Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11 - Pdf 57

SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

SỞ GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO QUẢNG NAM
TRƯỜNG THPT BẮC TRÀ MY

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
*******************

ĐỀ TÀI:

PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC HIỂU
TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11
GV: NGUYỄN THỊ BÉ
TỔ: NGỮ VĂN

Bắc Trà My, Tháng 5 năm 2018

1

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tầm quan trọng của vấn đề
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội con
người. Có thể nói nhiệm vụ chủ yếu của văn học là sự phản ánh hiện thực, vinh dự lớn
lao nhất của nhà văn là sự phản ánh cho được đời sống chiến đấu và sản xuất của nhân
dân.

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

Việt Nam trung đại. Cái hay mỗi thời mỗi khác, có những cái mà quan niệm xưa cho là
hay là đẹp thì nay đã trở nên xa lạ, nếu không có vốn tri thức nhất định về văn hóa,
văn học thì không thể hiểu được.
Là một giáo viên dạy văn, tôi luôn mong muốn học sinh mình có khả năng cảm
thụ, say mê các tác phẩm văn học trung đại nói riêng, với bộ môn văn học nói chung
để có thái độ trân trọng đối với di sản văn hóa dân tộc.
3. Lí do chọn đề tài:
Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã luôn khẳng định giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai trò chính
yếu của Nhà nước, được ưu tiên trước nhất, thậm chí đi trước một bước so với các
chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác. Trong những năm gần đây, việc đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được cả xã hội quan tâm. Theo tinh thần Nghị
quyết 29 - NQ/TƯ về việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo thì phương
pháp dạy học văn cũng cần phải thay đổi để kịp với yêu cầu thực tiễn. Hơn nữa sự
cách biệt giữa hai thời đại: trung đại và hiện đại khiến cho cả người dạy (giáo viên) lẫn
người học (học sinh) đều có cái nhìn có phần hạn hẹp về văn hóa, văn học thời trung
đại.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn như hiện nay, với sự phát triển hối hả của thời
buổi kinh tế thị trường, của công nghệ số, việc tiếp cận và tìm hiểu tác phẩm văn học
cổ, văn học trung đại không tạo nên mấy hứng thú với các em học sinh phổ thông.
Nhìn lại thực tế dạy học tác phẩm văn học trung đại lớp 11 thì thấy rằng cả giáo
viên lẫn học sinh đều chưa chủ động trong việc tiếp cận, tìm hiểu tác phẩm văn học
trung đại, những tác phẩm có khoảng cách khá xa với chúng ta về thời gian lịch sử.
Với tư cách là một giáo viên nhiều năm giảng dạy môn ngữ văn lớp 11, tôi luôn
trăn trở làm thế nào để có thể giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam đạt

Văn học trung đại là thời kì văn học lớn của dân tộc (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ
XIX), được gọi bằng những cái tên khác nhau như văn học phong kiến, văn học bác
học, văn học thành văn, văn học cổ điển. Bởi từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, văn học
trung đại phát triển trong một môi trường xã hội phong kiến với ý thức hệ nho giáo,
lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức. Văn học trung đại tồn tại và phát triển
trong suốt mười thế kỉ nhưng không bao giờ tách khỏi chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa
nhân đạo và cảm hứng thế sự.
- Chủ nghĩa yêu nước:
Chủ nghĩa yêu nước là nội dung lớn, xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển
của văn học trung đại Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước gắn liền với tư tưởng “trung
quân ái quốc”. Nó được thể hiện rất phong phú, đa dạng, có khi là âm điệu hào hùng
khi đất nước chống giặc ngoại xâm, có khi là âm điệu bi tráng lúc nước mất nhà tan,
có khi là giọng điệu thiết tha khi đất nước trong cảnh thái bình.
4

