Một số biện pháp dạy học sinh lớp 2 giải toán có lời văn - Pdf 57

1. Mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy Đại hội Đảng lần thứ XI đã có
nghị quyết về giáo dục đó là: "Nâng cao giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục
lý tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ
năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn." Để đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của xã hội đối với giáo dục. Bộ giáo dục - đào tạo đã chủ trương đổi
mới chương trình tiểu học theo các mục tiêu: Tiếp tục tăng cường thực hiện giáo
dục toàn diện (Đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản) đảm bảo sự cân đối hài
hoà giữa các lĩnh vực học tập và giáo dục ở nhà trường tiểu học.
Bậc tiểu học là bậc đầu tiên của hệ thống giáo dục thuộc nền văn minh nhà
trường của mỗi quốc gia. Là bậc học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền
vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu tạo ra
những con người có “tài”, có “đức”. Những gì thuộc về trí thức và kỹ năng về
hành vi và tình người… được định hình ở bậc Tiểu học và nó sẽ theo suốt cuộc
đời mỗi em như : kỹ năng tính toán trong cuộc sống hằng ngày… Những gì
được hình thành và định hình ở trẻ rất khó thay đổi, cải tạo lại. Chính vì vậy
môn Toán ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động trí tuệ
rất lớn cho học sinh. [1]
Hiện nay trong các trường đã và đang vận dụng phương pháp dạy học đổi
mới, đó là cách dạy hướng vào người học hay còn gọi là “Lấy học sinh làm
trung tâm”, người thầy là người hướng dẫn chỉ đạo trong quá trình chiếm lĩnh
kiến thức của học sinh, với các môn học nói chung và môn Toán nói riêng. Để
vận dụng tốt được cách dạy học mới này đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết
với nghề, phải dày công nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp với đối tượng học
sinh mình dạy.
Qua xem xét và nghiên cứu thực tế dạy toán có lời văn của lớp 2 trường
Tiểu học Quảng Lưu. Tôi thấy chỉ được khoảng 30% biết giải toán, còn 70% rất
lơ mơ, lúng túng những bài toán có lời văn. Dạy học toán có lời văn là một bộ
phận kiến thức toán học hoàn chỉnh cho học sinh Tiểu học. Mỗi bài toán có lời

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1.Cơ sở lí luận của việc giải toán có lời văn ở lớp 2:
2.1.1. Vị trí và tầm quan trọng của môn toán lớp 2:
Môn Toán là một môn học khó đối với tất cả các lớp học và giải toán có
lời văn lại càng khó hơn đối với các em đầu cấp. Toán lớp 2 là môn học có vị trí
gần như là nền móng, là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học.
Các em học tốt và giải các bài toán có lời văn một cách thành thạo là điểm khởi
đầu cho các môn học khác, giúp các em lớn lên nhiều em trở thành tiến sĩ, kĩ sư,
nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ... trở thành những người lao động sáng tạo trên
mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống; trên tay có máy tính xách tay, trong túi có
máy tính bỏ túi... nhưng các em không nắm được các công thức toán học để vận
dụng vào cuộc sống thường ngày thì máy xách tay, máy tính bỏ túi, điện thoại,
… cũng vô giá trị. Vì vậy việc học toán rất là quan trọng và những bài toán giải
có lời văn ban đầu các em cần phải giải thành thạo. Từ đó giúp các em tự tin
trong học toán.
Đối với mạch kiến thức: "Giải toán có lời văn" là một trong năm mạch
kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp Tiểu học. Thông qua cách
giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng
hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Giải toán có lời văn là mạch kiến
thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ
được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo
đại lượng. Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống,
giữa toán học với các môn học khác.
2.1.2. Vai trò của việc dạy giải toán cho học sinh lớp 2:
Với việc dạy và rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 là một
việc khó và rất quan trọng của môn Toán. Thông qua dạy giải toán có lời văn,
giáo viên đã giúp học sinh xác định được cấu trúc giải một bài toán có đầy đủ
các phần (tóm tắt, bài giải, câu lời giải, phép tính và đáp số). Giúp học sinh dễ
tìm hiểu những nội dung có trong bài toán và qua đó góp phần giáo dục học sinh
về mọi mặt. Mặt khác, học sinh hiểu và biết cách giải bài toán có lời văn ngay từ

