Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non thị trấn - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Ông bà ta xưa có câu “Trẻ lên 3 cả nhà học nói” Thật đúng như thế dạy
tiếng Việt cho trẻ 3 tuổi có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Giáo viên Mầm non
được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con
người mới xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà giáo dục khác nhau. Ngôn
ngữ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt, hình thành và phát triển
nhân cách cho trẻ, giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học khác, có khả năng
phát triển tư duy và ngôn ngữ, cảm thụ cái hay, cái đẹp xung quanh trẻ.
Ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp giữa con người với con người, là
phương tiện cho việc dạy và học. Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách,
ngôn ngữ có vai trò là một phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ
về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi
trường xung quanh, thông qua cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các
sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh, trẻ hiểu những đặc điểm, tính
chất, công dụng của các sự vật cùng với từ tương ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ trẻ
nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc
sống hàng ngày. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo
đức, thẩm mĩ, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người
xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Là công cụ giúp trẻ hoà nhập với
cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng.
Trẻ mẫu giáo có nhu cầu lớn về mặt nhận thức, trẻ khao khát khám phá,
tìm tòi, tìm hiểu thế giới xung quanh mình trong đó ngôn ngữ là công cụ giao
tiếp quan trọng nhất của con người. Trong giao tiếp trẻ sử dụng ngôn ngữ của
mình để trình bày ý nghĩ biểu cảm của mình với mọi người. Đặc biệt hiện nay
phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công
tác chăm sóc giáo dục và nuôi dạy trẻ của các trường mầm non.
Là một giáo viên trực tiếp dạy trẻ 3- 4 tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm
sao để dạy trẻ phát âm chuẩn, chính xác đúng Tiếng Việt. Theo tôi để làm tốt công
tác chăm sóc giáo dục trẻ, hình thành nhân cách trẻ, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ
của một người giáo viên mầm non ra thì việc xác định phương pháp, biện pháp

- Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong cuộc sống chúng ta ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ dể giao tiếp với
mọi người xung quanh và ngôn ngữ chính là phương tiện cho việc dạy và học.
Đối với trẻ mầm non thì qua giao tiếp bằng ngôn ngữ và tư duy trẻ thu được các
kinh nghiệm sống làm phong phú thêm sự hiểu biết của trẻ. Cụ thể trẻ mẫu giáo
bé nhận thức và ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ mới đang tập nói, có trẻ
mới nói được câu 4-5 từ, có trẻ thì đã nói được câu 7-8 từ, có trẻ nói chưa trọn
vẹn được câu, trẻ chưa diễn đạt được ý muốn của mình bằng những câu đơn
giản… chính vì vậy mà phát triển ngôn ngữ cho trẻ là việc làm cần thiết. Đối với
trẻ mẫu giáo bé phát triển ngôn ngữ chính là việc phát triển các khả năng nghe,
hiểu, nói của trẻ. Để phát triển các khả năng này thì việc dạy trẻ đọc thơ, kể
chuyện, tập nói, trò chuyện, giao tiếp với trẻ thông qua các hoạt động giáo dục trẻ
trong ngày chính là việc làm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Đối với trẻ mầm non
nói chung và trẻ từ 3-4 tuổi nói riêng, chúng ta cần phải giúp trẻ phát triển mở rộng
các từ loại trong các từ, biết sử dụng nhiều loại câu, bằng cách thường xuyên trò
chuyện với trẻ về những sự vật, sự việc trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hàng ngày, nói
cho trẻ biết các từ biểu thị về các đặc điểm, tính chất, công dụng. Đặc biệt nhờ có
ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện trẻ dễ dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo
đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ là
cả quá trình bền bỉ, lâu dài từ đó tạo cơ hội cho trẻ được tham gia vào các hoạt
động một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả, để từ đó trẻ vừa được học, vừa được chơi.
Trẻ em ở độ tuổi này các cháu đang học ăn, học nói, học người lớn. Chính vì vậy
người lớn chính là tấm gương. Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách
con người nói chung và trẻ Mầm Non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất
quan trọng không thể thiếu được. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan
trọng nhất đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc
2


