VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH HẠNH
TỰ DO HÓA DI CHUYỂN
LAO ĐỘNG CÓ CHUYÊN MÔN
TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM
Ngành: KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số: 9 31 01 06
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS Hoàng Thị Thanh Nhàn
2. PGS. TS Nguyễn Duy Lợi
Hà Nội, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan luận án được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc và
kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước đã được tiếp thu một cách chân
thực, cẩn trọng, có trích nguồn dẫn cụ thể trong luận án.
Hà Nội, ngày… tháng … năm 2019
Tác giả luận án
2.1.2. Các yếu tố tác động đến tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn
38
ii
2.1.3. Khung phân tích của luận án................................................................ 43
2.2. Tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trên thế giới...............44
2.2.1. Nhu cầu về lao động có chuyên môn trên thị trường lao động quốc tế
44
2.2.2. Chính sách đối với lao động có chuyên môn ở một số quốc gia 46
2.2.3. Xu hướng di chuyển lao động có chuyên môn trên thế giới................51
2.2.4. Các quy định, cam kết quốc tế về di chuyển lao động.......................... 55
Chương 3: THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG..........62
CÓ CHUYÊN MÔN TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN.................62
3.1. Khái quát Cộng đồng kinh tế ASEAN.........................................................62
3.1.1. Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN...............................62
3.1.2. Mục tiêu phát triển của Cộng đồng kinh tế ASEAN............................ 63
3.1.3. Các trụ cột chính trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và tiến độ thực
hiện các trụ cột chính trong Cộng đồng kinh tế ASEAN..................... 65
3.2. Tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng
kinh tế ASEAN...............................................................................................67
3.2.1. Nhu cầu tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng
kinh tế ASEAN....................................................................................... 67
3.2.2. Cơ sở pháp lý cho tự do di chuyển lao động trong Cộng đồng kinh tế
ASEAN....................................................................................................68
3.2.3. Thực trạng thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên
môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN..................................................72
3.3. Đánh giá chung về thực hiện tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn
trong Cộng đồng kinh tế ASEAN.................................................................87
3.3.1. Những kết quả đạt được.........................................................................87
ASEAN........................................................................................128
KẾT LUẬN...................................................................................................138
DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN.....................141
PHỤ LỤC......................................................................................................158
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
AEC
ASEAN
ADB
APEC
Tiếng Việt
Cộng đồng kinh tế ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Asia - Pacific Economic
Bình dương
Cooperation
Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN
AFTA
Hiệp hội thương mại tự do Châu Á
Ngân hàng phát triển Châu Á
APSC
ACPECC
Tiếng Anh
Ủy ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệp
ASEAN
Hội đồng Kiến trúc sư ASEAN
Thị trường chung Đông và Nam Phi
ASEAN Political - Security
Community
ASEAN Socio - Cultural
Community
ASEAN Free Trade Area
ASEAN Qualifications Reference
Framework
ASEAN University Network
ASEAN Chartered Professional
Engineer Coordinating
Committee
Asean Architect Council
Common Market for Eastern and
Southern Africa
Khu vực Kinh tế Châu Âu
ASEAN Agreement on Movement
nhân
of Natural Persons
Thỏa thuận công nhận lẫn nhau
Mutual recognition arrangements
MNP
MRA
NAFTA
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
Gross domestic product
International Organization for
Migration
North American Free Trade
Bảng 3.6: Điều kiện đối với việc thuê lao động trình độ cao người nước ngoài
của các quốc gia thành viên ASEAN..............................................................96
Bảng 3.7: Yêu cầu với lao động có chuyên môn nhập cư của các quốc gia
ASEAN............................................................................................................97
vii
Bảng 4.1: Tác động tích cực và tiêu cực đến lao động di cư sau khi đi xuất
khẩu lao động (tỷ lệ %).................................................................................105
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Di chuyển lao động là “một xu hướng đã và đang diễn ra giữa các nền kinh tế
các quốc gia trên thế giới. Việc này đem lại những lợi ích to lớn cho cả nước xuất
khẩu và nước nhập khẩu lao động” [2, tr.2]. Tại ASEAN, dòng di chuyển lao động
nội khối đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc
gia thành viên. Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN chính thức thành lập, các
quốc gia thành viên thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn
(skilled labour) thông qua các thỏa thuận về công nhận tay nghề tương đương và di
chuyển thể nhân; tạo cơ hội cho người lao động có chuyên môn ở quốc gia này dịch
chuyển sang quốc gia khác trong ASEAN, đáp ứng sự thiếu hụt nhân lực, cải thiện
thu nhập và tích lũy kinh nghiệm cho bản thân. Lao động di cư của các nước
ASEAN (ước tính khoảng 13-15 triệu người) chiếm 9% tổng số lao động di cư toàn
cầu; trong đó di chuyển lao động nội khối chiếm 40% (khoảng 5,9 triệu người) [30,
tr.15-16], với những luồng lao động khác nhau về tri thức, trình độ và nghề nghiệp.
