận trong vật này hay vật khác…Tùy
theo mức độ trẻ nắm được kĩ năng so sánh mà những câu hỏi được đặt ra dưới hình



những dạng cơ bản của các thuộc tính được dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh


12

thuộc tính của sự vật vô cùng đa dạng xung quanh các chuẩn đó” [71, tr. 298]
- Năm 1999, trong công trình nghiên cứu của mình, Vũ Thị Nho quan niệm trẻ
ở lứa tuổi nhà trẻ đã biết thực hiện thao tác so sánh: “Nhờ thao tác so sánh, đối
chiếu những thuộc tính bên ngoài của các đồ vật, trẻ có thể nhận ra người thân trong
ảnh và các đồ vật vẽ trong tranh một cách khá chính xác” [48, tr. 55].
- Đồng quan điểm với Vũ Thị Nho, tác giả Ngô Công Hoàn và Nguyễn Ánh
Tuyết cũng cho rằng thao tác so sánh được hình thành từ tuổi ấu nhi, trẻ đã biết “So
sánh miếng bánh này to hơn miếng bánh kia, quả táo này to hơn quả táo kia” [22, tr.
80] và đến mẫu giáo nhỡ: “Nhờ có sự tích lũy nhiều biểu tượng về các sự vật, hiện
tượng, con người,…và các mối quan hệ của chúng dưới dạng hình ảnh mà trẻ tiến
hành các thao tác tư duy với các nhiệm vụ đơn giản (tuy nhiên sự lắp ghép, so sánh
còn khập khiễng theo lối duy kỷ)” [22, tr. 138]
Như vậy, có thể thấy rằng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu KNSS của
trẻ mẫu giáo ở trong nước cũng như nước ngoài. Nhìn chung, phần lớn các công
trình đó vẫn chủ yếu đi vào nghiên cứu đặc điểm, mức độ phát triển KNSS của trẻ
mẫu giáo nói chung hay tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa KNSS với các thao
tác tư duy hoặc đề cập đến KNSS của trẻ trong một số lĩnh vực khác. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quá trình giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi
qua hoạt động hình thành BTHD. Do đó, bên cạnh việc tìm hiểu các công trình lí
luận nghiên cứu về sự phát triển KNSS nói chung của trẻ độ tuổi này, đề tài “Giáo
dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động hình thành BTHD” sẽ góp phần bổ sung,
hệ thống hóa các công trình lí luận nghiên cứu về sự phát triển KNSS của trẻ 5 - 6
tuổi nói riêng, trẻ mẫu giáo nói chung và hướng đến nhiệm vụ cụ thể là đề xuất một
số biện pháp nhằm giáo dục KNSS cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động này.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về hoạt động hình thành biểu tượng hình

giáo viên có thể sử dụng những câu trả lời sai để giúp trẻ đoán ra nó đã mắc những
lỗi gì. Phân tích những câu trả lời sai giúp trẻ hiểu được những khái niệm ẩn dưới
vấn đề và giúp trẻ có kĩ năng lí giải để đến câu trả lời đúng. Hãy yêu cầu trẻ giải
thích là nó đã giải quyết vấn đề này như thế nào. Cần khích lệ tính ưa mạo hiểm ở
trẻ, hãy cho chúng thấy được giá trị của việc thử giải quyết vấn đề, hãy cho trẻ thời
gian để khám phá các phương pháp khác nhau để giải quyết một vấn đề khó.
Khuyến khích trẻ nói về điều mà trẻ đang nghĩ tới. Điều này giúp trẻ tăng cường các
kĩ năng về toán học nói chung và biểu tượng hình dạng nói riêng để trở thành một


14

người suy nghĩ độc lập.
- Douglas Frye et al [84], khi nghiên cứu về việc hình thành BTHD cho trẻ, đã
quan tâm đến việc dạy trẻ quan sát và mô tả thế giới xung quanh bằng các hình hình
học giúp trẻ từ nhận biết các hình hình học một cách thụ động sang sử dụng ngôn
ngữ toán học một cách chủ động. Theo các tác giả, giáo viên cần sử dụng những câu
hỏi mở để kích thích trẻ suy nghĩ và mô tả ý tưởng của chúng theo phương pháp
toán học và tăng thêm những cuộc hội thoại về toán học trong lớp học. Họ cho rằng
nếu một đứa trẻ có thể mô tả cách chúng giải quyết vấn đề với đứa trẻ khác và sau
đó thì nghe đứa trẻ khác mô tả cách giải quyết vấn đề của chúng thì tất cả những
đứa trẻ sẽ học cách áp dụng những kiến thức toán học theo những cách mới.
Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả nhấn mạnh vai trò của việc liên kết
toán học với các hoạt động và tình huống hàng ngày ở trường, tạo cơ hội cho trẻ
làm chủ được các kĩ năng về toán học cũng như mở rộng hiểu biết lên một cấp độ
cao hơn hoặc một ngữ cảnh rộng hơn.
- Hội đồng Quốc gia giáo viên Toán ở Mỹ đã nghiên cứu và đưa ra khung
chương trình và những tiêu chuẩn đánh giá toán học trong nhà trường [95]. Chính
nhờ nghiên cứu này mà theo Jonh Dossey [89] đã dẫn đến một vài sự thay đổi
trong phương pháp dạy toán cho trẻ MN như giáo viên thành thạo hơn trong việc

còn có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động hình thành BTHD của các tác giả
như: Đỗ Thị Minh Liên, Đinh Thị Nhung, Nguyễn Duy Thuận, Trịnh Minh Loan,
Đào Như Trang… [41], [62] . Các tác giả này đã nghiên cứu đặc điểm nhận thức
của trẻ MN về biểu tượng hình dạng, trên cơ sở đó đề ra nội dung và phương pháp
hướng dẫn hoạt động hình thành BTHD của trẻ.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về giáo dục kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi qua hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng
Thế kỷ XX đã xuất hiện phương pháp hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ MN trong đó có phương pháp hình thành BTHD theo quan điểm hoạt động
của các nhà Tâm lý - Giáo dục học Liên Xô tiêu biểu như: A. M. Leusina; V .V.
Danhilova; V. P. Novikov…
A. M. Leusia trong nghiên cứu của mình [104] đã vạch ra những quy luật phát
triển, các giai đoạn phát triển biểu tượng hình dạng, bên cạnh đó tác giả cũng phân
tích và làm rõ khả năng so sánh hình dạng xuất hiện sớm ở trẻ 2 - 3 tuổi và khả


16

năng này ngày càng phát triển dưới tác động dạy học của người lớn, trẻ thực hiện
được các biện pháp thực hành so sánh hình dạng các đối tượng bằng cách khảo sát
các đối tượng đó và diễn đạt bằng lời nói các mối quan hệ hình dạng giữa các đối
tượng. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nội dung và một số biện pháp dạy trẻ so sánh
hình dạng các đối tượng.
Nhà giáo dục Nga L. X. Metlina trong cuốn sách “Toán học trong trường mầm
non ” [106] đã chỉ ra rằng, ngay từ lứa tuổi mầm non trẻ đã có khả năng nhận biết
được các biểu tượng sơ đẳng về số lượng, kích thước, hình dạng..., trẻ có khả năng
so sánh số lượng, kích thước, hình dạng... của các đối tượng và phản ánh kết quả so
sánh bằng lời nói. Tác giả đề xuất nhiệm vụ, nội dung dạy học theo lứa tuổi trẻ và
hệ thống các giờ học nhằm thực hiện các nội dung dạy học đã đề xuất.
Nhà giáo dục V.V. Danhilova [102] đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status