Một số biện pháp rèn luyện từ vựng môn tiếng anh cho học sinh khối 3, trường tiểu học tam chung - Pdf 57

MỤC LỤC
I. Mở đầu ........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................3
5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm..............................................3
II. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.........................................................3
1. Cơ sở lí luận của vấn đề..............................................................................3
2. Thực trạng của vấn đề.................................................................................3
3. Giải pháp thực hiện.....................................................................................4
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm...........................................................11
III. Kết luận và kiến nghị.................................................................................10
1. Kết luận.....................................................................................................12
2. Kiến nghị...................................................................................................13
Tài liệu tham khảo...........................................................................................14


I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử và quá trình phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng mục tiêu
của giáo dục đào tạo bao giờ cũng gắn liền với mục tiêu phát triển của xã hội.
Mỗi thời kì lịch sử đều có một mục tiêu giáo dục khác nhau, phù hợp với sự phát
triển của xã hội ở giai đoạn đó. Với sự phát triển như vũ bão về kinh tế, sự bùng
nổ về khoa học kĩ thuật, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì ngoại ngữ
nói chung và Tiếng Anh nói riêng càng đóng vai trò và vị trí quan trọng trong sự
nghiệp giáo dục và trong sự phát triển của đất nước.
Khi nhắc tới Tiếng Anh người ta nghĩ ngay đó là ngôn ngữ toàn cầu: “Là
ngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, ngôn ngữ chính thức
của EU và được hơn 400 triệu người trên thế giới dùng làm tiếng mẹ đẻ, hơn 1 tỉ
người dùng Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai” [1].

từ vựng Tiếng Anh là vô cùng quan trọng.
1


Với đặc trưng vùng miền như vậy, việc áp dụng những sáng kiến, phương
pháp, kinh nghiệm từ sách vở, tài liệu, đồng nghiệp ngoài địa phương chưa thực
sự mang lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy từ vựng cho học sinh của
mình. Vì vậy sau một thời gian tự tìm tòi, học hỏi, tôi đã rút ra một vài kinh
nghiệm đã áp dụng tương đối thành công xin được chia sẻ cùng đồng nghiệp qua
việc nghiên cứu sáng kiến: “Một số biện pháp rèn luyện từ vựng môn Tiếng anh
cho học sinh khối 3 trường Tiểu học Tam Chung”
2. Mục đích nghiên cứu
Học sinh tiểu học là đối tượng học sinh có những đặc trưng riêng về tâm lí
lứa tuổi. Các em nhanh nhẹn, hiếu động nhưng chưa có ý thức cao về nhiệm vụ
học tập hoặc tương lai, nghề nghiệp của mình. Có thể các em nắm bắt từ vựng
nhanh nhưng lại quên ngay sau đó, hoặc do không có một phương pháp rèn
luyện từ vựng đúng đắn nên vốn từ của các em còn hạn chế. Nhận thức được
tầm quan trọng của việc dạy và học từ vựng của bộ môn nên tôi đã nghiên cứu
đề tài này nhằm mục đích đưa ra một số kinh nghiệm đã được bản thân áp dụng
trong năm học vừa qua nhằm nâng cao chất lượng học từ vựng Tiếng anh của
học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Tam Chung.
3. Đối tượng nghiên cứu
Với phạm vi nhỏ hẹp, đề tài này sẽ nghiên cứu một số biện pháp rèn luyện
từ vựng môn Tiếng anh cho học sinh khối 3.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

chỉ nhớ 58% lượng thông tin vừa học, sau 1 tiếng nhớ 44%, 9 tiếng nhớ 36%,
sau 1 ngày nhớ 33%, sau 2 ngày nhớ 28% và cuối cùng sau một tháng chỉ nhớ
khoảng 20% [5]. Chính vì lí do như vậy, nên việc hình thành một phương pháp
dạy và học từ vựng là một điều vô cùng quan trọng.
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Thuận lợi:
- Được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, giúp đỡ tận tình về mọi mặt.
- Bản thân giáo viên luôn có gắng học hỏi trau dồi chuyên môn.
- Một số em học sinh yêu thích và có cố gắng trong học tập.
2.2. Khó khăn:
- Nhận thức về việc học Tiếng Anh của học sinh đồng bào dân tộc thiểu số
tại địa phương chưa cao. Các em chưa trang bị cho mình được một phương pháp
tốt để học Tiếng anh nói chung và học từ vựng Tiếng Anh nói riêng.
- Học sinh chưa có đủ tài liệu phục vụ cho việc học tập (sách giáo khoa,
sách bài tập, sách tham khảo…).
- Môn Tiếng Anh chỉ mới được triển khai dạy tại một số trường tiểu học
trên địa bàn huyện trong mấy năm gần đây nên việc dạy và học còn nhiều khó
khăn, bỡ ngỡ.
- Điều kiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường còn nhiều khó khăn,
thiếu thốn: chưa có phòng chức năng, thiếu băng, đĩa, loa.... nên giáo viên ít có
điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
- Học sinh không có môi trường thực hành nói Tiếng Anh. Đây là một khó
khăn rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình rèn luyện từ vựng của học sinh
trong lớp.
Với những khó khăn bất cập kể trên, sau một số tiết dạy đầu năm học, tôi
đã yêu cầu học sinh thực hiện một bài kiểm tra từ vựng nhỏ gồm 20 câu tại hai
lớp 3, và kết quả thu được như sau:

Lớp


Hs ghi nhớ ở
mức độ trung
bình
(Làm đúng
10- 13 câu)
SL
TL%

5

25.0

Hs ghi nhớ
từ vựng ở
mức độ kém
(Dưới 10
câu)
SL TL%

14

70.0
3


3 - Cân
TH

18


* Từ bị động (Passive vocabulary)
Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau. Từ chủ động có liên
quan đến bốn kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết. Đối với loại từ này giáo viên cần
đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều hơn.
Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tư
thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định
xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động.
- Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là: Dạng từ, ý nghĩa
và cách sử dụng. Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định
nghĩa thì chưa đủ. Để học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp, giáo viên
cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ, mà còn biết phát âm
đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa của từ. Việc thực
hành, luyện tập từ vựng trong chuỗi lời nói sẽ giúp học sinh ghi nhớ nhanh và
lâu. Đó cũng chính là quá trình biến từ vựng thụ động thành từ vựng tích cực
của học sinh.
- Số lượng từ:
Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ của
học sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thời gian thực
hiện các hoạt động khác. Trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là 6 từ.
- Trong khi lựa chọn từ để dạy giáo viên nên xem xét đến hai điều kiện sau:
* Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không?
* Từ đó có khó so với trình độ học sinh không?
Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của học
sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, cần dạy cho học sinh. Nếu từ đó cần thiết
cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ của học sinh, thì nó không
4


thuộc nhóm từ tích cực, do đó giáo viên chỉ giải thích rồi cho học sinh hiểu
nghĩa từ đó ngay. Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng

trong Tiếng Anh. Một lưu ý là chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách nào
khác, khi dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giải quyết một số lượng từ nhiều
nhưng thời gian không cho phép.
- T’s eliciting questions (Câu hỏi gợi ý):
Giáo viên đặt một hoặc một vài câu hỏi để học sinh đoán nghĩa từ.
b. Củng cố từ vựng:
Đây là bước không thể bỏ qua khi dạy từ vựng cho học sinh. Bởi vì nếu chỉ
giới thiệu mà không khắc sâu thì từ vựng nhanh chóng được tiếp nhận nhưng
5


cũng nhanh chóng bị lãng quên. Có rất nhiều cách để củng cố từ vựng, nhưng
theo kinh nghiệm từ bản thân tôi, sử dụng trò chơi là một trong những thủ thuật
khắc sâu từ vựng hiệu quả nhất với học sinh tiểu học. Sử dụng trò chơi hợp lí sẽ
góp phần khuấy động không khí học tập trong lớp, thu hút sự chú ý, tham gia
các hoạt động học tập của học sinh và qua đó củng cố được những từ vựng giáo
viên vừa dạy. Bên cạnh những trò chơi, kĩ thuật dạy học quen thuộc như Slap
the board, What and where, Kim’s game, Hangman, Matching, Jumbled words,
Bingo, Chain game... trong phần này tôi xin trình bày một vài trò chơi nho nhỏ
mà mình đã áp dụng:
* Trò chơi: “Naming ”

Hình 2: Học sinh chơi trò chơi

Unit 10: The weather
Lesson 1: Section A (1, 2, 3)
Vocabulary:
Sunny, windy, cloudy, rainy
Giáo viên cho học sinh chơi theo dãy bàn, mỗi dãy là một đội. Giáo viên
chia các phần bảng tương ứng với số lượng đội tham gia và đặt tên cho mỗi đội.

Leson 1: Section A (1, 2, 3)
Vocabulary: One, two, three, four, five, six, seven, eight, nine, ten.
Giáo viên chia lớp thành 2 đội, và vẽ sẵn cho các em 2 chiếc đầu tàu ở 2
bên bảng. Trong khoảng thời gian của bài hát The number song các em phải lên
vẽ tiếp các toa tàu (theo ý thích và sự tưởng tượng của các em) và viết chữ số
tương ứng với mỗi toa. Đội nào vẽ tàu nhanh hơn, đẹp hơn và viết đúng hơn dẽ
là đội chiến thắng.

