Một số biện pháp dạy học phép chia hết và phép chia có dư góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán cho học sinh lớp 3 - Pdf 57

MỤC LỤC
STT
1

Nội dung

Trang

Mở đầu.

1

1.1

Lí do chọn đề tài.

1

1.2

Mục đích nghiên cứu.

1

1.3

Đối tượng nghiên cứu.

1

1.4


16

Kết luận, kiến nghị.

17

3.1

Kết luận.

17

3.2

Kiến nghị.

19

2

3

1. Mở đầu
1


1.1 Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết nhiệm vụ trọng yếu của môn Toán Tiểu học là hình
thành cho học sinh kĩ năng tính toán - một kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống,

chia nên việc áp dụng thực hành làm bài tập gặp rất nhiều khó khăn.
- Một số học sinh do nhầm lẫn với thứ tự thực hiện phép cộng, phép trừ
nên thực hiện phép chia theo thứ tự từ phải sang trái:
Ví dụ: Khi thực hiện phép chia 69 chia cho 3 một số học sinh làm như sau:
- 9 chia 3 được 3, viết 3, 3 nhân với 3 bằng 9, 9 trừ 9 bằng 0.
- Hạ 6 , 6 chia 3 được 2, viết 2, 2 nhân 3 bằng 6, 6 trừ 6 bằng 0.
Vậy 69 : 3 = 32.
- Học sinh thực hiện phép chia ở một hàng nào đó của số bị chia không
chia được cho số chia thường không thêm 0 vào thương mà hạ ngay hàng tiếp
theo của số bị chia để thực hiện chia.
+ Về phía giáo viên:
Trong những năm gần đây việc đổi mới phương pháp dạy học được quan
tâm đặc biệt ở các bậc Tiểu học và trong các môn học. Đa số giáo viên đã cập
nhật được cái mới, giảng dạy có hiệu quả hơn, chất lượng học tập học sinh được
đánh giá cao hơn.
Tuy vậy đây là mảng kiến thức khó nên giáo viên cũng thường gặp phải
một số khó khăn trong quá trình giảng dạy.
4


- Một số giáo viên trình độ còn hạn chế việc cập nhật cái mới chưa kịp
thời nên vẫn giảng dạy theo kiểu dạy học truyền thống - Thầy giảng trò ghi nhớ
nên kết quả học tập chưa cao.
- Một số giáo viên cho rằng việc học phép chia hết và phép chia có dư ở
lớp 3 là kiến thức quá dễ với học sinh nên coi nhẹ mà không hiểu rằng dạy phép
chia hết và phép chia có dư cho học sinh lớp 3 là mảng kiến thức tương đối khó
với các em đòi hỏi các em không chỉ thuộc lòng các bảng chia mà còn phải biết
vận dụng chia trong các trường hợp cụ thể. Đây là kiến thức cơ bản là nền tảng
để các em tiếp tục học ở các lớp trên.
- Một số ít giáo viên do quá coi trọng mảng kiến thức này nên cũng gây

thường gặp nhiều khó khăn và nhầm lẫn trong việc thực hiện phép chia (chia hết
và chia có dư).
- Học sinh chưa nắm vững các bảng chia cho nên khi thực hiện phép chia
các em thường tìm thương trong phép chia bằng cách đọc nhẩm, rà dần từ bảng
nhân có thừa số là số chia.
- Kỹ năng cộng, trừ, nhân chưa thành thạo nên thường thực hành chậm
hoặc kết quả bài tính bị sai mà các em chưa tìm ra sai sót nhầm lẫn của mình.
- Khó khăn nhất cho học sinh là bước chia nhẩm để tìm từng chữ số ở
thương. Các em thường lúng túng và xác định số lần ở thương không đủ hoặc
thừa.
Để khắc phục những tồn tại nói trên tôi đã mạnh dạn đưa ra các giải pháp
sau:
2.3 Giải pháp thực hiện:
32 em