* Những việc làm được:
- Về giáo viên:
Những năm học gần đây, chất lượng môn toán ngày càng đi lên kể cả chất
lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn. Bam giám hiệu đã chú trọng đến việc đổi
mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học trong đó có môn toán. Bam
giám hiệu đã tổ chức cho giáo viên dạy đối chứng chuyên đề, thăm lớp dự giờ
đồng nghiệp để nâng cao tay nghề. Qua những tiết dự giờ đồng nghiệp, bản thân
tôi muốn học sinh trường Tiểu học Quảng Lưu giải toán có lời văn tốt hơn nữa
nên tôi ứng dụng biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học lớp 2E, lớp
tôi chủ nhiệm và giảng dạy..
- Về học sinh:
Lớp tôi chủ nhiệm có 32 em học sinh, đa số các em ngoan, chăm học.
Đầu năm học, tôi đã kiểm tra đồ dùng học tập, sách, vở của từng em nên
lớp tôi 100% học sinh có đủ sách giáo khoa, đồ dùng học tập phục vụ các môn
học. Lớp tôi có khoảng 32% học sinh trong diện tiếp thu bài nhanh ở môn toán.
Tôi đã xây dựng được nề nếp học tập trong lớp. Các em đã có thói quen học tập
cá nhân, học theo nhóm, đôi bạn cùng tiến bộ.
* Những việc chưa làm được:


- Đối với giáo viên: Những tiết dự giờ đồng nghiệp trong trường, qua các
vòng thao giảng để chọn giáo viên dạy giỏi cấp trường và qua những năm tháng
giảng dạy, tôi nhận thấy phương pháp dạy dạng giải toán có lời văn ở một số
giáo viên chưa phù hợp với đối tượng học sinh lớp 2. Từ cách dẫn dắt, diễn đạt
của giáo viên còn lúng túng, khó hiểu đối với học sinh và hình thành cho học
sinh giống như một bài mẫu để học sinh bắt chước. Phương pháp truyền thống
theo lối mòn chủ yếu của giáo viên là đọc đầu bài cho học sinh nghe, (hoặc nhìn
sách) rồi sau đó gợi ý học sinh tìm lời giải một cách chung chung không cụ thể,
học sinh không hiểu bắt đầu viết lời giải như thế nào? Dựa vào đâu?... Vì vậy
chưa khắc sâu được kiến thức cho học sinh dẫn đến học sinh còn lúng túng trong