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

- Chủ nghĩa nhân đạo:
Chủ nghĩa nhân đạo cũng là nội dung lớn, xuyên suốt quá trình phát triển của
văn học trung đại Việt Nam. Khi vận mệnh cá nhân con người, quyền sống, quyền
hạnh phúc của con người bị đe dọa thì chủ nghĩa nhân đạo lại thăng hoa rực rỡ. Văn
học trung đại Việt Nam luôn gắn bó với số phận con người. Chủ nghĩa nhân đạo có
hàm chứa chủ nghĩa yêu nước bởi có những bài ca yêu nước thể hiện nỗi băn khoăn,
day dứt trước số phận con người, qua việc ca ngợi vẻ đẹp con người, đồng cảm với bi
kịch con người, đồng tình với ước mơ, khát vọng con người, lên án các thế lực tàn
bạo.
- Cảm hứng thế sự:

+ Tuy nhiên trong quá trình phát triển văn học trung đại có xu hướng ngày càng
gắn bó với hiện thực đã đưa văn học gắn với đời sống hiện thực, tự nhiên và bình dị.
- Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Văn học trung đại Việt Nam phát triển theo qui luật vừa tiếp thu vừa dân tộc
hóa văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc về ngôn ngữ, về thể loại, về
thi liệu.. Văn học trung đại đã sáng tạo ra chữ Nôm, biểu đạt nghĩa tiếng Việt dùng chữ
Nôm trong sáng tác, sử dụng lời ăn tiếng nói, cách diễn đạt của nhân dân trong sáng
tác.
1.3. Kết luận.
Với nội dung và đặc điểm như thế, có thể nói lâu nay văn học trung đại vẫn là
một mảng khó tiếp cận đối với số đông người học, bởi rào cản về ngôn ngữ, văn tự,
khoảng cách về văn hóa giữa quá khứ và hiện tại dẫn đến việc dạy và học phần văn
học trung đại gặp nhiều khó khăn.
2. Cơ sở thực tiễn:
Văn học trung đại là một thời kì lớn của nền văn học dân tộc, là nền tảng hình
thành nên nền văn học hiện đại của nước nhà. Đây là thời kì văn học phát triển trong
thời gian dài, phong phú, đạt được nhiều thành tựu với những đỉnh cao như Nguyễn
Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương...
Nhìn lại chương trình ngữ văn 11, những tác phẩm văn học trung đại chiếm số
lượng không nhỏ, việc dạy cho hay, hiểu cho đúng những tác phẩm này vẫn là thách
thức và mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên, học sinh. Bởi lẽ trong quá trình tiếp
nhận cả giáo viên và học sinh đều gặp phải những khó khăn cơ bản như:
- Thứ nhất: văn học trung đại viết theo hệ thống thi pháp cũ, dùng nhiều điển
tích, điển cố, thủ pháp ước lệ tượng trưng, có nhiều từ cổ mà hiện nay ít sử dụng, khó
thuộc, khó nhớ.
- Thứ hai: vấn đề ngôn ngữ. Cả giáo viên lẫn học sinh hầu như chỉ tiếp nhận tác
phẩm thông qua các bản dịch nghĩa và dịch thơ. Do đó việc hiểu sai hoặc chưa đầy đủ
các lớp nội dung, ý nghĩa cũng như vẻ đẹp nghệ thuật của các tác phẩm rất hay xảy ra.
6


trung đại nhằm giúp học sinh có một số định hướng chung làm nền tảng để tiếp cận và
phân tích các tác phẩm văn học tốt hơn.
3.1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
- Muốn bài dạy đạt hiệu quả cao, trước hết người giáo viên cần chú trọng và
thực hiện nghiêm túc các khâu chuẩn bị trước khi lên lớp. Đồng thời bằng các nghiệp
vụ sư phạm có tính giáo dục cao, giáo viên rèn cho học sinh một cách nề nếp ý thức
chuẩn bị bài ở nhà, tinh thần, thái độ học tập trên lớp.
7