5


Trong chương trình Toán 3, việc thực hiện 4 phép tính cộng , trừ, nhân ,
chia là trọng tâm của chương trình học thì mỗi giáo viên cần nắm vững trọng
tâm đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói chung và đổi mới phương
pháp dạy học Toán nói riêng. Qua thực tế giảng dạy của bản thân và đồng
nghiệp cùng với việc khảo sát chất lượng trong nhiều năm tôi thấy rằng muốn
nâng cao chất lượng dạy học phép chia hết và phép chia có dư thì tôi có các
giải pháp sau:
2.3.1 Xây dựng kế hoạch:
Qua nghiên cứu nội dung, chương trình phép chia ở lớp 3 (chia hết và
chia có dư) được phân phối trong 18 tiết dạy:
Tiết 27: Chia số có 2 chữ số cho số có 1 chữ số.
Tiết 28: Luyện tập.

tối ưu nhất để cụ thể hoá, vật chất hoá kỹ thuật tính trong quá trình thực hành
phép chia.
2.3.2 Trao đổi với Ban giám hiệu và đồng nghiệp:
Nội dung đề tài là vấn đề trọng tâm của môn Toán lớp 3. Sau khi xây
dựng kế hoạch tôi trực tiếp gặp gỡ Ban giám hiệu nhà trường trao đổi nội dung,
biện pháp và thời gian thực hiện đề tài, xin ý kiến chỉ đạo và được Ban giám
hiệu thống nhất, cho phép tiến hành thực nghiệm. Để tranh thủ sự đồng tình,
giúp đỡ của đồng nghiệp tôi đề nghị Phó hiệu trưởng chuyên môn cho phép trao
đổi kinh nghiệm trong Tổ chuyên môn vào lần sinh hoạt chuyên môn toàn
trường lúc đầu tháng 9 năm 2017, để được lắng nghe ý kiến đóng góp của đồng
nghiệp trong khối lớp và bạn bè dạy các khối lớp khác.
2.3.3 Họp phụ huynh học sinh của lớp:
Tổng số học sinh của lớp là 32 em, nữ 16. Ngay đầu năm học tôi nghiên
cứu hồ sơ học sinh được giao nhận, tiến hành kiểm tra năng lực học toán của
từng học sinh. Tổ chức họp Cha mẹ học sinh của lớp ngay đầu năm học và báo
cáo cụ thể tình hình học Toán của học sinh, đồng thời nêu rõ nội dung đề tài
sáng kiến tôi sẽ thực hiện để phối hợp tốt với gia đình học sinh trong việc nâng
cao chất lượng học Toán cho học sinh. Cha mẹ học sinh của lớp đều đồng tình
và cam kết sẽ động viên, nhắc nhở con em mình trong việc học tập ở lớp cũng
như việc học tập ở nhà.
2.3.4 Lựa chọn phương pháp phù hợp:
a. Phương pháp dạy học nội dung phép chia trong toán 3 theo quan
điểm đổi mới.
Dựa trên đổi mới về phương pháp dạy học Toán 3 mỗi giáo viên phải đưa
ra những phương pháp phù hợp dạy học tối ưu nhất sao cho:
- Dưới sự tổ chức , hướng dẫn của giáo viên, học sinh hoạt động và tự
phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ của đề bài để chiếm lĩnh tri thức đồng thời
thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức cũ đã học.
- Giáo viên xác định rõ kiến thức kĩ năng cần thực hành.
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học.

- Linh hoạt tổ chức các hình thức dạy học cá nhân, nhóm, lớp.
- Dự kiến một số phương án khai thác nội dung sách giáo khoa theo đặc
điểm từng đối tượng học sinh của lớp.
* Xây dựng môi trường học tập thân thiện có tính sư phạm cao.
- Luôn tạo bầu không khí hợp tác và thân thiện giữa giáo viên với học
sinh, học sinh với học sinh.