Học sinh làm bài
tốt

Học sinh làm đúng phép
tính, sai lời giải(hoặc đúng
lời giải, sai phép tính

Học sinh chưa hiểu cách
làm bài giải, làm sai cả
lời giải và phép tính

Lớp

Sĩ số

2B

30 em

SL
14

TL
46,7%

SL
10

TL

các em chỉ trả lời được phép tính giải. Điều đó cho thấy rằng học sinh rất lúng
túng và ngại khi phải tìm lời giải cho bài toán. Đó là do học sinh chưa đọc kỹ đề,
không hiểu thế nào là tóm tắt bài toán có lời văn mặc dù các em biết giải toán,
viết đúng các phép tính nhưng hầu hết các em không đọc được đề toán dựa vào
tóm tắt đã cho. Bởi vì các em chưa hiểu được nội dung các bài toán có lời văn là
những bài toán thực tế xung quanh ta được thể hiện bằng những từ ngữ, câu văn
có liên quan đến cuộc sống hàng ngày.
* Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế trên:
Ở lớp 1 các em mới được làm quen với giải toán có lời văn về dạng toán
“Thêm - Bớt”, các em còn lúng túng trong việc giải toán. Lên lớp 2, ngay đầu
năm các em được ôn lại phần giải toán có lời văn về dạng “Thêm - Bớt”. Và bắt
đầu từ tuần 5, các em chuyển sang dạng giải toán có lời văn “Bài toán về nhiều
hơn”. Dạng toán này, các em chỉ được học trong 2 tiết, các em chưa nắm vững
cách giải dạng toán này lại tiếp tục học dạng mới về giải toán dạng “Bài toán về
ít hơn”. Vì vậy một số em còn lẫn lộn giữa dạng toán “Thêm - Bớt”, dạng toán
“Bài toán về nhiều hơn” và dạng toán “Bài toán về ít hơn”. Một số em còn nhút
nhát, không tự tin, không chịu suy nghĩ tìm tòi lời giải. Các em chưa mạnh dạn
trao đổi với bạn, với cô giáo khi chưa hiểu yêu cầu của bài nên hiểu thế nào làm
thế ấy dẫn đến làm sai.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề dạy giải toán có lời
văn ở lớp 2:
2.3.1. Đối với giáo viên dạy lớp 2:
- Để giảng dạy tốt môn Toán lớp 2 nói chung và giảng dạy phần "Giải bài
toán có lời văn" nói riêng, việc đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội
dung chương trình, sách giáo khoa.
- Luôn học hỏi kinh nghiệm ở đồng nghiệp, có đổi mới phương pháp dạy
học phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình.
- Lựa chọn câu hỏi sao cho gần gũi với lời giải, học sinh chỉ cần thay đổi
chút ít về từ để được câu lời giải thích hợp.


- Có học sinh khi giải bài toán quên không ghi đáp số (Hoặc thiếu đơn vị
đo ở đáp số)
Để giúp học sinh lớp 2 khắc phục những lỗi sai trên về giải toán có lời văn,
tôi tiến hành theo 5 bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán:
Thông qua việc đọc bài toán, học sinh phải đọc kĩ để hiểu rõ bài toán cho
biết gì? Cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Khi đọc bài toán phải hiểu rõ tình huống
toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường sau đó học sinh “thuật lại
vắn tắt bài toán mà không cần đọc lại nguyên văn đề bài, đó là bước 1.
Bước 2: Tóm tắt bài toán:
Là bước quan trọng để thể hiện phần trọng tâm và toát lên những cái phải
tìm của đề bài.
Bước 3: Tìm tòi cách giải bài toán:


Gắn liền với việc phân tích các giữ liệu, điều kiện và câu hỏi của bài toán
nhằm xác lập mối liên hệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích
hợp.
Minh họa bài toán bằng tóm tắt đề toán, dùng sơ đề hoặc dùng mẫu thích
hợp, tranh, ảnh…
Lập kế hoạch giải bài toán, có hai hình thức thể hiện: Đi từ câu hỏi của bài
toán đến với số liệu, hoặc đi từ số liệu đến các câu hỏi của bài toán.
Ví dụ: Giang hái được 24 quả cam, Sơn hái được nhiều hơn Giang 5 quả
cam. Hỏi Sơn hái được bao nhiêu quả cam?
Xuất phát của bài toán đến giữ kiện:
- Bài toán hỏi gì? (Giang hái được bao nhiêu quả cam?)
- Có thể biết ngay chưa? Vì sao?
- Có thể biết được số quả cam Sơn hái được nhiều hơn Giang bao nhiêu
quả cam chưa? Vì sao?
- Vậy việc đầu tiên các em phải tìm cái gì?

