SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 5
Người thực hiện : Lê Thị Hoa
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Điện Biên 2
Thành phố Thanh Hoá
SKKN thuộc lĩnh vực : môn Khoa Học
THANH HOÁ NĂM 2019
1
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
………………………………………………… 3
1.2 Mục đích nghiên cứu
…………………………………………….
3
17
2
1. MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân
cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá song lại thiếu hiểu biết
sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…. Đặc biệt
trong bối cảnh hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những
yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá
trị, phải đương đầu với những thách thức, áp lực…. Nếu thiếu kĩ năng sống, các em
dễ có lối sống ích kỉ, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Thực tế thời
gian gần đây đã có không ít các hiện tượng trẻ em bị lợi dụng, học sinh phổ thông
mắc phải các tệ nạn xã hội, thậm chí vướng vào vòng lao lí khi đang còn mặc đồng
phục nhà trường … Chính vì thế việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ cần được
thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt để giúp các em sớm
biết tự bảo vệ, được rèn luyện hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng
đồng, Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của
cuộc sống.
Bên cạnh đó, Đảng ta đã xác định: Để thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần có những người lao động mới phát triển toàn
diện. Do vậy giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ
cột của giáo dục thế kỉ XXI: Học để biết, Học để làm; Học để tự khẳng định mình
và học để cùng chung sống. Mục tiêu của Giáo dục phổ thông cũng đã chuyển từ
chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết
cho các em, đặc biệt là năng lực hành dộng, năng lực thực tiễn. Điều đó đã khẳng
định vai trò, trách nhiệm của nhà trường trong việc kết hợp dạy chữ với dạy người.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong
4
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Môn Khoa học ở Tiểu học giúp học sinh tìm hiểu những kiến thức khoa học
đơn giản, cơ bản về Con người và sức khoẻ; về tự nhiên. Bước đầu hình thành và
phát triển một số kĩ năng quan sát, dự đoán, tìm kiếm thông tin, … và vận dụng
kiến thức khoa học vào cuộc sống. Đặc biệt, trong chương trình môn Khoa học lớp
5 , chủ đề Con người và sức khỏe trang bị cho các em những hiểu biết cơ bản về
sự sinh sản, về giới tính và những thay đổi về thể chất, tinh thần trong từng giai
đoạn của cuộc đời mỗi con người. Với những đặc điểm trên, môn Khoa học ở Tiểu
học có khả năng lớn trong giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Thực hiện tốt giáo
dục kĩ năng sống trong dạy học môn Khoa học sẽ góp phần chuyển các kiến thức
môn học thành hành vi, thái độ tích cực, phù hợp giúp học sinh có thể xử trí hiệu
quả các tình huống thực tế. Điều đó làm cho việc học tập môn Khoa học trở nên có
ý nghĩa đồng thời giúp các em nắm vững, khắc sâu kiến thức.
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
Mặc dù phòng trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực” đã được hưởng ứng rộng khắp và được đẩy mạnh trong các nhà trường , tuy
nhiên việc thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả còn hạn chế. Có
nhiều nguyên nhân:
Về phía giáo viên: Do áp lực về chất lượng văn hóa, chất lượng Vở sạch chữ
đẹp, áp lực từ các hoạt động chuyên môn, hồ sơ sổ sách v. v. nên có phần xem nhẹ
việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Chưa chú trọng đến việc tìm tòi những
phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp tạo hứng thú cho học sinh trong việc rèn
luyện kĩ năng sống nên hiệu quả giáo dục chưa cao.