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

- Việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà là một khâu quan trọng vì vừa
củng cố lại kiến thức cũ (học lại bài cũ), đồng thời bước đầu tự tìm hiểu, khám phá
kiến thức mới (soạn bài mới). Nhưng bước này có thu được hiệu quả hay không không
chỉ tùy thuộc vào học sinh và còn tùy thuộc vào cả giáo viên vì nếu giáo viên không tổ
chức hướng dẫn công việc cụ thể cho học sinh thì học sinh sẽ rất lúng túng. Do vậy
yêu cầu quan trọng là giáo viên phải giao việc cụ thể cho học sinh chuẩn bị ở nhà.
+ Nhằm tạo hứng thú thu hút học sinh chuẩn bị bài ở nhà giáo viên cần dành
khoảng 2 phút để tóm tắt (thật ngắn gọn) hoặc đọc diễn cảm một đoạn thơ (đoạn văn)
của văn bản sắp học hoặc kể lại một điển tích, điển cố được nói đến trong văn bản.
Tùy vào từng bài cụ thể để chọn hình thức cho hấp dẫn. Có nhiều cách, nhưng dù là
cách nào thì cũng phải làm cho học sinh có ấn tượng về văn bản sắp học.
+ Căn cứ vào đặc trưng của thể loại, dung lượng kiến thức của từng bài cụ thể,
giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài chi tiết từ nội dung như: tìm hiểu bối cảnh
lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề, điển cố của văn bản; cho đến cách thức và phương
pháp chuẩn bị: đọc phần mục tiêu bài học, đọc nhiều lần phần văn bản, tìm hiểu phần
chú thích và trả lời các câu hỏi hướng dẫn chuẩn bị bài trong sách giáo khoa. Nếu có

+ Sau đó hướng dẫn học sinh về nhà chuẩn bị bài theo gợi ý:
• Tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài thơ, bối cảnh xã hội lúc bấy giờ.
• Hiểu khái niệm “ngất ngưỡng” nghĩa là gì?
• Các điển tích, điển cố trong bài thơ.
• Những đóng góp của Nguyễ Công Trứ đối với đất nước.
• Cuộc đời đầy thăng trầm “lên voi xuống chó” của Nguyễn Công Trứ...
+ Sau đó trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa.
+ Cuối cùng yêu cầu học sinh phải có cách hiểu của mình về phong cách sống
“ngất ngưỡng” của Nguyễn Công Trứ. Từ đó học sinh đưa ra phong cách sống của bản
thân mình hiện nay.
3.2. Cách tiếp cận tác phẩm văn học trung đại.
Mỗi tác phẩm văn chương luôn ra đời trong bối cảnh văn hóa, lịch sử nhất định.
Vì vậy nếu không đặt trong môi trường hình thành tác phẩm thì không thể có cơ sở để
khẳng định hay ngợi ca về những giá trị hiện thực, nhân đạo mà nó thể hiện. Do đó khi
giảng dạy tác phẩm văn học trung đại, giáo viên phải dựng lại được không khí văn
hóa, lịch sử của thời đại, phải tạo được sự đồng cảm về văn hóa, văn học.
- Giáo viên phải giúp cho học sinh tái hiện cách cảm, cách nghĩ của người xưa.
Đặc biệt tác phẩm phải được đặt trong hoàn cảnh lịch sử ra đời của nó, bởi lẽ sáng tạo
văn học thường bắt nguồn từ một yếu tố có thực nào đó trong lịch sử ở một thời kì ,
một giai đoạn, một biến cố nào đó. Do đó việc tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam
nói riêng và văn học Việt Nam nói chung phải gắn với hoàn cảnh lịch sử của sự ra đời,
9

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

bởi bất kì một sáng tác nào cũng đều có nguồn gốc sâu xa từ bối cảnh văn hóa, lịch sử
của thời đại.

