Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước của thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 57

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS. Trần Hùng. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Phương Thảo

LỜI CẢM ƠN


ii

Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau Đại học - Trường Đại
học Thương Mại đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Thầy giáo PGS, TS. Trần Hùng đã tận tình hướng dẫn, chỉ dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Các đồng nghiệp, bè bạn và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động
viên khích lệ tôi, đồng thời có những ý kiến đóng góp trong quá trình tôi thực
hiện và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Phương Thảo

MỤC LỤC

CNH – HĐH

Kho bạc nhà nước
Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Đơn vị sử dụng ngân sách
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa


iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1:

Tình hình chi NSNN trên địa bàn thành phố....Error: Reference source
not found

Bảng 2.2:

Tình hình chi thường xuyên của thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
.........................................................Error: Reference source not found

Bảng 2.3:

Tình hình chi NSNN cho quản lý hành chính thành phố Uông BíError:
Reference source not found

Bảng 2.4:


Phân bổ dự toán thu chi NSNN cho đơn vị Thành ủy thành phố Uông
Bí năm 2016.....................................Error: Reference source not found

Bảng 2.11:

Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc nhà nước thành
phố Uông Bí.....................................Error: Reference source not found

SƠ ĐỒ
1............................................................................................................................................57
Tiền lương............................................................................................................................57


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi nền kinh tế, ngân sách nhà nước (NSNN) luôn là nguồn đảm
bảo tài chính cho mọi hoạt động và chi tiêu NSNN có vai trò rất quan trọng
đối với sự tồn tại, đảm bảo thực hiện chức năng cũng như phát huy vai trò của
Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, việc quản lý nhằm nâng
cao hiệu quả chi tiêu NSNN từ Trung ương đến địa phương có ý nghĩa quyết
định đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.
Trong những năm gần đây, thành phố Uông Bí luôn duy trì được mức
tăng trưởng kinh tế - xã hội khá cao với sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng
tích cực. Thu - Chi NSNN trên địa bàn thành phố đã đạt được những thành
tựu đáng ghi nhận. Chi NSNN đã tập trung giải quyết những vấn đề trọng
tâm, trọng điểm nhất của thành phố như đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng,
phát triển đô thị, các cơ sở y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao, môi
trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội…, thúc đẩy

địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính Hà
Nội, đã phân tích tác động của các yếu tố, đặc điểm về kinh tế - xã hội cũng
như đặc điểm tự nhiên để nêu ra được các thực trạng còn tồn tại trong việc
quản lý ngân sách địa phương, từ đó tìm ra các giải pháp tăng cường việc
quản lý ngân sách địa phương góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh;
- Bùi Huy Trường (2010), Luận văn “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi
NSNN qua Kho bạc Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ
kinh tế. Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận chi NSNN và quản lý chi NSNN
qua Kho bạc Nhà nước và hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho
bạc Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Qua đó cũng chỉ ra được một số tồn
tại trong chi NSNN qua KBNN trong cơ chế kiểm soát, xét duyệt hồ sơ, yếu
kém của cán bộ, và hệ thống thông tin.


3

- Nguyễn Văn Bình (2010), Luận án tiến sỹ: “ Nâng cao hiệu quả, hiệu
lực thanh tra tài chính dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn NSNN ở Việt
Nam”. Luận án đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động
thanh tra tài chính dự án đầu tư xây dựng. Tuy nhiên các giải pháp còn chung,
chưa thể hiện đó là những giải pháp có tính ứng dụng thực tiễn cao trong hoạt
động thanh tra tài chính dự án đầu tư xây dựng.
Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đều tập trung
nghiên cứu về các chính sách tài chính vĩ mô và quản lý NSNN nói chung
hoặc quản lý NSNN tại một địa phương đơn lẻ hay mới chỉ ra giải pháp quản
lý ngân sách áp dụng cho từng vùng, miền cụ thể, các công trình nghiên cứu
trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về quản lý NSNN nhưng những
vấn đề nghiên cứu trên đã khá lạc hậu so với tình hình hiện nay.
Tuy nhiên, tại địa bàn Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh có rất ít đề
tài khoa học, luận văn đề cập đến vấn đề này, nhất là kể từ khi Luật Ngân sách