Về phía phụ huynh: Cũng chỉ quan tâm nhiều tới việc học tập các môn Toán,
Tiếng Việt, Tiếng Anh chứ ít để ý đến việc trang bị cho con những kĩ năng cần thiết
Trong chủ đề “ Vật chất và năng lượng” Học sinh cần được rèn luyện một số
kĩ năng cơ bản như :
- Kĩ năng ra quyết định và đảm nhận trách nhiệm: Tích cực bảo vệ môi
trường không khí, môi trường nước …; Thực hiện tiết kiệm năng lượng chất đốt,
năng lượng điện …
- Kĩ năng giải quyết vấn đề : Biết tìm kiếm và xử lí thông tin; biết quan sát,
giải thích hiện tượng; Biết vận dụng kiến thức khoa học vào thực tế như giữ gìn bảo
vệ các vật dụng, biết giữ an toàn khi sử dụng năng lượng chất đốt, sử dụng điện …
Tiếp đó, tôi tìm các địa chỉ cụ thể để tích hợp các kĩ năng sống cơ bản cần
giáo dục cho học sinh. Việc này có thể tham khảo trong Tài liệu dành cho giáo viên
“ Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học”. Tuy nhiên còn phải căn cứ vào từng
điều kiện cụ thể, thực tế của mỗi lớp học, mỗi địa phương để lồng ghép sao cho
việc giáo dục kĩ năng sống trở nên tự nhiên, nhẹ nhàng không gượng ép và làm
quá tải nội dung bài học.
Ví dụ : Bài 9 - 10 : Thực hành nói “ không” với các chất gây nghiện.
Các kĩ năng sống cơ bản mà học sinh cần được rèn luyện thông qua bài học này
cụ thể là :
+ Kĩ năng phân tích, xử lí thông tin từ các tư liệu Sách giáo khoa, từ nguồn
cung cấp của giáo viên về tác hại của chất gây nghiện.
+ Kĩ năng giáo tiếp, ứng xử và kĩ năng từ chối sử dụng các chất gây nghiện.
+ Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi rơi vào hoàn cảnh bị đe doạ phải sử dụng
các chất gây nghiện.
6
+ Ngoài ra còn cần giúp học sinh có kĩ năng thuyết phục, tuyên truyền, giúp
đỡ người thân tránh xa và từ bỏ các chất gây nghiện.
2. Lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh trong môn Khoa Học lớp 5.
Đây là công việc đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức
răng ám khói,
môi thâm
dễ mắc bệnh
đường hô hấp
nguy cơ
ung thư
phổi cao
Thuốc lá,
Biểu
hiện
Tác hại
Thuốc
lào
hút thuôc
liên tục
Hơi thở
hôi
ô nhiễm
không khí
- Tình huống 3: Một lần đi học nhóm buổi tối ở nhà bạn về, Tùng gặp một
số thanh niên cùng phố đang tụ tập. Họ chặn đường, dụ dỗ và ép Tùng phải cùng
hít Hê rô in với họ. Nếu là Tùng, em sẽ làm gì?
* Bước 2: GV hướng dẫn các nhóm chuẩn bị lời thoại như mẫu sau:
VD : Tình huống 1:
Lời mời
1. Cậu hút thử đi, thích lắm !
2. Có gì mà sợ, cậu thấy đấy,
con trai ai chẳng hút thuốc.
…….
Lời từ chối
Tớ không hút đâu, sợ lắm.
…….
…….
* Bước 3 : Các nhóm lần lượt đóng vai trước lớp.
Các nhóm khác theo dõi, nhận xét cách xử lí tình huống của các nhóm.
* Bước 4 : Tổ chức cho cả lớp thảo luận :
+ Việc từ chối hút thuốc lá, uống rượu , bia và sử dụng ma tuý … có dễ
dàng không ?
+ Trong trường hợp bị doạ dẫm, ép buộc, chúng ta nên làm gì ?
+ Nếu không tự giải quyết được, chúng ta nên tìm sự giúp đỡ của ai ?
* Bước 5: Kết luận: Mỗi chúng ta đều có quyền từ chối, quyền tự bảo vệ
và được bảo vệ trước tác hại của các chất gây nghiện. Mỗi người có thể có những
cách từ chối riêng, song cái “đích” phải đạt được là kiên quyết nói “không” với các
chất gây nghiện.
Với cách lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học và tổ chức các hoạt động
học như trên, giờ học không chỉ thành công trong về mặt trang bị kiến thức mà còn
- Tránh xa, bỏ đi ngay …
- Nói lớn, hét to lên …
- Kể với người tin cậy
- Hét lên: “ buông
ra, tôi sẽ mách bố
mẹ đấy!”
- Cắn vào tay kẻ đó
và kêu cứu ….
Nói to và kiên quyết: “ dừng lại! không
được chạm vào người tôi!”