vẻ vang trong sự nghiệp cứu nước của dân tộc.
10

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

+ Yêu cầu học sinh về nhà tìm hiểu những biến cố trong cuộc đời Nguyễn Đình
Chiểu, thời đại và hoàn cảnh ra đời bài văn tế đã chi phối nội dung tư tưởng, nghệ
thuật của tác phẩm như thế nào? Tìm hiểu các từ cổ, thể văn biền ngẫu trong bài văn tế
vốn bây giờ ít khi sử dụng.
+ Cảm xúc trước tiên của em sau khi đọc xong bài văn tế?
+ Sau đó trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa.
+ Cuối cùng yêu cầu học sinh nêu suy nghĩ về tinh thần yêu nước anh dũng của
nhân dân ta trong buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược. Liên hệ với tinh thần yêu
nước của nhân dân ta trong thời hiện đại này.
3.3. Vận dụng các phương pháp giảng dạy.
Các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam có một hệ thống thi pháp riêng, sử
dụng nhiều điển cố, điển cố, ước lệ, sử dụng chữ Hán, chữ Nôm... làm cho học sinh
khó học tập hơn so với các tác phẩm văn học hiện đại. Vì Thế để đạt hiệu quả tốt trong
việc dạy và học, giáo viên có thể vận dụng những phương pháp quen thuộc để nâng
cao hiệu quả việc dạy học văn học trung đại Việt Nam trong chương trình ngữ văn 11
hiện nay.
3.3.1. Vận dụng phương pháp đọc diễn cảm.
- Vận dụng phương pháp này để đọc các tác phẩm thơ. Những văn bản thuộc thể
loại thơ trung đại thường có dung lượng ngắn, đọc diễn cảm là khâu quan trọng, tạo ra
tác dụng lớn, tạo ra những ấn tượng thẩm mĩ cho học sinh.
- Đọc diễn cảm thể hiện được cảm xúc, giọng điệu của nhân vật, của tác giả sẽ
phần nào sáng rõ được ý nghĩa của tác phẩm, tạo nên những rung động sâu sắc cho học

- Việc áp dụng phương pháp gợi mở vào quá trình dạy học có hiệu quả khi giáo
viên bám sát vào các dấu hiệu đặc trưng của từng tác phẩm, vào đặc trưng thể loại,
ngôn từ hàm súc, biểu cảm, mang tính ước lệ, bố cục của văn bản, vào hình tượng
nhân vật hay những tri thức lịch sử văn hóa liên quan đến văn bản để đặt câu hỏi gợi
mở cho học sinh tìm hiểu vấn đề.
- Hệ thống câu hỏi phải đảm bảo tính chất gợi mở dần dần để giúp học sinh tìm
hiểu từng yếu tố, từng chi tiết, lí giải được từng phần , từng vấn đề, từ đó cảm thụ tổng
thể văn bản.
- Vận dụng phương pháp này trong việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
văn học trung đại Việt Nam là thực sự cần thiết vì chúng có sự khác biệt khoảng cách
thời gian, không gian sáng tạo nghệ thuật, quan điểm và tiêu chuẩn thẩm mĩ, đặc trưng
thi pháp.
- Ví dụ:
12

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

Dạy tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu.giáo viên
có thể đặt câu hỏi theo hệ thống sau:
+ Căn cứ vào bố cục thể loại văn tế nói chung có thể rút ra nội dung chính từng
phần trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:
Một bài văn tế nói chung bố cục gồm 4 phần: Lung khởi (cảm tưởng khái quát
về người được tế); Thích thực (hồi tưởng về cuộc đời, công đức của người được tế); Ai
vãn (lời thương tiếc của tác giả và người thân người được tế); Kết (tình cảm của người
đứng tế). Từ đây học sinh có thể tìm, chia bố cục và nêu nội dung chính của tác phẩm.
+ Dựa vào bối cảnh thời đại, hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài văn tế? Vị trí bài
văn tế trong sáng tác Nguyễn Đình Chiểu và trong văn học trung đại Việt Nam?