Tính chủ động của trẻ phát triển, ghi nhớ của trẻ ngày càng có tính chủ
định, sự chú ý đã tập trung hơn, bền vững hơn, trẻ biết điều khiển chú ý của
mình, tự giác hướng chú ý của mình vào đối tượng nhất định.
Tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của tư duy lôgic dần thay thế tư
duy trực quan hành động. Đây là điều kiện thuận lợi nhất giúp trẻ cảm thụ tốt
những hình tượng nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật trong thơ.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trường mầm non Thị trấn Mường Lát nằm trên địa bàn trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hóa của huyện. Một số cháu là con em gia đình cán bộ công chức,
số còn lại là con em gia đình làm kinh tế, nhìn chung các cháu đều ngoan ngoãn,
mạnh dạn, hồn nhiên, đạt yêu cầu về thể chất, phát triển nhận thức, phát triển
ngôn ngữ và tình cảm xã hội. Là một thuận lợi lớn để tôi rèn luyện phát triển
ngôn ngữ cho trẻ. Là một giáo viên trực tiếp phụ trách lớp mẫu giáo bé 3– 4 tôi
đã quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý cũng như ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ
3


nhằm khám phá, tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ để kịp thời có
những biện pháp giáo dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho trẻ. Khi tiếp xúc với
trẻ tôi nhận thấy rằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về câu từ, về cách
phát âm. Khi trẻ nói hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu
cho nên nhiều khi giáo viên không hiểu trẻ đang nói về cái gì? Cũng có một số
trẻ còn hạn chế khi nói, trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc ngôn ngữ của trẻ còn nghèo
nàn. Qua quá trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy rất lo lắng về vấn đề này và
tôi nghĩ rằng mình phải tìm tòi suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra biện
pháp phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ một cách có hiệu quả nhất để có thể
giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người.
2. 2.1. Thuận lợi:
- Ban Giám Hiệu nhà trường luôn giúp đỡ cho nhân viên.

31.8
Vốn từ
10
45.4
12
54.6
Khả năng nói đúng ngữ pháp
7
31.8
15
68.2
Khả năng giao tiếp
10
45.4
12
54.6
* Nguyên nhân thực trạng:
Trình độ nhận thức của trẻ trong một lớp không đồng đều (vì có trẻ trong
lớp sinh tháng 1-2 nhưng có trẻ trong lớp sinh tháng 10 -11-12). Tháng tuổi của
4


trẻ chênh lệch nhau về tháng sinh quá xa ở lứa tuổi này sẽ dẫn đến sự chênh lệch
về trình độ nhận thức, sự hiểu biết, ngôn ngữ..
- Đặc điểm của trẻ mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi rất thích được trò chuyện, giao
tiếp, thích được nói, nhưng ngôn ngữ, vốn từ của trẻ còn rất hạn chế, còn sử
dụng ngôn ngữ thụ động nhiều.
- Chưa được tác động, kích thích kịp thời để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trẻ ở lứa tuổi 3-4 tuổi còn nhỏ rất hiếu động, thích tìm tòi, khám phá mọi

diễn đạt được ý muốn của mình bằng những câu đơn giản.
- Còn rụt rè, chưa mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp.
*Đặc điểm ngữ pháp:
Trẻ nói được 1 số câu đơn giản, biết thể hiện nhu cầu mong muốn và hiểu
biết của mình bằng 1 hay 2 câu. VD: Cô ơi ! Con uống nước, con ăn kẹo…
5