Một trong những kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng có hiệu quả để giáo
dục kĩ năng sóng trong môn Khoa học là kĩ thuật “Trình bày 1 phút”. Đây là kĩ
thuật dạy học tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại những kiến thức đã học và đặt
những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn
gọn, cô đọng. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời học sinh đưa ra sẽ giúp củng cố
quá trình học tập của các em đồng thời cho giáo viên thấy được các em đã hiểu vấn
đề như thế nào. Kĩ thuật này thường được tiến hành vào cuối tiết học : Giáo viên
yêu cầu học sinh suy nghĩ và viết nhanh ra giấy những điều quan trọng mình đã
hiểu biết được hoặc cảm thấy thú vị qua bài học hôm nay, đồng thời nêu vấn đề
mình còn thắc mắc muốn được giải đáp, muốn tìm hiểu thêm. Mỗi học sinh sẽ có 1
phút để trình bày trước lớp những vấn đề đó.
10
Ví dụ : Bài 8: Vệ sinh tuổi dậy thì.
Học sinh có thể “Trình bày 1 phút” về những vấn đề như:
sinh dục ngoài dễ bị bẩn vì thế cần có thói quen rửa bộ phận sinh dục ngoài bằng xà
phòng tắm và nước sạch, phải thay quần áo lót hàng ngày. Quần áo lót nên chọn
loại vải mềm, dễ thấm mồ hôi và mặc vừa vặn, không nên mặc quá chật hoặc quá
rộng để vừa đảm bảo vệ sinh vừa dễ chịu, thoải mái trong sinh hoạt. Chúng ta cũng
nên phơi quần áo lót ở những nơi thoáng gió hoặc có ánh sáng mặt trời để các vi
khuẩn, nấm bị tiêu diệt hết….
11
- Khi luyện tập thể thao hay lao động không nên quá sức và chú ý giữ gìn
không để tổn thương đến cơ thể và cơ quan sinh dục. Cũng không nên lạm dụng
các loại nước hoa, mĩ phẩm … mà nên tắm gội, thay quần áo và rửa mặt thường
xuyên bằng nước sạch. Tuyệt đối không dùng tay bẩn nặn trứng cá vì sẽ để lại sẹo.
Có thể nói phần lớn các bài học thuộc chủ đề “ Con người và sức khoẻ ”
đều có khả năng để lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vì thế giáo viên có nhiều cơ
hội để lựa chọn, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và có điều kiện để rút
kinh nghiệm, học sinh cũng được thực hành nhiều và các kĩ năng ứng phó, xử lí các
vấn đề liên quan dến sức khoẻ cũng trở nên thuần thục hơn.
Trong chủ đề “ Vật chất và năng lượng” ;“ Môi trường và tài nguyên” các
địa chỉ để tích hợp giáo dục kĩ nănh sống tuy có ít hơn song các kĩ năng sống cần
được giáo dục trong các chủ đề này lại thiết yếu và quan trọng không kém. Các kĩ
năng đó không chỉ giúp các em hoàn thiện về nhân cách, lối sống bản thân, trở
thành người có chính kiến, có bản lĩnh, lập trường vững vàng mà còn giúp các em
thực hiện tốt trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước .
Ví dụ Bài 48 : An toàn và tránh lãng phí khi sử dụng điện.
Trong bài học này, các kĩ năng sống cơ bản cần được giáo dục cho học sinh là:
+ Kĩ năng ứng phó, xử í tình huống (có người bị điện giật, dây điện bị đứt, …)
+ Kĩ năng bình luận đánh giá về sử dụng điện.
+ Kĩ năng ra quyết định và đảm nhận trách nhiệm về việc sử dụng điện tiết
kiệm.
* Bước 1 : - Yêu cầu học sinh làm việc theo cặp ( hoặc theo nhóm bàn) đọc
SGK, thảo luận theo các câu hỏi :
+ Tại sao ta phải sử dụng điện tiết kiệm ?
+ Nêu các biện pháp để tránh lãng phí năng lượng điện ?
* Bước 2 : Tổ chức cho các nhóm trình bày kết quả thảo luận.
- Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
* Bước 3 : Tổ chức cho HS “Trình bày 1 phút” về lí do phải tiết kiệm điện
và các biện pháp sử dụng năng lượng điện tiết kiệm.
* Bước 4 : Liên hệ thực tế :
- Hàng tháng, gia đình em thường dùng hết bao nhiêu số điện? và phải trả
bao nhiêu tiền ?
- Em thấy việc sử dụng điện của gia đình mình đã tiết kiệm chưa ? hay còn
lãng phí ở những việc cụ thể nào ?
- Sau bài này em sẽ thay đổi thói quen sử dụng điện của bản thân khi ở nhà
hay ở trường như thế nào ?
Kết thúc bài học GV cần chốt lại các ý cơ bản sau :
- Tai nạn về điện là rất nguy hiểm nên khi sử dụng các thiết bị điện cần chú
ý để tránh bị điện giật.
- Năng lượng điện là tài nguyên của quốc gia và không phải là vô tận nên
mỗi người đều phải có ý thức tránh sử dụng điện lãng phí. Tiết kiệm điện chính là
tiết kiệm tiền của cho gia đình, xã hội và để cho nhiều người cùng được dùng điện.
Cần tích cực tuyên truyền để tất cả mọi người đều thực hiện tiết kiệm điện.
13
2. 4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Với những cố gắng kể trên, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong
môn Khoa học đã có những kết quả bước đầu.
- Kiến thức môn Khoa học và việc rèn luyện kĩ năng sống đã bổ sung hỗ
trợ cho nhau làm cho môn học tăng giá trị thực tế và việc học tập trở nên lí thú.
Số lượng
Tỉ lệ
0
Bên cạnh đó, những kĩ năng sống cơ bản của các em cũng dần được hoàn
thiện. Điều đó thể hiện khá rõ trong các hành vi, thói quen hàng ngày của các em,
như:
+ Các em đã biết tự chăm sóc bản thân bằng những việc vừa sức như tắm rửa
sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng, lựa chọn trang phục phù hợp với thời tiết…
+ Đã có ý thức hơn trong việc giữ gìn của công, tiết kiệm điện nước, bảo vệ
môi trường, chăm sóc cây xanh ….
+ Biết cư xử với nhau chan hoà , thân thiện.
+ Biết khuyên bảo nhau không chơi các trò chơi nguy hiểm, độc hại…
+ Nhiều em đã tự tin, mạnh dạn hơn trong học tập cũng như sinh hoạt tập thể.
14
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận :
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một quá trình lâu dài và thường
xuyên. Không chỉ thực hiện trong nhà trường mà phải ở cả gia đình và cộng đồng.
Vì thế cần phải kiên trì và đồng bộ, cần phải thực hiện tốt ở tất cả các hoạt động
trong nhà trường chứ không phải chỉ tập trung ở một vài môn học. Kĩ năng sống rất
đa dạng và mang đặc trưng vùng miền vì thế lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong
các môn học chỉ đạt hiệu quả cao khi được hoà trộn thành một nội dung thống nhất
và được giáo viên vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo phù hợp với trình độ học
sinh và hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, địa phương. Mặt khác, để giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh thì trước hết mỗi thầy cô cũng cần phải có kĩ năng sống tốt,
bởi vậy mỗi thầy cô phải luôn chú ý rèn luyện kĩ năng sống của bản thân mình.
NXB Giáo dục, 2010
2. Tư liệu dạy Khoa học 5
NXB Giáo dục
3. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học Tập 41, 2010
4. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên TH 13
16
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP TỪ LOẠI C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả :
Lê Thị Hoa
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Điện Biên 2 Thành phố
Thanh Hóa - Tỉnh Thanh Hóa.
TT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh
giá xếp
loại
Kết quả
3
Một số kinh nghiệm sử dụng đồ dùng
dạy học trong môn Khoa học
Tỉnh
B
2007 - 2008
4
Kinh nghiệm lồng ghép giáo dục Bảo
vệ môi trường trong dạy học môn
Khoa Học lớp 4
Tỉnh
B
2009 - 2010
5
Kinh nghiệm tạo hứng thú học tập
môn Lịch sử cho học sinh lớp 5
Tỉnh