8


- Khuyến khích sự tham gia của mỗi đối tượng học sinh trong các hoạt
động học tập Toán. Động viên hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập
của bản thân và của bạn.
Bên cạnh đó giáo viên còn phải biết phân loại nội dung dạy học phép chia
hết và phép chia có dư thành từng tiểu loại nhỏ để ứng với mỗi loại có những
phương pháp giảng dạy phù hợp có như thế thì hiệu quả học tập của học sinh
mới cao.
Khi đã lựa chọn phương pháp dạy phù hợp thì muốn học sinh thực hiện
tốt phép chia thì điều đầu tiên là giáo viên giúp học sinh học tốt về bảng nhân:
2.3.5 Giúp học sinh học tốt về bảng nhân.
Phép chia là phép tính ngược lại của phép nhân, do vậy giữa bảng nhân và
bảng chia có mối quan hệ thành phần với nhau. Giúp cho học sinh nắm thật tốt
bảng nhân thì sẽ giúp các em nắm tốt bảng chia và ngược lại.
Để thực hiện được phép chia tốt thì điều đầu tiên là các em phải thuộc
bảng nhân. Nhưng làm thế nào để các em dễ học, dễ chủ động và dễ tiếp thu
bảng cửu chương nhất thì không phải giáo viên nào cũng biết cách hướng dẫn
các em hiệu quả. Giúp các em học thuộc, nhớ lâu bảng cửu chương, một phần
bắt buộc của môn Toán.
Thực tế hằng ngày, việc học bảng cửu chương của các em là một việc tốn
rất nhiều thời gian và khó khăn. Nếu có hỏi bất chợt một vài phép nhân trong

Kể từ bảng nhân 2 trở đi , cứ sau mỗi bảng, số dòng ta cần học thuộc mới sẽ
giảm dần.
Kinh nghiệm từ đó trở đi, các em chủ động học rất nhanh thuộc và nhớ lâu.
2.3.6 Hướng dẫn học sinh cách chia .
Trong chương trình Toán lớp 3 nội dung phép chia được học trong 46 tiết.
Hệ thống bài luyện tập thực hành đã được đưa vào theo các dạng bài khác nhau
nhưng chưa đa dạng và chủ yếu là ở mức độ sơ giản. Nhưng với học sinh lớp 3 thì
các em cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện phép chia, đòi hỏi
người giáo viên phải hết sức linh hoạt trong việc hướng dẫn học sinh cách chia.
* Phép chia hết: Ví dụ: 56 : 7
Hướng dẫn học sinh nhẩm xem số nào nhân với 7 để được 56:
Có học sinh chia được 6 thì phải hướng dẫn 6 × 7 = 42, mà số bị chia là
56, vậy cần hướng dẫn học sinh “thêm” bằng cách gợi ý: 56 lớn hơn hay bé
hơn 42 ( HS trả lời lớn hơn). Vậy ta phải lấy lên là 8, vậy 8 × 7 bằng bao nhiêu?
(8 × 7 = 56 ). Vậy 56 – 56 bằng 0, và ta thực hiện được phép chia 56 : 7 = 8 là
phép chia hết;
Cách khác: ví dụ tôi có phép chia 48 : 6, trong trường hợp học sinh không
thực hiện được phép chia đúng, có học sinh làm ra kết quả 48 : 6 = 9 ( sai), tôi
hướng dẫn cho học sinh cách tìm kết quả đúng. Đặt câu hỏi học sinh: “9 nhân 6
bằng bao nhiêu?” (học sinh trả lời: 9 nhân 6 bằng 54). Vậy 48 : 6 có bằng 9
không? Vậy số nhỏ hơn 9 mà khi nhân nhân với 6 bằng 48 là số mấy?(học sinh
biết ngay được là 8). Hỏi tiếp: 8 × 6 bằng mấy? (bằng 48 ). Vậy 48 : 6 = 8 là
phép chia hết.
* Phép chia có dư:
Trong trường hợp chia số có hai chữ số cho số có một chữ số tôi hướng
dẫn học sinh như sau:
10


Ví dụ 1: 33 : 6. Tôi hướng dẫn học sinh cách chia. Yêu cầu học sinh nêu tên gọi

cũng hướng dẫn tương tự để các em có thể thực hiện được như sau:
Ví dụ 3: 2 249 : 4 ( ví dụ b SGK 3 trang 118)