Trẻ đọc được các bài thơ, hát được các bài hát có 3 đến 5 câu ngắn. Trẻ có
thể kể lại 1 đoạn truyện được nghe nhiều lần, có sự gợi ý. Tuy nhiên, đôi khi sự
sắp xếp các từ trong câu còn chưa hợp lý. Trẻ thường sử dụng câu cụt.
VD: Nước, uống nước,… Trong 1 số trường hợp trẻ dùng từ trong câu còn chưa
chính xác, chủ yếu trẻ sử dụng câu đơn mở rộng.
Giải pháp 2: Giáo viên cần giúp trẻ phát triển vốn từ, mạnh dạn, tự tin :
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ chính là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn
ngữ, khả năng trình bày có logic có trình tự, chính xác một nội dung nhất định.
Để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp với mọi người với ngôn ngữ mạch lạc,
giúp người nghe dễ hiểu thì trước hết cần:
* Làm phong phú vốn từ cho trẻ:
Trẻ phải có vốn từ nhất định để giao tiếp với mọi người xung quanh, vì vậy
giáo viên phải là người cung cấp vốn từ cho trẻ.
VD: Qua môn NBTN cô cung cấp cho trẻ từ chỉ đồ vật: cái bàn, cái ghế, cái áo,
cái mũ,..từ chỉ con vật : con bò, con chó, con mèo…., màu sắc xanh, đỏ, vàng…
Qua môn thơ, chuyện cung cấp tên bài thơ, tên câu chuyện, tên nhân vật, những
vần thơ hay, lời đối thoại của nhân vật….
* Lựa chọn nội dung nói:
Trẻ ở lứa tuổi 3 - 4 tuổi còn nhỏ nên chưa có khả năng lựa chọn nội dung
diễn đạt vì vậy giáo viên cần phải hướng dẫn giúp trẻ.
- Xác định nội dung cần nói của trẻ có nội dung thông báo ngắn gọn, rõ
ràng. Xác định sự việc chính trong nhiều sự việc, xác định đặc điểm nổi bật, cơ

hoạt động hàng ngày.
* Tháng 11, 12: Nghe, nhắc lại các âm, tiếng và câu nhằm phong phú vốn
từ cho trẻ: Giáo viên cần nói diễn cảm, rõ ràng, giải thích nghĩa của từ khó giúp
cho trẻ hiểu, nhớ và vận dụng được các từ để đặt câu. Để đẩy mạnh sự phát
triển, khả năng vận động của cơ quan phát âm, cần tập cho trẻ các bài tập luyện
cơ quan phát âm thích hợp:
VD: Con có cái ca, cô cắt quả cà, con cầm cái ca, cùng cười ha ha..
Có con Ba Ba, đội nhà đi trốn, bì bà bì bõm, bé bắt Ba Ba.
Bà bảo bé, bé bế búp bê, bé bồng, bé bế, búp bê ngoan nào.
Cô tổ chức những trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ:
VD: Trò chơi bắt chước tiếng kêu của các con vật, ai nhanh hơn, thi xem ai giỏi hơn.
*Tháng 1, 2: Vẫn xuyên suốt 2 nhiệm vụ trên nhưng đào sâu vấn đề luyện trí
nhớ cho trẻ qua cái bài thơ, đồng dao, bài đồng dao được phổ nhạc như bài:
“Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt, leo vào leo ra” ...., đặc biệt là
những câu chuyện kể đầy hấp dẫn và lôi cuốn. Gợi ý cho trẻ sử dụng những loại
câu đơn giản đủ nghĩa.
*Tháng 3, 4, 5: Xây dựng những trò chơi giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc.
VD: Trẻ nói theo mẫu câu của 1 câu truyện nào đó: < Chiếp chiếp cứu tôi với. Con
xin lỗi mẹ …>. cho trẻ chơi từ dễ đến khó, các mẫu câu phức tạp gần lên. Để củng
cố kĩ năng nói đúng ngữ pháp, pháp triển trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ.
Một khi đã có một số lượng vốn từ phong phú trẻ sẽ tự tin giao tiếp với mọi
người một cách hứng thú hơn.
Giải pháp 4: Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi:
a. Giờ đón trẻ: Giờ đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, niềm nở, để lôi
cuốn trẻ tới trường, tới lớp cô phải thật gần gũi bên trẻ, cô tích cực trò chuyện
7


với trẻ. Vì trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho
trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách

8


+ Cây rau này có màu gì? (Trẻ trả lời màu xanh)
* Giáo dục: Cô giới thiệu trẻ về cây rau và dặn trẻ về ăn thêm rau xanh để
cung cấp thêm nhiều chất xơ và dinh dưỡng (vâng ạ)
- Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích luỹ được những vốn từ mới
ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc, rõ ràng hơn.