- Muốn tìm số bông hoa của Huệ ta phải làm thế nào?
Thực hiện cách giải bài toán:
Bài giải
Huệ hái được số bông hoa là:
15 + 4 = 19 (bông)
Đáp số: 19 bông hoa
Ví dụ: Phương Chi được cô giáo thưởng 10 quyển vở, Ánh Ngọc được cô
giáo thưởng ít hơn Phương Chi 3 quyển vở. Hỏi Ánh Ngọc được cô giáo thưởng
mấy quyển vở?
- Hướng dẫn học sinh tóm tắt:
10 quyển vở
Phương Chi:
3 quyển vở
Ánh Ngọc:

? quyển vở

Bài giải
Ánh Ngọc được cô giáo thưởng số quyển vở là:
10 - 3 = 7 (quyển)
Đáp số: 7 quyển vở
- Kiểm tra bài giải:
Qua ví dụ trên em nào biết: Muốn làm một bài toán có lời văn thì ta phải
thực hiện mấy bước? (Thực hiện 5 bước)
- Học sinh xây dựng thành ghi nhớ.
- Giáo viên ghi lên bảng từng bước sau đó gọi 1, 2 học sinh đọc to cho cả
lớp nghe.
2.3.3. Lựa chọn phương pháp phù hợp để dạy dạng bài: "Giải bài
toán có lời văn" ở lớp hai:
* Phương pháp trực quan:

Lứa tuổi học sinh lớp 2, lứa tuổi nhỏ các em đang hứng thú tò mò những
gì mới lạ, tạo không khí lớp học sổi nổi và kết quả học tập sẽ có hiệu quả cao. Vì
vậy phương pháp dạy học đối với khối lớp này cần hết sức quan tâm, đặc biệt là
môn Toán. Qua nhiều năm giảng dạy đổi mới phương pháp dạy học “Phát huy
tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh”, bản thân tôi thấy mỗi học sinh
rất hứng thú, tạo cơ hội cho các em được trình bày ý kiến về rèn kĩ năng tự tin
trình bày trước cô giáo, trước nhóm, trước lớp.
Ví dụ: Khi đặt một lời giải cho một bài toán có thể cho nhiều cá nhân tự
nêu lời giải, cách giải của mình, sau đó cho học sinh khác nhận xét, bổ sung,
cuối cùng cô giáo nhận xét chung chốt lại các lời giải, cách làm đúng, tuyên
dương những học sinh có lời giải hay sáng tạo. Làm như vậy là kích thích được
sự suy nghĩ độc lập sáng tạo của học sinh. Hơn nữa học sinh không ỷ lại bạn,
buộc phải suy nghĩ để trả lời. Các em đã diễn đạt bằng lời đúng thì khi viết các
em viết sẽ đúng các lời giải.
Bên cạnh những phương pháp dạy học trên, để vận dụng vào giải toán thì
người giáo viên cần vận dụng linh hoạt một số hình thức tổ chức dạy học như:
- Tổ chức dạy học cá nhân.
- Tổ chức dạy học theo nhóm.
- Tổ chức dạy học toàn lớp.
- Tổ chức dạy học kết hợp vui chơi có liên quan đến nội dung toán học.
Để cho giờ học sinh động, học sinh hứng thú và nắm bắt kiến thức một
cách nhanh nhất thì ngoài việc vận dụng phương pháp dạy học, hình thức tổ
chức dạy học thì người giáo viên cũng cần phải chuẩn bị đồ dùng học tập hoặc
vận dụng công nghệ thông tin cần thiết vào bài dạy.
Trong mỗi tiết học giáo viên phải là người lựa chọn các phương pháp dạy
học và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với từng dạng bài, làm sao
giúp học sinh phát huy hết khả năng nhận thức của mình. Các em được suy


nghĩ, tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức. Từ đó các em có thể vận dụng vào bài

Hình vẽ 12 quả cam - nam châm
3. Các hoạt động dạy học chủ yếu:
3.1. Kiểm tra bài cũ: Gọi học sinh lên bảng thực hiện yêu cầu sau:
- Giải bài toán theo tóm tắt sau:
Gói kẹo chanh: 25 cái
Gói kẹo dừa : 13 cái
Cả hai gói
: …. Cái?
- Học sinh giải trên bảng, dưới lớp làm vào vở nháp.
- Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét, sửa sai (nếu sai)
- Giáo viên nhận xét, tuyên dương. [3], [6]
3.2. Bài mới:


HĐ1: Giới thiêu bài: Giờ toán hôm nay, các em sẽ được học và làm quen
với dạng toán có lời văn mới. đó là: “ Bài toán về nhiều hơn”
HĐ2: Phát triển bài: Giới thiệu về bài toán nhiều hơn:
+ Mục tiêu: Học sinh nhận biết được cách giải bài toán về nhiều hơn.
+ Cách tiến hành: Giáo viên yêu cầu học sinh tập trung theo dõi lên bảng.
- Giáo viên cài 5 quả cam lên bảng và nói: Hàng trên có 5 quả cam.
- GV nói: Hàng dưới có 5 quả cam bằng số cam ở hàng trên và nhiều hơn
hàng trên 2 quả, giáo viên cài 2 quả cam lên bảng để học sinh nhìn thấy hàng
dưới nhiều hơn hàng trên 2 quả cam.
- Các em hãy so sánh số cam ở hai hàng với nhau.
- Giáo viên hỏi: Hàng dưới nhiều hơn hàng trên bao nhiêu quả? (Nối 5
quả hàng trên với 5 quả ở hàng dưới, còn thừa 2 quả)
- Gọi nhiều học sinh nêu bài toán SGK.
- Muốn biết cành dưới có bao nhiêu quả cam ta làm thế nào?
- Học sinh thảo luận nhóm đôi làm bài.
- Gọi học sinh lên bảng giải

- Tổ chức cho học sinh nhận xét, bổ sung (nếu sai)
- Giáo viên nhận xét, tuyên dương.
Bài 3: Mục tiêu: Tiếp tục giải toán về giải bài toán về nhiều hơn.
* Cách tiến hành:
- Gọi 3 học sinh đọc đề toán
- Gọi 4 học sinh đọ tóm tắt.
- Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
- Để giải bài toán này, các em làm phép tính gì?
- Học sinh làm bài cá nhân vào vở.
- Giáo viên quan sát giúp đỡ những học sinh còn lúng túng khi giải.
- Học sinh đổi chéo vở kiểm tra bài của bạn.
- Tổ chức cho học sinh nhận xét bài của bạn.
- Giáo viên kiểm tra và chấm một số bài, nhận xét, tuyên dương.
3.3. Củng cố - dặn dò:
- Hôm nay các em vừa học dạng toán gì?
- Nhiều học sinh nhắc lại.
- Các em giải các bài toán về nhiều hơn bằng phép tính gì?
- Giáo viên, nhắc nhở, tuyên dương tinh thần học tập của một số em..
[2], [3], [4], [5], [6], [7]
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm việc rèn kĩ năng giải toán có
lời văn ở lớp 2:
Qua những tiết dạy thực nghiệm ở chính lớp tôi chủ nhiệm, tôi nhận biết
được một điều là học sinh rất hứng thú trong học tập, rèn luyện, say mê tìm tòi,
nghiên cứu và sáng tạo trong mọi hoạt động. Các em rất tự giác, chủ động trong
học tập. Không còn rụt rè và mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, nói to, rõ ràng,
rành mạch, trong việc đánh giá, nhận xét bạn trong học tập và trong quá trình
phát biểu xây dựng bài. Việc học nhóm đã phát huy được tích cực, hiệu quả. Khi
làm bài học sinh không còn lúng túng để tìm cách giải, cách tóm tắt và tìm câu
trả lời giải như trước. Đặc biệt là việc phân tích tìm hiểu đề được học sinh nhẩm