11


Lượt chia thứ nhất : Lấy 22 chia cho 4 , 22 chia cho 4 không có trong
bảng chia 4 , giảm 22 đi 2 đơn vị ta được 20, 20 chia cho 4 được 5 , 5 × 4 = 20 ,
22 trừ đi 20 được 2.
Lượt chia thứ hai: hạ 4, được 24, 24 chia cho 4 được 6; 6 nhân 4 bằng
24, 24 trừ 24 bằng 0.
Lượt chia thứ 3 : hạ 9, 9 chia cho 4 không có trong bảng chia 4 tiếp
tục giảm 9 đi 1 đơn vị còn 8 ; 8 chia cho 4 được 2; 2 × 4 = 8; 9 trừ 8 bằng
1, dư 1.
Vậy 2249 : 4 = 562 (dư 1)
Với các phép tính chia khác tôi cũng tiến hành làm tương tự.
Để việc giảm số được đơn giản , tôi có thể yêu cầu học sinh làm giảm số
bị chia ở mỗi lần chia theo đúng quy tắc : giảm lần lượt 1, 2, 3...đơn vị. Chẳng
hạn: Trong ví dụ 1 nếu ta giảm số bị chia từ 33 thành 31 thì kết quả ước lượng
không được. Nên phải giảm tiếp . Nếu học sinh hiểu vấn đề thì giáo viên hướng
dẫn các em ước lượng một lần chuẩn như ở ví dụ 1: 33 : 6 ( ta lấy 30 : 6 = 5).
Rèn kỹ năng ước lượng thương là cả một quá trình. Thực tế của vấn đề này là
tìm cách nhẩm nhanh thương của phép chia.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh chia đối với phép chia hết hay phép
chia có dư thì tôi luôn yêu cầu học sinh chia xong phải thử lại. Bước thử lại là
rất quan trọng vì vừa tạo cho các em có thói quen kiểm tra kết quả, vừa tạo cho
các em tính cẩn thận chắc chắn.
Ví dụ: Khi các em thực hiện phép chia 35 : 7 = 5 thử lại: 5 × 7 = 35 kết quả
đúng.
Hay : 457 : 4 = 114 ( dư 1). Thử lại: 114 × 4 + 1 = 457 kết quả đúng.

bảng 9 .
Khi rèn kỹ năng làm bài tập thì tôi cho học sinh hoàn thành tốt và hoàn
thành tự làm bài đển phát huy tính tích cực trong học tập của các em. Tôi hướng
dẫn trực tiếp những học sinh tiếp thu bài chậm.
- Số lượng bài tập: 26 bài.
* Ví dụ: Bài tập 2 trang 36 SGK.
Tính: 28 :7 ; 35: 7; 21: 7 ; 14: 7; 42: 7; 42: 6; 25: 5; 49: 7
* Dạng 2: Các bài tập dạng" chia ngoài bảng"
Đây là loại bài mở rộng kiến thức bảng chia và dừng lại ở chia cho số có
một chữ số, Nó là nền tảng để học sinh thực hiện được chia cho số 2, 3, 4... chữ
số khi dạy các bài thuộc loại này chúng ta nên tiến hành theo các bước sau đây:
Bước 1: Giáo viên đưa ra các bài tập áp dụng để học sinh nắm chắc hơn
kiến thức.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh làm lần lượt từng bài tập trong SGK.
* Các bài tập về chia có dư:
Ví dụ 1: Bài tập 1 trang 29 SGK.
17 : 5, 19 : 3; 29 : 6; 19 : 4
Ví dụ 2: Bài tập 1 trang 30
13


* Các bài tập về chia hết:
Ví dụ: Bài tập 1 SGK trang 39
35 : 5 ;
28 : 7 ;
24 : 6
* Dạng 3: Bài tập về tính nhẩm và tìm thành phần chưa biết của
phép tính nhân và phép tính chia.
Loại củng cố, loại này áp dụng cho các bài luyện tập, ôn tập, giúp học
sinh khái quát lại kiến thức này áp dụng và mở rộng kiến thức đã đạt được .