Về không gian, luận văn nghiên cứu quản lý chi thường xuyên ngân sách
nhà nước tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;
Về thời gian, luận văn thu thập dữ liệu thực tế về chi thường xuyên ngân
sách nhà nước giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015, các đề xuất định hướng
đến năm 2020.
Về nội dung, luận văn tập trung chủ yếu phân tích thực trạng nội dung
quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thành phố Uông Bí, tỉnh
Quảng Ninh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu được sử dụng trong luận văn là dữ liệu thứ cấp: Những vấn đề lý
luận cơ bản về NSNN nói chung và ngân sách thành phố nói riêng được thu
thập và hệ thống hóa từ các tài liệu, giáo trình, sách báo, tạp chí chuyên
ngành, các báo cáo tổng kết và hội thảo của các tổ chức kinh tế và của các cơ
quan nghiên cứu, các công trình nghiên cứu có liên quan, văn bản pháp luật
và thông qua các ý kiến của các chuyên gia, đồng nghiệp. Bên cạnh đó, dữ


5

liệu thứ cấp được sử dụng trong luận văn này còn bao gồm: đặc điểm tự
nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Uông Bí, tình hình chi thường xuyên
NSNN của địa phương qua các năm (2013-2015) theo dự toán và quyết toán,
được thu thập tại các cơ quan như Phòng Tài chính – Kế hoạch, Chi cục
Thống kê, Phòng Kinh tế,… Do các đơn vị quyết toán tài chính năm 2016
muộn nên luận văn chỉ khai thác số liệu đến năm 2015.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như phương
pháp so sánh (đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng
hóa có cùng nội dung, tính chất để xác định mức, xu hướng biến động của nó
trên cơ sở đánh giá thông qua tính toán các tỷ số, so sánh thông tin từ các
nguồn khác nhau ở các thời điểm khác nhau,…); phương pháp thống kê mô tả

nợ… được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có: ngân sách nhà
nước. Như vậy, ngân sách nhà nước (NSNN) là ngân sách của nhà nước, hay
Nhà nước là chủ thể của ngân sách đó. Ngân sách nhà nước là khái niệm quen
thuộc theo nghĩa rộng mà bất kỳ người dân nào cũng biết được, song lại có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách nhà nước:
Theo giáo trình Quản lý tài chính công của PGS.TS Dương Đăng Chinh,
TS. Phạm Văn Khoan (2007) : “Ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự
vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền
tệ của nhà nước - quỹ ngân sách - để phục vụ cho việc thực hiện các chức
năng của nhà nước” [6,83].
Giáo trình Kinh tế chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là khâu tài chính tập trung nhất, là


7

kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của nhà nước. Nó giữ vai trò chủ đạo
trong hệ thống tài chính và có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” [8, 84].
Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoài
của NSNN và mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước và ngân sách nhà nước.
Trong hệ thống tài chính, NSNN là yếu tố chủ đạo, đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực nhà nước. Tại
Việt Nam, Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua
ngày 16/12/2002 định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu,
chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng và nhiệm vụ của nhà nước”. Đây là khái niệm cơ bản được thống nhất
khi nghiên cứu về ngân sách nhà nước.
Hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu (sử dụng) quỹ

thứ hai của NSNN là giám đốc quá trình huy động các khoản thu và thực hiện
các khoản chi. Thông qua chức năng này, NSNN kiểm tra, giám sát quá trình
động viên các nguồn thu, tránh tình trạng trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của
các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp
luật, coi thường pháp luật và các chính sách động viên khác. Trong khâu cấp
phát nếu buông lỏng việc kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm
sai luật định và các chế độ chi quy định. Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm
soát hoạt động thu chi NSNN giúp ta giám sát việc chấp hành các chế độ,
chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội của vốn NSNN, hiệu quả của các chủ trương, chính sách, chế
độ do Đảng và Nhà nước đề ra.
NSNN có vai trò rất to lớn trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an
ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Vai trò đó thể hiện trên các mặt
như: vừa là công cụ huy động nguồn tài chính, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô


9

nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục những khiếm khuyết của
kinh tế thị trường, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
NSNN có hai nội dung cơ bản là thu và chi NSNN. Để có kinh phí chi
cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản
thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình.
Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình
để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà
nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước. Chi ngân sách nhà nước là
việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện
chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN bao
gồm nhiều khoản chi khác nhau tùy theo cách phân loại. Phân loại phổ biến
nhất theo thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN bao gồm : chi

quản lý các khoản chi được trở nên dễ dàng và minh bạch hơn, một số căn cứ
phân loại phổ biến hiện nay tại Việt Nam, đó là:
Căn cứ vào tính chất kinh tế thì chi thường xuyên được chia thành 4
nhóm sau:
Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân bao gồm: tiền lương; phụ
cấp lương cho những lao động được hưởng theo ngân sách; học bổng học
sinh, sinh viên; phúc lợi tập thể; chi cho công tác người có công với cách
mạng và xã hội; hỗ trợ cho quỹ lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội; các
khoản thanh toán khác cho cá nhân.
Nhóm các khoản chi các nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dịch vụ
công cộng; vật tư văn phòng; thông tin truyền thông liên lạc; hội nghị; công
tác phí; chi phí thuê mướn; chi sửa chữa thường xuyên; chi nghiệp vụ chuyên
môn của từng ngành.
Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây
dựng nhỏ gồm: sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công
trình cơ sở hạ tầng; mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn.
Nhóm các khoản chi thường xuyên khác gồm: các mục của mục lục