2B

30 em

2E

32 em

Học sinh
làm bài tốt
SL
23
30

TL
76,7%
93,75%

Học sinh làm
đúng phép tính,
sai lời giải(Hoặc
lời giải đúng,
phép tính sai)
SL
TL
5
16,7%
2
6,25%


tháng 9/2017 và tháng 4/2018

3. Kết luận, kiến nghị:
3.1. Kết luận:
Qua nghiên cứu đề tài này tôi thấy: Nếu giáo viên Tiểu học nắm vững bản
chất toán học của các mạch kiến thức nói chung, của số học nói riêng; nắm được
sự thể hiện các nội dung kiến thức đó trong sách giáo khoa thì chắc chắn việc
dạy học sẽ tốt hơn. Vì vậy có hiểu đúng, chính xác kiến thức thì giáo viên mới
truyền thụ cho học sinh kiến thức đúng được.
Hơn nữa, bằng việc tìm hiểu cách sắp xếp nội dung dạy học trong sách
giáo khoa, giáo viên sẽ thấy được mối liên hệ giữ các bài học, đồng thời trang bị
cho học sinh những lượng kiến thức cần thiết để làm cơ sở học các bài tiếp theo.
Việc nắm được đặc điểm nhận thức của học sinh, các phương pháp dạy
häc sinh gi¶i to¸n cã lêi v¨n; định hướng đổi mới phương pháp dạy học sẽ
giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học đúng, hiệu quả và
phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh.
Mỗi giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, cấu trúc sách giáo
khoa về “Giải toán có lời văn” ở lớp Một để xác định được trong mỗi tiết học
phải dạy cho học sinh cái gì, dạy như thế nào?
Đối với học sinh Tiểu học và đặc biệt là học sinh lớp 2, cần coi trọng sử
dụng trực quan trong giảng dạy nói chung và trong dạy “Giải toán có lời văn”
nói riêng, tuy nhiên cũng không vì thế mà lạm dụng trực quan hoặc trực quan
một cách hình thức.


Dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 2 không thể nóng vội mà phải
hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành
cho các em một phương pháp tư duy học tập đó là tư duy khoa học, tư duy sáng
tạo, tư duy lô gic. Rèn cho các em đức tính chịu khó cẩn thận trong “Giải toán
có lời văn”.

có thời gian ôn tập, từ đó kết quả học tập của các em được nâng cao hơn.
* Đối với cụm chuyên môn và phòng giáo dục
Tạo điều kiện cho giáo viên được dự các buổi dạy đối chứng chuyên đề ở
cụm. Tổ chức các buổi tập huấn về chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học để
chúng tôi học tập được nhiều phương pháp mới, nhiều hình thức dạy học phong
phú hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân qua thực tế giảng dạy
lớp 2 trong nhà trường Tiểu học Quảng Lưu. Hoàn thành được đề tài này tôi


được sự giúp đỡ của các đồng chí Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn nhà
trường và các bạn đồng nghiệp. Bản thân tôi đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý của các
đồng chí lãnh đạo để đề tài này hoàn thiện hơn. Được áp dụng rộng rãi vào thực
tế các nhà trường Tiểu học trong huyện nhà, góp phần cho việc giảng dạy các
bài toán có lời văn ở lớp 2 đạt hiệu quả tốt nhất có thể.
Tôi xin chân thành cám ơn !
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Quảng Xương, ngày 5 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan SKKN này là do
tôi tự viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Hằng


MỤC LỤC
sTT
1
1.1

Cơ sở lí luận của việc giải toán có lời văn lớp 2
Vị trí và tầm quan trọng của môn toán lớp 2

Trang
1
1
2
2
2
2

Vai trò của việc dạy giải toán cho học sinh lớp 2

2

Nội dung chương trình của toán lớp 2 loại bài toán giải có lời
văn
Thực trạng
Tình hình địa phương và nhà trường

3

Thực trạng của việc tổ chức dạy học rèn kĩ năng giải toán có
lời văn cho học sinh lớp 2
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề dạy giải toán
có lời văn ở lớp 2
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm việc rèn kĩ năng giải
toán có lời văn ở lớp 2
Kết luận, kiến nghị
Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status