(Cô và trẻ trong tiết học hoạt động ngoài trời)
- Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những
câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ,
nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại.
Giải pháp 6: Giáo dục ngôn ngữ thông qua các giờ học khác:
a. Thông qua giờ nhận biết tập nói:
Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp
vốn từ vựng cho trẻ.
Trẻ ở lứa tuổi 3-4 đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh,
vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết dạy cô
phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên cạnh
đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả lời
cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc.
VD1: Để trẻ nhận biết được đồ vật vật thật hoặc tranh ảnh về đồ vật (con
vật) để cho trẻ quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn…..nhằm
phát huy tính tích cực và tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích cho trẻ.
- Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ
thống câu hỏi:
+ Đây là con gì?
+ Đố các bạn biết con vật này sống ở đâu?
Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải

- Trong các tiết dạy tôi đã đưa ra các bức tranh có các nhân vật, thể hiện
được nội dung chủ đề. Tôi hướng dẫn trẻ quan sát một cách chi tiết những nội
dung thể hiện trong tranh, trẻ rất hứng thú quan sát và từ đó hình thành kỹ năng
cho trẻ. Trẻ không chỉ nhắc lời nói của cô giáo mà trẻ thể hiện sự hiểu biết của
mình qua lời nói của trẻ.
*Tranh truyện: Tranh vẽ tóm tắt, khái quát, tình tiết, hình ảnh màu sắc gợi
cảm xúc, hứng thú, cuốn hút trẻ để trẻ tưởng tượng ra được nội dung của truyện.
Tranh dùng trong tiết học có kích thước
Ví dụ: Truyện ba chú lợn nhỏ
tranh 45cm x 60cm, các nhân vật, cảnh
vật trong truyện làm tranh truyện .

- Bên cạnh đó dụng công nghệ thông tin sưu tầm băng đĩa có nội dung câu
chuyện trong các chủ đề cho trẻ quan sát tạo thêm sự hứng thú cho trẻ hoặc trên
vi tính: vẽ, cắt, dán, làm hiệu ứng chạy PowerPoin presentation trên máy.

Ví dụ: Truyện ba chú lợn nhỏ
Ví dụ: Câu chuyện “Nhổ củ cải”.
Tôi sử dụng giọng điệu thể hiện các câu gọi của: ông già, bà già, cô cháu
gái, con chó, con mèo, chuột nhắt, lớn nhanh như thổi, Nhấn mạnh các từ,
khổng lồ to chưa từng thấy ( hai tay đưa ra trước, lên cao), nhổ mãi, nhổ mãi....
11


- Lần 2: Tôi luôn sử dụng với đồ dùng trực quan để tạo hứng thú cho trẻ và
để trẻ hiểu nội dung câu chuyện, tính cách của nhân vật qua hình ảnh minh học.
Tôi thường sử dụng nhiều đồ dùng trực quan khác nhau như tranh minh họa,
phim hoạt hình.....
Ví dụ 1: Chuyện Nhổ củ cải. Tôi kể bằng tranh minh họa


chuyện qua các hoạt động góc, hoạt động chiều. tôi kể cho trẻ nghe chuyện bằng
những quyển truyện tranh to với những hình ảnh của các nhân vật rõ ràng, sống
động, đẹp mắt, nội dung câu chuyện rõ ràng, ngắn gọn. Ngoài ra, tôi còn cho trẻ
xem băng truyện trước giờ trả trẻ với mục đích giúp trẻ ghi nhớ nội dung truyện,
nhớ nhân vật truyện và lời thoại của các nhân vật trong truyện.

Sau khi đàm thoại xong, trẻ đã nhớ lại nội dung truyện, tôi tổ chức cho trẻ
lên kể lại theo các hình ảnh có trong truyện tranh, dạy trẻ khi kể đến nhân vật
nào thì dùng que chỉ vào từng hình ảnh trong truyện sao cho phù hợp với nội
dung truyện. Khi trẻ kể xong truyện, tôi cho các bạn trong nhóm nhận xét bạn
kể. Kể truyện theo tranh tổ chức ở hoạt động góc thì trẻ được thay nhau kể, trẻ
được thoải mái thể hiện giọng kể của mình, sử dụng ngôn ngữ sáng tạo trong khi
kể không bị gò bó như ở trong tiết học. Qua hoạt động ở góc văn học, trẻ được
đàm thoại, tranh luận trực tiếp với nhau để từ đó ngôn ngữ của trẻ được sử dụng
linh hoạt hơn trong cuộc sống.
* Phát triển ngôn ngữ thông qua việc dạy trẻ đọc thơ diễn cảm.
Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu
ở các lứa tuổi, nó đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức hoạt động dạy trẻ
đọc thơ diễn cảm cho trẻ em ở lứa tuổi mầm non. Đó là một trong những
phương pháp rèn luyện phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ. Khi đọc thuộc lòng thơ
13