Thực tế này mở ra cơ hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia
ASEAN, nhưng cũng đặt các quốc gia này trước những thách thức về phát triển
văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự và đặc biệt là những tác động đến thị trường lao
chỉ bằng 7% Singapore; 17,6% Malaysia; 36,5% Thái Lan; 42,3% Indonesia;
56,7% Philippines và 87,4% năng suất lao động của Lào [129]. Các chuyên gia của
ILO và ADB cũng cho rằng, lao động Việt Nam thiếu chuyên môn, kỹ năng được
trang bị không phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo
lại, v.v...[54]. Bên cạnh đó, hiểu biết của lao động Việt Nam về văn hóa doanh
nghiệp và pháp luật của nước bạn còn hạn chế, tinh thần làm việc theo nhóm và tác
phong công nghiệp chưa tốt, người lao động thiếu cả kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng
mềm. Việc không biết sử dụng tiếng Anh và thiếu kỹ năng sử dụng máy vi tính cũng
khiến cho doanh nghiệp khó tìm được người lao động phù hợp với yêu cầu công
việc [94, tr.7-8].
iệc thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên
môn tạo cơ hội cho doanh nghiệp tuyển dụng lao động từ các nước trong khối
ASEAN, điều này tác động không nhỏ đến thị trường lao động của iệt Nam. Đưa
chuyên gia, người lao động nước ngoài vào làm việc tại iệt Nam một mặt giúp
chuyển giao công nghệ, tạo cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm làm việc, đặc biệt
là kinh nghiệm quản lý; nhưng cũng khiến người lao động Việt Nam phải cạnh tranh
gay gắt trong tìm kiếm cơ hội việc làm ngay tại đất nước mình. R ràng việc thực
hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế
ASEAN đem lại cả cơ hội và thách thức cho thị trường lao động iệt Nam.
Vì vậy, để biết r những cơ hội và thách thức nhằm phát huy tốt nhất lợi thế của
lực lượng lao động iệt Nam, cần có những nghiên cứu sâu hơn. uất phát từ lý do
đó, việc nghiên cứu đề tài “Tự o hoá i chuyển lao động có chuy n n trong
Cộng đồng inh tế ASEAN và những vấn đề đặt ra cho Việt a ” là cần thiết cả về
mặt lý luận và thực tiễn đối với nước ta hiện nay. Công trình nghiên cứu sẽ giúp
Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thực hiện tốt các
cam kết về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế
ASEAN.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
hội, thách thức đối với Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết này.
- Về không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách tự do di
chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN của các quốc gia
ASEAN.
- Về thời gian: Tập trung vào quá trình thực hiện các cam kết về tự do di chuyển lao
động, đặc biệt từ năm 2006 (từ khi các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN họp lần thứ 38 và
ban hành Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC - AEC Blueprint - với các mục tiêu và
lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC) đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án được tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng nguyên lý của phép duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả xem xét vấn đề nghiên cứu trong bối
cảnh lịch sử cụ thể với các đặc trưng về kinh tế - văn hóa - chính trị. Trên cơ sở
phương pháp luận chung này, luận án được thực hiện với các cách tiếp cận sau:
- Cách tiếp cận tổng thể, toàn diện cho phép tác giả nghiên cứu và giải quyết các vấn
đề một cách tổng thể và toàn diện từ góc độ lý luận đến góc độ thực tiễn của
hội nhập kinh tế nói chung và thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động có chuyên
môn nói riêng, làm cơ sở, căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp để thực hiện tốt
cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế
ASEAN ở Việt Nam.
- Cách tiếp cận thực tiễn: cách tiếp cận này bảo đảm cho tác giả tiếp cận và giải quyết
các vấn đề liên quan đến việc thực hiện các cam kết về tự do hóa di chuyển lao
động có chuyên môn trong AEC của Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đề xuất
những kiến nghị và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong thời
gian tới.