11

ngân sách nhà nước không nằm trong 3 nhóm mục trên (trong đó, bao gồm
các mục từ 147 đến mục 150 thuộc khoản chi thường xuyên trong mục lục
ngân sách nhà nước).
Căn cứ vào mục đích chi: chi thường xuyên bao gồm các khoản sau:
Chi cho sự nghiệp kinh tế: hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế
nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế-xã
hội và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách
thuận lợi. Mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là
kinh doanh lấy lãi, do vậy NSNN cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động

Chi thường xuyên ngân sách nhà nước có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên NSNN đều mang tính
ổn định; có hiệu lực trong khoảng thời gian ngắn, thường là hàng tháng, hàng
quý, hàng năm.
Thứ hai, các khoản chi thường xuyên phần lớn mang mục đích tiêu dùng,
nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp,
an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động xã hội khác do
Nhà nước tổ chức. Nếu chi đầu tư phát triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất – kỹ
thuật cần thiết để thúc đầy sự phát triển của đất nước trong tương lai, thì chi
thường xuyên lại không trực tiếp tạo ra của cải vật chất mà chủ yếu để đáp
ứng nhu cầu chi thực nhiệm nhiệm vụ quản lý của Nhà nước ngay trong năm
ngân sách hiện tại.
Thứ ba, phạm vi và mức độ của chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ
cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong cung
ứng các hàng hóa công cộng. Là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nên
tất yếu quá trình phân phối và sử dụng nguồn vốn NSNN luôn phải hướng vào
việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước đó. Nếu một bộ
máy nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên NSNN
được giảm bớt và ngược lại.


13

1.2.QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN CẤP QUẬN, HUYỆN
1.2.1. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý chi ngân sách là việc tổ chức quản lý giám sát quá trình phân
phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng
của Nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Chi ngân
sách mới chỉ thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân

Quản lý chi NSNN nhằm đảm bảo các khoản chi NSNN được sử
dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, không để thất thoát, lãng phí và
đem lại hiệu quả cao nhất, đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế,
chính trị, xã hội.
Hơn 30 năm quy hoạch, chuyển đổi, nền kinh tế nước ta từ cơ chế tập
trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mang lại
hiệu quả. Đất nước ta đang từng ngày thay da đổi thịt, nền kinh tế ngày càng
năng động hơn, từng bước hội nhập cùng khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, để tiến tới một nền kinh tế đủ mạnh có thể hội nhập cùng khu
vực và thế giới, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, một trong những việc
cấp bách đó là phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội cho phù hợp.
Bắt nguồn từ yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, công tác
quản lý NSNN của địa phương trong điều kiện hiện nay cần thiết phải được
củng cố, tăng cường, góp phần làm lành mạnh nền tài chính quốc gia, tăng
cường nội lực bằng tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý NSNN để đẩy mạnh
và thực hiện thắng lợi sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân. Tăng cường công tác quản lý NSNN ở địa
phương còn là vấn đề phát huy được vai trò của chính quyền địa phương
trong việc nâng cao hiệu quả của những nguồn thu đáp ứng cho các khoản
chi, mỗi đồng chi đều tiết kiệm nhưng có hiệu quả, đảm bảo đúng chính sách,
chế độ, định mức.
Trước yêu cầu đòi hỏi trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và đứng
trước thực trạng công tác quản lý NSNN ở địa phương, cần thiết phải có
những biện pháp nhằm tăng cường nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSNN


15

ở địa phương, nhằm góp phần hoàn chỉnh cơ chế quản lý ngân sách địa
phương, đảm bảo cho ngân sách địa phương có thể chủ động đáp ứng được