( x là thừa số, 7 là thừa số, 70 là tích)
- Tìm thành phần gì ? ( Tìm thừa số)
- Cách tìm thừa số? ( Lấy tích chia cho thừa số đã biết 70: 7)
14


x × 7 = 70
x = 70 : 7
x = 10

* Dạng 4: Các dạng bài tập tính giá trị biểu thức ( có liên quan đến
phép chia)
Ở dạng này tôi hướng dẫn học sinh :
- Đọc kỹ đầu bài.
- Trong dãy phép tính, biểu thức có những phép tính gì?
- Cách làm dãy phép tính, biểu thức có phép tính mà đã nêu?
- Trình bày đẹp và khoa học.
Tôi chia dạng bài tập này thành 2 dạng nhỏ:
* Biểu thức không có dấu ngoặc.
Ví dụ 1: Bài tập 2 (SGK trang 79 )
Tính giá trị biểu thức:
a, 48 : 2 : 6
b, 8 × 5 : 2
81 : 9 × 7
* Biểu thức có chứa dấu ngoặc.
Ví dụ 1: Bài tập 1 (SGK trang 82 )
Tính giá trị biểu thức:
a, 238 - ( 55 - 35)
b, 84: ( 4 : 2)
Ví dụ 2: Bài tập 4 (SGK trang 177 )

= 293 ( đúng)
Thực tế nhiều học sinh ghi :
253 + 10 × 4 = 40 + 253
= 293 ( vẫn đúng)
Tôi đã chỉ cho học sinh thấy cả hai cách đều đúng kết quả . Tuy nhiên tôi
lưu ý ngay cho học sinh cách trình bày ở trường hợp sau. Tôi hướng dẫn cho học
sinh xác định vị trí của các số bằng các câu hỏi gợi mở: Ví dụ: Trong biểu thức
số 253 ở vị trí nào? (Thứ nhất ) . Vậy khi làm chúng ta phải giữ nguyên vị trí
của nó. Tôi phải làm tốt điều này bởi vì khi làm bài có phép trừ học sinh sẽ bị sai.
Để giúp học sinh nắm các quy tắc thực hiện tính giá trị biểu thức, ngoài
các bài tập ở SGK, tôi giao thêm cho học sinh làm các bài tập cùng dạng, nhưng
với các số khác nhau.
* Khi học sinh trình bày sai tôi đã lưu ý ngay, để tránh cho học sinh có thói
quen. Bằng cách đưa ra các ví dụ cho học sinh hiểu rõ vì sao phải như vậy.
Ví dụ: Bài 1 SGK trang 80: Tính giá trị của biểu thức
93 - 48 : 8 = 93 - 6
= 87 ( đúng)
Tránh trường hợp học sinh ghi
93 - 48 : 8 = 6 - 93
= 87 ( sai)
Khi hỏi vì sao em lại làm như cách làm sau thì các em trả lời ( là nhân
chia trước, cộng trừ sau và ghi như vậy.)
Chẳng hạn, khi làm bài tập 81 - 18 : 2 nếu học sinh không nhớ quy tắc đã học thì
nói chung cũng có thể làm sai vì ( 63 không chia hết cho 2) nhưng ta đổi thành :
16


84 - 60 : 3 thì buộc học sinh phải nhớ quy tắc mới làm đúng được.
Ví dụ: 84 - 60 : 3 = 84 - 20
84 - 60 : 3 = 24 : 3

Số cây cam gấp số lần cây cau là:
20 : 5 = 4 ( lần)
Đáp số : 4 lần .
Các bài tập khác tôi tiến hành tương tự:
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Sau khi áp dụng các biện pháp đó vào thực tiễn dạy học. Tôi đã thu được kết
quả rất khả quan. Hiện nay hầu hết các em đang học ở lớp 3 đều thực hiện thành
x

17


thạo các bảng nhân bảng chia, nhân chia ngoài bảng, nhân có nhớ và chia có dư
các em đều nắm rất chắc chắn cách thực hiện phép tính. Các em tự làm các bài
tập về nhân chia mà không cần hướng dẫn. Vì vậy kết quả khảo sát môn Toán vừa
qua học sinh lớp 3 đều đạt yêu cầu. Như vậy so với kết quả đầu năm, chất lượng
học sinh nâng lên một cách rõ rệt, tỉ lệ học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt cao.
Đó là một thành công bước đầu khi áp dụng phương pháp này của bản thân.
Kết quả khảo sát đến cuối tháng 3 năm học 2017- 2018 như sau:
Điểm
Số HS