- Cách tiếp cận hệ thống: việc nghiên cứu vấn đề tự do hoá di chuyển lao động có
chuyên môn trong AEC phải được đặt trong tổng thể xây dựng và phát triển Cộng
Thứ nhất, luận án nêu và phân tích về các quy định, các cam kết về tự do hóa
di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, cũng như thực
trạng các dòng di chuyển lao động tự do có chuyên môn trong nội khối ASEAN.
Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá việc thực hiện các cam kết về tự do hoá di
chuyển lao động có chuyên môn của Việt Nam, từ đó chỉ ra các tác động tiềm ẩn và
hiện hữu của việc thực hiện cam kết này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam, mà trọng tâm là tác động đến thị trường lao động Việt Nam.
Thứ ba, luận án đề xuất các giải pháp cho Việt Nam để có thể thực hiện tốt
hơn các cam kết đã ký, đồng thời tận dụng tối đa cơ hội từ việc thực hiện cam kết
này cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những kết quả đạt được của luận án sẽ góp phần vào việc làm sâu sắc hơn lý
luận về thị trường lao động có chuyên môn; về tự do hoá di chuyển lao động có
chuyên môn, về Cộng đồng kinh tế ASEAN và thực hiện các cam kết trong Cộng
đồng kinh tế ASEAN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả đạt được của luận án sẽ đóng góp vào tổng kết, đánh giá thực
tiễn thực hiện các cam kết về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong
AEC; đồng thời, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực,
phát triển thị trường lao động có chuyên môn ở Việt Nam phục vụ cho yêu cầu phát
triển đất nước nhanh, bền vững, hội nhập khu vực và thực hiện tốt các cam kết
Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu cần thiết cho nghiên cứu và giảng dạy những
vấn đề liên quan đến lao động, thị trường lao động có chuyên môn, Cộng đồng kinh
tế ASEAN, vấn đề di chuyển lao động trong hội nhập khu vực và quốc tế.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm bốn chương, cụ thể:
hoà Nhân dân Trung Hoa; đánh giá thị trường lao động Việt Nam và nghiên cứu hệ
thống chính sách toàn dụng lao động đối với các nước châu Á.
Cuốn sách “Thị trường lao động và phát triển kinh tế”, của Ravi Kanbur&Jan
Svejnar (chỉnh sửa) ấn hành năm 200 . Quyển sách phản ánh trong sự phát triển
kinh tế nói chung đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi nói riêng, việc phát
triển thị trường lao động là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Với
sự cạnh tranh ngày càng gia tăng do tác động của toàn cầu hoá, thị trường sức lao
động ngày càng linh hoạt hơn và tạo ra nhiều việc làm tốt hơn. Đồng thời, vấn đề an
ninh, chính trị do phân hoá thu nhập từ lao động cũng diễn ra phức tạp, đòi hỏi phải
có sự nhận thức mới hơn về thị trường lao động, nhất là về vấn đề xây dựng hệ
thống vận hành, điều tiết thị trường lao động ở tầm vĩ mô. Tổng quát hơn, đó là
nhận diện mới về thị trường lao động, về cấu trúc chức năng, hoạt động của thị
trường lao động để đề xuất, xây dựng các chính sách thay thế phù hợp trong bối
cảnh toàn cầu hoá.
Tổ chức lao động thế giới năm 2013 đã xuất bản cuốn sách với nhan đề:
“Research and Analysis of Vacancies and Skills Needs in the European Union,in the
Republic of Moldova and Ukrainean” (Những nghiên cứu về nhu cầu tuyển dụng
lao động có chuyên môn ở Liên minh châu Âu, tại Cộng hòa Moldova và Ukraina)
cuốn sách chỉ ra: xu hướng dịch chuyển của lao động đang diễn ra mạnh mẽ tại các
quốc gia Châu Âu. Việc làm trong ngành nông nghiệp ngày càng giảm trong mọi
nền kinh tế và ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển mạnh.