16

phải giải quyết tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát
trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi phải có
trong dự toán NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp
có thẩm quyển quy định và phải được thủ trưởng đơn vụ sử dụng kinh phí
NSNN hoặc người được ủy quyền quyết định chi.
Thứ hai, tất cả các cơ quan đơn vị, các chủ dự án,… sử dụng kinh phí
NSNN (gọi chung là đơn vị sử dụng NSNN) phải mở tài khoản tại Kho bạc
nhà nước, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan, tổ chức, Kho bạc nhà nước
trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát thanh toán, hạch toán
kế toán và quyết toán NSNN;
Thứ ba, Bộ Tài chính, Sở Tài chính – Vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, phòng tài chính kế hoạch quận, huyện, thị xã, thành phố trực
thuộc tỉnh (gọi chung là các cơ quan tổ chức) có trách nhiệm thẩm định dự
toán và thông báo dự toán đã được thẩm tra cho các đơn vị thụ hưởng kinh
phí ngân sách; kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của
các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN;
Thứ tư, Kho bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng
từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi
NSNN theo đúng quy định; tham gia với các cơ quan tổ chức, cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác
định số thực chi NSNN. Kho bạc nhà nước có quyền tạm định chỉ, từ chối
thanh toán, chi trả và thông báo cho các đơn vị sử dụng NSNN biết, đồng thời
gửi cho cơ quan tổ chức đồng cấp giải quyết trong các trường hợp sau:
- Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt;
- Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính Nhà nước;
- Không đủ các điều kiện về chi theo quy định.
Thứ năm, mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam

Kiểm
* Yêu cầu của việc lập dự toán
Dự toán ngân sách nhà nước hàng năm được lập căn cứ vào nhiệm vụ


18

phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh. Việc lập dự toán
ngân ách địa phương cũng không nằm ngoài những điều kiện trên.
Các khoản chi ngân sách trong dự toán ngân sách phải được xác định
trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Đối với chi thường xuyên, việc lập dự toán phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế,
phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định. Đối với trả nợ phải căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ của
năm dự toán.
Dự toán ngân sách cấp huyện, thành phố được tổ chức xây dựng, tổng
hợp từ cơ quan thu, đơn vị sử dụng ngân sách, đảm bảo đúng thời gian và
biểu mẫu quy định.
Dự toán ngân sách cấp huyện, thành phố phải tổng hợp theo từng lĩnh
vực thu, chi, theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi
trả nợ.
* Căn cứ lập dự toán chi ngân sách cấp quận, huyện
Dự toán ngân sách nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
và đảm bảo quốc phòng an ninh; chỉ tiêu nhiệm vụ của năm kế hoạch và
những chỉ tiêu phản ánh quy mô, nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện
kinh tế - xã hội và tự nhiên.
Để đảm bảo cho việc quản lý ngân sách được tốt, hiệu quả thì công tác
lập dự toán chi ngân sách của địa phương đặc biệt chú ý các điểm sau:
+ Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào các dự
án phù hợp với quy hoạch được duyệt, những dự án có đủ điều kiện bố trí vốn

* Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của phòng Tài chính – Kế hoạch
cấp huyện, thành phố trong quá trình lập dự toán chi ngân sách cấp quận,
huyện. Hàng năm cùng các cơ quan đơn vụ thủ hưởng ngân sách trên địa
bàn, Ủy ban nhân dân cấp dưới thảo luận về dự toán ngân sách. Đối với các
khoản chi trong dự toán chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức, chưa tiết


20

kiệm, chưa phù hợp với khả năng ngân sách và định hướng phát triển kinh tế
- xã hội.
Trong quá trình thảo luận để tổng hợp và lập dự toán ngân sách, nếu còn
có ý kiến khác nhau, cơ quan tài chính ở cấp quận, huyện phải báo ngay cho
Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.
Chủ trì phối hợp với cơ quan thuế và đơn vị khác liên quan trong việc
tổng hợp lập dự toán ngân sách và phương án phân bổ dự toán ngân sách của
cấp mình.
Phối hợp với đơn vị, Ban quản lý dự án công trình, phòng Quản lý đô thị
trong việc lập và phân bổ dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản cho từng đơn
vụ, từng dự án, công trình.
Tham mưu, đề xuất ý kiến về giải pháp và các phương án cân đối ngân
sách địa phương nhằm tăng cường thực hiện chính sách tiết kiệm chi ngân
sách, đảm bảo đúng chế độ chính sách.
Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp quận, huyện xem xét dự toán của các
đơn vụ thuộc ngân sách cấp quận, huyện, dự toán chi ngân sách của các xã,
phường lập. Tổng hợp trình Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố để báo
cáo thường trực Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh,
đồng thời gửi Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Bước 2: Chấp hành ngân sách nhà nước
* Chấp hành chi ngân sách: Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách,

các biện pháp quản lý chi.
Bước 3: Quyết toán ngân sách nhà nước
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước phải tổ chức
hạch toán, kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán của Nhà nước.
Cơ quan Kho bạc nhà nước tổ chức thực hiện hạch toán kế toán ngân
sách nhà nước; định kỳ báo cáo việc thực hiện tiến độ dự toán chi cho cơ quan
Tài chính và cơ quan nhà nước hữu quan.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status