Hình 3: Học sinh chơi trò chơi

Với trò chơi này, giáo viên có thể thay đổi linh hoạt để có thể sử dụng với
các bài học khác . Ngoài ra để đạt hiệu quả tốt nhất, giáo viên cần chọn bài hát
phù hợp với nội dung bài học.
* Trò chơi: “ Magic box ”

Hình 4: Học sinh chơi trò chơi

Unit 6: My classroom
Leson 1: Section A (1, 2, 3)
Vocabulary:
book, pen, ruler, eraser
Giáo viên chuẩn bị một hộp đựng các đồ dùng học tập mà học sinh vừa
được học: bút, thước, sách, cục tẩy và một vài vật không có trong nội dung bài
học. Học sinh được bịt mắt và yêu cầu tìm được một đồ dùng học tập trong
Magic box. Sau khi tìm được đồ dùng các em phải đọc to tên của đồ dùng đó
bằng Tiếng Anh.
7


Đây cũng là một trò chơi đơn giản, không mất nhiều thời gian chuẩn bị.

ducks, How’s the weather?....Học sinh cũng có thể tự tìm tòi, tự học và trình bày
trước lớp. Việc học các bài thơ, bài hát cần linh động sao cho phù hợp với trình
độ của học sinh. Ngoài nguồn thơ, truyện, bài hát... phong phú từ internet, sách
báo... giáo viên có thể tự viết lời một số bài hát trên nền nhạc của các bài hát
quen thuộc mà các em đã thuộc. Việc này không chỉ giúp học sinh học hát nhanh
hơn, từ đó nhớ từ vựng tốt hơn mà còn là một cách “ làm mới ” lại những bài hát
mà các em đã từng biết, mang lại hứng thú cho việc học Tiếng Anh của các em.
Ví dụ:
Unit 11: Our pets
Lesson 3: Section B (1, 2, 3)
Vocabulary:
How many, cat, bird, dog, fish
Model sentence:
How many cats do you have?
→ I have 2 cats
8


Với câu mẫu dạng này nếu chỉ dạy theo cách thức thông thường học sinh sẽ
dễ bị nhàm chán và khó nhớ. Vì vậy nếu giáo viên biến tấu câu mẫu trên theo
giai điệu của bài hát “Cả nhà thương nhau” của tác giả Phan Văn Minh thì học
sinh sẽ cảm thấy dễ thuộc và thú vị hơn rất nhiều:
Ba thương con vì con giống mẹ
Mẹ thương con vì con giống ba
Cả nhà ta cùng thương yêu nhau
Xa là nhớ gần nhau là cười

How many cats do you have?
One, two, three I have three cats.
How many birds do you have?

từ vựng
(Làm đúng 1417 câu)
SL
TL%

Hs ghi nhớ ở
mức độ trung
bình
(Làm đúng
10- 13 câu)
SL
TL%

Hs ghi nhớ
từ vựng ở
mức độ kém
(Dưới 10
câu)
SL TL%

3 - Lát

20

5

25.0

9



Như vậy chúng ta có thể nhận thấy, sau thời gian áp dụng sáng kiến, chất
lượng của việc ghi nhớ từ vựng của học sinh lớp 3 điểm trường Lát tăng lên rất
nhiều so với lớp 3 còn lại. Đã có 05 học sinh trong lớp có khả năng ghi nhớ từ
vựng rất tốt và chỉ còn 01 học sinh ghi nhớ từ vựng ở mức độ thấp. Mặc dù đây
có thể chưa phải là kết quả tối ưu, tuy nhiên với đặc thù của học sinh vùng miền,
bản thân tôi nhận thấy đây thực sự đã là những bước chuyển mình rất đáng được
khích lệ.

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
9


1. Kết luận:
Việc áp dụng đề tài này chỉ là một phần trong các tiết học, tuy nhiên nó
đóng vai trò rất quan trọng và làm tiền đề cho những phần khác của bài dạy.
Việc thực hành mẫu câu, việc đối thoại có trôi chảy, lưu loát hay không đều phụ
thuộc vào chất lượng của việc ghi nhớ, phát âm, sử dụng chính xác hay không
chính xác những từ vựng đã học. Và để đạt hiệu quả cao khi áp dụng sáng kiến,
tôi nhận thấy:
- Giáo viên cần chuẩn bị bài dạy chu đáo trước khi đến lớp.
- Phân bố thời gian tiết dạy sao cho phù hợp giữa các hoạt động dạy học.
- Cần tích cực khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động trong bài học.
Ngay cả khi các em phát âm, ghi nhớ sai từ vựng giáo viên vẫn cần động viên,
khích lệ để các em không bị sợ sệt, mất tự tin.
- Giáo viên cần thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc học sinh rèn luyện từ vựng
một cách thường xuyên, liên tục.
- Cần linh hoạt trong việc lựa chọn và sử dụng các kĩ thuật dạy từ vựng cho
học sinh.
Tôi tin rằng nếu áp dụng các biện pháp kể trên một cách nghiêm túc, xuyên

không sao chép nội dung của người khác.
Người viết

Phan Thị Thìn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
11


1. [1] : Theo Wikipedia
2. [2] : Theo Đề án dạy và học ngoại ngữ đến năm 2020
3. [3] : Theo định nghĩa về từ vựng của Wikipedia
4. [4] : Theo nhà ngôn ngữ học D.A. Wilkins
5. [5] : Theo Vietnam ICT Career community

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status