Ví dụ tại Cộng hòa Séc, trong khoảng từ năm 2010 đến 2020 các ngành nghề
mới như vận tải, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ ngoài thị trường sẽ tăng khoảng 14%,
trong đó các ngành nghề có kỹ năng thấp trong các nhà máy, xây dựng sẽ giảm, việc
làm sẽ tăng lên với người có trình độ, tay nghề cao. u hướng này cũng diễn ra
tương tự tại nhiều quốc gia Châu Âu như Pháp, Italy, Ukraine… Tại Pháp nhu cầu
lao động trong giáo dục, trong phát triển kinh tế sẽ tăng cao và giảm lao động trong
nông nghiệp, công nghiệp nhẹ như: dệt may, da giày, gỗ; công nghiệp máy móc,
trên thế giới và trình độ lao động hiện tại của các quốc gia đã chỉ ra: hiện nay đang
tồn tại nhu cầu toàn cầu về lao động chuyên môn cao và nhu cầu đối với lực lượng
lao động này sẽ ngày một gia tăng. Để tận dụng lợi thế cạnh tranh các quốc gia, các
công ty đang chạy đua thu hút nhân tài bằng nhiều biện pháp như nâng lương, quan
tâm đến đời sống xã hội người lao động; các quốc gia đã thay đổi thiết chế bằng
cách nới lỏng các điều luật về di trú, cấp visa, thị thực…
Để đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, năm
2010 Di Gropello, Emanuela xuất bản cuốn “Kỹ năng cho thị trường lao động ở
Philippines”. Quyển sách trình bày những kỹ năng mà người lao động cần trang bị
để tăng năng suất và chất lượng công việc, tăng khả năng cạnh tranh để có được
việc làm tốt hơn; phân tích vai trò của hệ thống giáo dục đào tạo đối với việc trang
bị kỹ năng cho người lao động.
Ở Việt Nam trong những năm qua cũng có nhiều công trình nghiên cứu về thị
trường lao động và dịch chuyển lao động, như: Cuốn sách “Thị trường lao động
thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Quang Hiển do nhà xuất bản Thống kê
ấn hành năm 1 5. Quyển sách trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường sức lao
động: sức lao động trở thành hàng hóa trong cơ chế thị trường, hàng hóa sức lao
động tuân thủ theo quy luật cung - cầu, vấn đề thất nghiệp, sự vận động của thị
trường lao động trên thế giới. Quyển sách mô tả thực trạng thị trường sức lao động
ở Việt Nam trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,từ đó đưa ra phương
hướng và giải pháp phát triển thị trường lao động ở Việt Nam bao gồm: phát triển
thị trường lao động nông thôn, phát triển thị trường lao động ở các đô thị và khu
công nghiệp tập trung, phát triển thị trường lao động khu vực không kết cấu, phát
triển thị trường lao động ở vùng ven biển, phát triển thị trường lao động thông qua
xuất khẩu lao động và giải pháp hoàn thiện thể chế, môi trường để thúc đẩy phát
triển thị trường lao động.
Cuốn sách “Thị trường lao động: cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của
Phạm Đức Chính do nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành 2006 có nội dung tập
trường sức lao động trình độ cao. Luận án cũng xây dựng hệ thống tiêu chí đánh
giá, cấu trúc và cơ chế vận hành của thị trường sức lao động trình độ cao với những
đặc điểm riêng, từ đó phân tích và đánh giá thực trạng lao động có trình độ cao ở
Việt Nam, tìm ra nguyên nhân hạn chế yếu kém của thị trường này. Trên cơ sở đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển thị trường sức lao động trình độ
cao ở Việt Nam như: giải pháp phát triển cầu sức lao động trình độ cao, nâng cao
chất lượng cung sức lao động trình độ cao, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý
nhà nước đối với thị trường sức lao động trình độ cao, v.v..
Đề tài khoa học cấp bộ “Thị trường hàng hoá sức lao động chất lượng cao”
do Nguyễn Minh Quang chủ nhiệm năm 2008. Hướng nghiên cứu chính của đề tài
là làm rõ những vấn đề mang tính lý luận về hàng hoá - sức lao động, về thị trường
sức lao động của C.Mác, từ đó đưa ra một số khái niệm về hàng hoá sức lao động
chất lượng cao; về sự cần thiết để phát triển loại hàng hoá chất lượng cao cũng như
phát triển thị trường sức lao động chất lượng. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất một
số giải pháp phát triển thị trường sức lao động chất lượng cao cho Việt Nam gồm:
giải pháp phát triển cung hàng hóa sức lao động chất lượng cao, giải pháp phát triển
cầu về thị trường sức lao động chất lượng cao, v.v...