dạy học văn học trung đại Việt Nam hiện nay. Đối với văn học trung đại, người dạy
cần có những tri thức về lịch sử, địa lí, về văn hóa, triết học, ngôn ngữ...
- Các nội dung tích hợp cụ thể như sau: tích hợp văn bản đọc thêm hoặc tham
khảo, đối chiếu với tác phẩm văn học hiện đại, tích hợp những tri thức về lịch sử, địa
lí,, văn hóa, triết học, ngôn ngữ...
- Ví dụ:
Với “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu, giáo viên có thể tích
hợp môn lịch sử, khái quát bối cảnh lịch sử thời đại để học sinh hiểu được ý nghĩa
hình tượng người nông dân nghĩa sĩ, tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần yêu
nước của nhân dân ta, tích hợp bài đọc thêm “Chạy giặc” của Nguyễn Đình Chiểu để
hiểu hơn tâm trạng, nỗi đau của người nông dân, sự xót thương của tác giả khi kẻ thù
xâm lược để từ đó thấy được vẻ đẹp trong hành động xả thân vì nghĩa lớn của những
người nông dân nghĩa sĩ và tấm lòng của tác giả đối với sự hi sinh của họ.
3.3.5. Tăng cường thực hành và bài tập luyện tập.
- Giáo viên sau khi dạy xong kiến thức trọng tâm cần dành thời gian (khoảng 35 phút) củng cố bài dạy bằng cách giao nhiệm vụ cho học sinh làm và báo cáo kết quả
hoàn thành nhiệm vụ ngay trước lớp. Giúp học sinh tìm tòi mở rộng kiến thức bằng
cách vẽ sơ đồ tư duy bài học, sưu tầm thêm các tác phẩm khác của tác giả vừa học,
hướng dẫn bài tập về nhà thực hiện.
- Ví dụ:
Với tác phẩm “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm, để học sinh thấy được tấm
lòng coi trọng và cầu hiền tài của vua Quang Trung, giáo viên có thể đưa ra bài tập để
học sinh luyện tập và về nhà làm như sau:
+ Việc xác định vai trò và nhiệm vụ của người hiền tài có tác dụng gì?
+ Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ vai trò của người hiền
trong cuộc sống hôm nay.
14

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn




SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

- Lớp 11/1+ 11/5 + 11/8 ( tổng số 97 học sinh)
Giỏi

Khá

TB

Yếu

Kém

≥ TB

SL

TL SL
%

TL
%

SL

TL
%

SL TL

5
%

59

60%

Giữa kỳ I

2

2
%

31

32%

42

43
%

20

21
%

2



90%

IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Văn học trung đại lớp 11 là phần khó, nếu không tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ
và cách dạy – học phù hợp thì khó đạt yêu cầu. Nhiệt tình và công sức của người giáo
viên xin dồn chủ yếu vào công việc tổ chức cho các em học ở nhà, học trên lớp, học
ngoại khóa thì nhất định sẽ thành công.
Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, tôi nêu lên một vài suy nghĩ và kinh nghiệm
trong giảng dạy của mình. Thiết nghĩ, những kinh nghiệm trên ít nhiều có thể giúp quý
Thầy, Cô tham khảo, bổ sung và ứng dụng trong quá trình dạy học. Những thiếu sót
trong quá trình viết đề tài là điều không thể tránh khỏi, rất mong được sự góp ý chân
thành của quý Thầy, Cô.
Chân thành cảm ơn!

16

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn


SKKN: “Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại trong chương trình ngữ văn 11”

TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Từ điển văn học. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983, 1984
- Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, NXB Giáo dục.
- Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, NXB Hà Nội.
- Giáo trình văn học trung đại Việt Nam – Nguyễn Văn Đoàn chủ biên.

18


IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.
20

GV NGUYỄN THỊ BÉ – Tổ Ngữ Văn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status