trẻ sẽ làm cho ngôn ngữ của mình thêm sinh động, uyển chuyển, biểu cảm giúp
trẻ thể hiện tình cảm, suy nghĩ của tác giả.
Nhận thấy rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ thông qua
việc dạy trẻ đọc thơ diễn cảm tôi luôn tìm tòi những phương pháp biện pháp tốt
nhất để trẻ phát âm và diễn đạt được mạch lạc.
Với lứa tuổi này tôi chọn các bài thơ có sắc thái khác nhau: êm dịu, nhẹ
nhàng, vui vẻ hóm hỉnh...nhằm giúp trẻ cảm nhận cái hay, cái đẹp trong ngôn

( Một tay chống hông, một tay đưa ra đằng sau vờ làm đuôi con voi)
d. Thông qua giờ vận động :
- Trong góc vận động của lớp tôi đã sử dụng những thùng bìa để làm thành
tàu hoả cho trẻ chơi. Mỗi thùng làm thành một toa tàu. Trong khi chơi trẻ có thể
vừa chơi vừa kết hợp âm nhạc hát: “Đoàn tàu tí hon”, “Tàu vào ga”…..vận dụng
vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
14


- Tôi còn phân loại màu xanh, đỏ, vàng của những chiếc vòng để khi trẻ
phân biệt màu không bị nhầm lẫn. Khi trẻ chơi với vòng tôi có thể hỏi trẻ giúp
ngôn ngữ của trẻ thêm mạch lạc, rõ ràng hơn:
+ Vòng này có màu gì hả con?
(Màu đỏ ạ)
+ Thế còn vòng này có màu gì đây?
(Màu xanh ạ)
+ Vòng để làm gì con có biết không? (để học , để chơi trò chơi ạ)
+ Con sẽ chơi gì với vòng ?
(Con lái ô tô ạ)
* Một số trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ :
- Đối với trẻ mẫu giáo bé, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là
một biện pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ
được nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết
sử dụng “số vốn từ ” đó một cách thành thạo.
- Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát
hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Và tôi nhận thấy rằng khi trẻ chơi trò
chơi xong sẽ gây sự hứng thú lôi cuốn trẻ vào bài học. Như vậy trẻ sẽ tiếp thu
bài một cách nhẹ nhàng và thoải mái.
- Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo, đọc những tài liệu sách và tôi thấy
rằng trò chơi này thực sự có hiệu quả làm tăng thêm vốn từ cho trẻ, từ đó ngôn

+ Mô hình các PTGT: ô tô, xe máy, xe đạp….
+ Tranh, ảnh các loại PTGT.
+ Đàn, đài có thu âm thanh tiếng kêu của các PTGT cho trẻ đoán
* Tiến hành:
Trong trò chơi này tuỳ thuộc vào thời gian rảnh rỗi tôi có thể cho trẻ
chơi. Có thể là giờ đón trẻ, trả trẻ, giờ chơi buổi chiều…tôi có thể đàm thoại với
trẻ về các loại PTGT mà trẻ biết như :
+ Hôm nay, ai đưa con đến trường?
+ Mẹ con đưa đến trường bằng PT gì?
+ Cô nào đón con vào lớp?
+ Hôm qua chủ nhật, bố mẹ con có đưa con đi đâu không?
+ Con đi với ai?
+ Con đi bằng PT gì?
+ Khi đi đường con nhìn thấy gì ?
+ Bạn nào đã được đi ô tô rồi ?
+ Ô tô kêu như thế nào ?
+ Khi ngồi trên ô tô phải như thế nào để đảm bảo ATGT?
- Sau khi đặt những câu hỏi như vậy tôi khuyến khích trẻ kể tên những loại
PTGT khác mà trẻ biết.
- Tiếp tục cho trẻ quan sát mô hình PTGT và cho trẻ nghe âm thanh của PTGT
yêu cầu trẻ đoán đó là PTGT nào.
* Trò chơi 3:
“Nu na nu nống”
*
Nu na nu nống
Con cóc nhảy ra
Cái trống nằm trong
Con gà ú ụ
Cái ong nằm ngoài
Bà mụ thổi xôi