Bài viết “Định hướng phát triển thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 20112020” do Nguyễn Bá Ngọc thực hiện năm 2011 đăng trên Bản tin số 26 Viện Khoa
học Lao động xã hội đã đánh giá tổng quan và xu hướng phát triển thị trường sức
lao động Việt Nam, chỉ ra những yếu kém của thị trường sức lao động Việt Nam
đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Từ
đó, tác giả cho rằng để phát triển thị trường sức lao động Việt Nam giai đoạn 20112020, cần phải thiết kế đồng bộ luật pháp, cơ chế chính sách nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực cũng như năng lực, trình độ của các chủ thể tham gia thị trường lao
động, đặc biệt là vai trò của nhà nước.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về di chuyển lao động
Di chuyển lao động quốc tế không phải là vấn đề của riêng của nào, để thực
hiện tốt vấn đề này cần sự hợp tác giữa các quốc gia ở các cấp từ song phương, đa
phương, khu vực và quốc tế. Để đối thoại với nhau, các quốc gia cần có một cơ sở
lập, tuy nhiên mãi đến năm 2007 việc di chuyển lao động tự do trong nội khối mới
được thực hiện như một quyền cơ bản thực sự; theo quy định hiện hành người nhập
cư làm việc tại quốc gia sở tại trong 5 năm, họ sẽ trở thành công dân của quốc gia
đó. Thị trường chung Đông và Nam Phi cũng đưa ra hiệp ước COMESA, quy định
lao động được tự do di chuyển giữa các quốc gia trong khu vực, nhưng trong quá
trình thực hiện những quy định này gặp phải nhiều rào cản ở các tầng lớp khác
nhau. Những rào cản này được chia làm ba loại chính: Loại thứ nhất, liên quan đến
các vấn đề nhập cư, đặc biệt là các rào cản có liên quan đến thị thực; Loại thứ hai,
liên quan đến những đối xử mang tính phân biệt với các cá nhân cung cấp dịch vụ
nước ngoài; Loại thứ ba, liên quan đến việc không công nhận một cách thỏa đáng
về trình độ đào tạo và kinh nghiệm.
Trong cuốn sách “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thị
trường chung và việc làm tốt hơn” đã chỉ r , vấn đề lao động là nội dung xuyên suốt
trong tất cả các trụ cột của Cộng đồng ASEAN. Các thành tố về lao động của Cộng
đồng ăn hóa ã hội ASEAN (ASCC) xen lẫn và bổ sung cho các hướng hành
động về lao động của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Các thành tố này gồm:
ủng hộ nguyên tắc việc làm tốt, đảm bảo an toàn cho người lao động di cư, thúc đẩy
đầu tư nâng cấp nguồn nhân lực và kỹ năng, đặc biệt là cho các nhóm dễ bị tổn
thương. Cuối cùng, để giải quyết vấn đề lao động trong Cộng đồng Chính trị - An
ninh ASEAN (APSC) cần phải tăng cường xử lý hình sự chống buôn bán người và
tiến hành những biện pháp bảo vệ tốt hơn cho nạn nhân của buôn bán người. Tuy
nhiên, chính sách quản lý các dòng di cư trong khuôn khổ ACE hiện nay mới đang
giới hạn cho lao động tay nghề cao thông qua việc thực thi các thỏa thuận thừa nhận
lẫn nhau (MRA).
Trong khi đó, việc thực thi các MRA vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn vì một
số lý do như: Thứ nhất, các nước có sự khác nhau đáng kể trong giáo dục và kiểm
tra sát hạch để được cấp chứng chỉ nghề nghiệp, và các hiệp hội nghề nghiệp
thường lưỡng lự trước việc thay đổi tiêu chuẩn hiện có của họ hay việc cho phép
dịch chuyển lao động trong các Hiệp định thương mại khu vực, như điều khoản di
chuyển lao động của Liên minh Châu Âu EU, Hiệp hội thương mại tự do Châu Âu
(EFTA); Thị trường chung Đông và Nam Phi (COMESA); Hiệp định Quan hệ Kinh
tế gần gũi hơn giữa Úc và New Zealand (ANZCERTA); Nghị định thư thứ hai về
thiết lập cơ sở, dịch vụ và vốn trong khuôn khổ Cộng đồng Caribe (CARICOM) và
thỏa thuận song phương giữa các quốc gia về di cư lao động.
Cuốn sách “Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt
Nam” của tác giả PGS. TS. Phan Huy Đường (Chủ biên) do nhà xuất bản Chính trị
quốc gia ấn hành 2012. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề chung và
kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài chất lượng
cao, công trình nghiên cứu đã khẳng định: Dòng lao động nước ngoài chất lượng
cao vào Việt Nam làm việc có tác động tích cực đến tăng trường của nền kinh tế,
ứng dụng các công nghệ, kinh nghiệm quản lý, gia tăng kim ngạch thương mại giữa