Điểm 9 -10

Điểm 7- 8

Điểm 5 - 6

Điểm dưới 5


Rèn luyện kỹ năng chia cho học sinh Tiểu học là quá trình công phu, bởi
đó là kỹ năng tính toán tổng hợp nhất, được tiến hành từ đầu lớp 3 đến cuối lớp
5 mà khâu quan trọng nhất là quá trình rèn luyện kỹ năng thực hành phép chia số
32 em

18


tự nhiên (chia hết và chia có dư). Bằng các biện pháp đã trình bày, tôi đã giúp
cho học sinh lớp 3 thực hiện chia hết và chia có dư một cách thành thạo, tạo điều
kiện cho học sinh học tốt các nội dung khác trong chương trình Toán lớp 3 và
các lớp trên.
Nói tóm lại, việc tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy học Toán nói
chung, nội dung phương pháp dạy học phép chia hết và phép chia có dư nói
riêng là hết sức cần thiết trên cơ sở hình thành cho các em học về phân số, số
thập phân sau này.
Như vậy, qua việc thực hiện nội dung nghiên cứu trên, cho chúng ta thấy
được tầm quan trọng trong việc giúp học sinh học tốt phép chia là một công
việc mà đòi hỏi mỗi giáo viên chủ nhiệm cần kiên trì, nhẫn nại mới thực hiện
được. Vì kết quả đem lại không phải ngày một, ngày hai mà là cả một quá trình
học tập và rèn luyện hết sức khó khăn đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì chỉ
bảo tận tuỵ và theo dõi từng bước tiến bộ của các em để hướng các em đi đúng
theo kế hoạch mà mình đã đề ra. Muốn vậy người giáo viên cần:
+ Giáo viên cần nắm được đặc điểm nhận thức của học sinh, nắm vững
các phương pháp dạy học phép chia các số tự nhiên; có định hướng đúng đắn
trong việc đổi mới phương pháp dạy học sẽ giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng
phương pháp dạy học đúng, hiệu quả và phát huy được tính tích cực trong học
tập của học sinh.
+ Cần nghiên cứu kỹ nội dung, chương trình, sách giáo khoa, mục tiêu
Toán học Tiểu học. Tìm hiểu kỹ khả năng tính toán 4 phép tính số học của học

kiện để có phòng học, phòng đa năng để các em được học hai buổi trên ngày, để
các em có nhiều thời gian trong việc học tập và thực hành môn Toán .

- PGD cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn đổi mới phương pháp
dạy học để giáo viên có cơ hội học hỏi bạn bè đồng nghiệp.
Trên đây là những suy nghĩ và việc làm thực tiễn tôi đã áp dụng trong năm
học 2017 – 2018 có những kết quả nhất định. Rất mong bạn bè đồng nghiệp,
lãnh đạo ngành góp ý để bản thân rút kinh nghiệm nhiều hơn trong quá trình đổi
mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và đổi mới phương pháp dạy
học Toán lớp 3 đạt kết quả cao hơn.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết không sao chép nội dung của người khác
Người viết

Vũ Thị Ly
TÀI LIỆU THAM KHẢO
20


1. Sách giáo khoa Toán 3. ( NXB GD)
2. Sách chuẩn kiến thức kĩ năng lớp 3. (NXB GD)
3. Sách giáo viên Toán 3 (NXB GD)
4. Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học . (NXBGD)
5 Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng các lớp 1, 2, 3, 4,5 (Bộ Giáo dục - Đào
tạo)


lượng dạy học giải toán có lời văn
cho học sinh lớp 1.
Một số biện pháp nâng cao chất
lượng dạy học giải toán có lời văn
cho học sinh lớp 1.
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4
học tốt môn Toán.
Đổi mới phương pháp dạy học các
yếu tố hình học môn Toán lớp 3
theo hướng tích cực hóa hoạt động
của học sinh
Một số biện pháp dạy học phép
chia hết và phép chia có dư góp
phần nâng cao chất lượng học tập
môn Toán cho học sinh lớp 3

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại


C

2015-2016

Phòng GD
& ĐT

C

2016-2017

Phòng GD
& ĐT

B

2017-2018

22


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC PHÉP CHIA HẾT VÀ PHÉP
CHIA CÓ DƯ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status