về đồ chơi đồ vật xung quanh trẻ, theo tranh vẽ …có trình tự , diễn cảm .
Giải pháp 8: Phối kết hợp với phụ huynh.
* Trẻ em là hạnh phúc, tương lai của gia đình và của xã hội. từ trước tới
nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ, nhất là trẻ trong độ tuổi mầm non.
Để vốn từ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp của
gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt chẽ
với phụ huynh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và kế hoạch
lịch sinh hoạt dạy học cho từng tháng, từng tuần cho phụ huynh nắm bắt được.
* Vì đây là trẻ lớp bé, nhiều trẻ bắt đầu tập nói tôi trao đổi với phụ huynh về ý
nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng ngày phụ huynh phải dành nhiều thời
gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các
sự vật hiện tượng xung quanh, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của trẻ.
* Đối với những cháu mới đi học vốn từ của trẻ còn hạn hẹp, hơn nữa trẻ rất
hay nói ngọng, nói lắp thì vai trò của phụ huynh trong việc phối hợp với cô giáo
trong việc trò chuyện với trẻ là rất cần thiết bởi nó giúp trẻ được vận dụng
những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm,
sửa ngọng.
* Ngoài ra tôi còn kết hợp với phụ huynh sưu tầm những quyển thơ, truyện
có chữ, hình ảnh to, rõ nét, nội dung phù hợp với lứa tuổi để cho trẻ làm quen và
để xây dựng góc thư viện sách truyện của lớp.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng “Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi ở trường Mầm non Thị trấn” trong cả năm học tôi
thấy có những chuyển biến rõ rệt, phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ
rất khá, các cháu nói năng mạch lạc, rõ ràng được thể hiện như sau:
• Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong khi giao tiếp.
• Trẻ khi giao tiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh.
• Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa.

22
100
0
3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1. Kết luận.
“Phát triển ngôn ngữ” cho trẻ Mầm Non là vấn đề rất quan trọng và cần
thiết, mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau. “Phát triển ngôn ngữ” giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống giao tiếp
hàng ngày và hoạt động nhận thức của con người nói chung, sự phát triển tâm lý
nhận thức của trẻ nói riêng, đặc biệt là trẻ lứa tuổi 3-4 tuổi khả năng ngôn ngữ
phát triển rất nhanh.
Tôi nhận thấy rằng việc rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ là cả quá
trình liên tục và có hệ thống đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, bền bỉ khắc phục khó
khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện của
trẻ, hơn nữa cô giáo là người gương mẫu để trẻ noi theo, điều này đã góp phần
bồi dưỡng thế hệ măng non của đất nước.
Muốn có được kết quả trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua quá trình
thực hiện tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
* Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên
môn, rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn.
* Làm giàu vốn từ của trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, vui chơi, kể
truyện và đọc truyện cho trẻ nghe.
* Củng cố vốn từ cho trẻ.
* Tích cực hoá vốn từ cho trẻ.
* Tích cực làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo hấp dẫn với trẻ và phù hợp với nội
dung của bài dạy.
* Luôn tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ, tạo điều kiện quan tâm đến
những trẻ nhút nhát, dành thời gian gần gũi trò chuyện với trẻ để trẻ mạnh dạn,
tự tin tham gia vào các hoạt động tập thể giúp trẻ được giao tiếp nhiều hơn.


Thanh Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan SKKN này là do tôi tự viết,
không sao chép nội dung của người khác.
(Ký, ghi rõ họ tên)

Lò Thị Ngân

19


Tài liệu tham khảo
12345-

Điều lệ trường Mầm non.
Tuyển chọn những trò chơi, bài hát, thơ ca, câu đố theo chủ đề.
Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN.
Tạp chí GDMN.
Các trò chơi và hoạt động cho trẻ 3-4 tuổi.

20


MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài............................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.....................................................3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status