A. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng
quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian
của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận
thức một số mặt của thế giới xung quanh. Nó góp phần rèn luyện phương pháp
suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển óc thông
minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh. Mặt khác, các kiến
thức, kĩ năng môn toán ở Tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực
tế.
Trong nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy việc dạy giải toán có lời văn
trong chương trình toán bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng là hết sức
cần thiết, ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tư duy của các em còn hạn chế về mặt suy
luận, phân tích nên việc dạy giải toán có lời văn ở tiểu học sẽ góp phần giúp cho
học sinh phát triển được năng lực tư duy, khả năng quan sát, trí tưởng tượng
phong phú và hình thành khả năng giải toan có lời văn, đặt nền móng vững chắc
cho các em học tốt môn toán sau này ở các cấp học trên.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều năm
đứng lớp ở khối 2, tôi thấy: Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ
lớp một, đặc biệt ở lớp 2 yêu cầu các em viết lời giải cho phép tính… Có thể
nói, đây quả thực là một khó khăn đối với học sinh khi học giải toán có lời văn.
Đọc một đề toán đang còn là khó đối với các em vậy mà các em còn tiếp tục
phải: Tìm hiểu đề toán, tóm tắt đề, đặt câu lời giải, phép tính, đáp số… Vì vậy,
đa số các em còn gặp lúng túng trong khi giải toán có lời văn như: chưa biết xác
định yêu cầu đề bài hỏi gì?, chưa biết cách đặt câu lời giải thế nào cho đúng,...
dẫn dến một số em có thái độ lơ là, chán nản đối với những bài toán có lời văn.
Từ những vấn đề đó mà bản thân tôi luôn luôn suy nghĩ, trăn trở, trao đổi, thảo
luận trong những buổi sinh hoạt chuyên môn, tích luỹ nghiệp vụ do nhà trường
tổ chức. Làm thế nào để giúp học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu
được câu lời giải hay, phép tính đúng. Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự
+ Thông qua việc dự giờ của giáo viên cùng khối trong đơn vị và dự giờ
môn toán của giáo viên các khối khác để học tập, rút king nghiệm cho bản thân.
+ Căn cứ vào kết quả làm bài của học sinh ở các tiết dạy trên lớp và điểm
kiếm tra định kì cuối kì 1, cuối kì 2 giáo viên đánh giá, đối chiếu số liệu học
sinh hoàn thành mục tiêu môn học để có biện pháp phù hợp, kịp thời với từng
đối tượng học sinh.
B. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán
được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc,
có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời
văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đó che
đậy bản chất toán học của bài toán. Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra
được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm
được những câu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài
toán.
Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán, đáp ứng theo yêu cầu
của chương trình, đó là điều cần phải trao đổi nhiều đối với chúng ta – những
người trực tiếp giảng dạy cho các em rất nhiều việc: Đặt câu lời giải cho bài
toán.
Ta thấy rằng, giải toán ở Tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận
dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn. Qua đó, từng bước giúp
học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc.
Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của người lao động
mới: Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công
việc.
Thực tế tôi thấy học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm
so với các dạng bài tập khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho
phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không
2. Thực trạng đối với giáo viên.
- Khi dạy giải toán cho học sinh, giáo viên mới chỉ cung cấp cho học sinh một số
kiến thức cơ bản mà sách giáo khoa đã biên soạn, giáo viên chưa chú trọng việc
ra bài tập cho học sinh làm thêm, phụ đạo thêm để học sinh được luyện tập
nhiều, chưa dành thời gian để giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành.
- Giáo viên chưa tạo được mối liên quan giữa kiến thức mới và kiến thức đã học
để dẫn dắt học sinh tìm tòi sáng tạo trong khi tiếp nhận kiến thức.
- Giáo viên chưa chú ý đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi mà chỉ chú ý đến việc cho
học sinh ghi nhớ công thức và giải quyết một cách máy móc nên hiệu quả giảng
dạy chưa cao.
- Nhiều giáo viên trong giờ dạy chưa chú trọng đến cả ba đối tượng, số học sinh
nắm bắt kiến thức không đồng đều, chất lượng đại trà chưa cao, nên chưa phát
huy được khả năng phát triển toán học của các em.
3. Thực trạng đối với học sinh.
Khi giải toán đơn học sinh còn giải toán một cách thụ động, máy móc
theo yêu cầu của giáo viên, học sinh chỉ biết giải những bài toán cụ thể chưa biết
linh hoạt so sánh và liên hệ với các bài toán khác.
3
- Khi gặp những bài toán có dữ liệu "không tường minh" học sinh thường hay
lúng túng do chưa hiểu rõ đề bài và chưa có kĩ năng phân tích đề toán.
- Nhiều học sinh đọc còn chưa thông nên việc đọc kĩ đề toán là một việc khó
khăn nên dẫn đến giải bài toán sai.
- Nhiều em lựa chọn lời giải chưa hay, chưa phù hợp với nội dung bài toán.
- Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2. Vì kĩ
năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu
đề còn thụ động, chậm chạp…
4. Kết quả của thực trạng trên:
sống hàng ngày. Vì vậy tôi đã tìm ra cách khắc phục thực tế trên trong việc dạy
giải toán cho học sinh lớp 2 như sau:
III. CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Giải pháp chung:
Sau khi tôi đã vận dụng một số giải pháp để giúp các em nâng cao chất
lượng môn toán, tôi nhận thấy chất lượng có chuyển biến rõ rệt. Sau đây là một
số giải pháp cụ thể:
Giải pháp 1: Nắm vững nội dung chương trình toán 2.
Giải pháp 2: Giúp học sinh có kĩ năng giải tốt một số dạng toán có lời văn trong
chương trình toán 2.
Giải pháp 3: Tăng cường luyện tập các bài toán có lời văn cho học sinh.
Giải pháp 4: Dạy học quan tâm đồng đều đến tất cả các đối tượng học sinh. Tạo
hứng thú cho học sinh trong giờ toán.
2. Các biện pháp tổ chức thực hiện:
2.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu chương trình toán 2, sau đó phân loại các dạng
bài trong phần giải toán có lời văn ở lớp 2.
Được phân công dạy lớp 2 nhiều năm tôi đã nghiên cứu và nắm vững nội
dung chương trình toán 2. Tôi nhận thấy: Trong phần giải các bài toán có lời văn
được lồng ghép, xuyên suốt trong toàn bộ chương trình. Ở tất cả các tiết học hầu
như đều có ít nhất một bài toán có lời văn. Qua nghiên cứu, tôi đã lọc ra một số
dạng bài toán có lời văn thường gặp ở lớp 2 như sau:
4
Dạng 1: Tìm số bị trừ.
Ví dụ: Trên bờ có một số con vịt. Khi 8 con vịt đã xuống ao thì còn lại 7 con vịt.
Hỏi trên bờ lúc đầu có bao nhiêu con vịt?
Dạng 2: Bớt đi 1 số đơn vị ở mỗi số.
Đã xuống ao: 8 con vịt
Còn lại : 7 con vịt
Bước 3: Lập kế hoạch giải bài toán.
Từ bước 2 tôi đã diễn giải để học sinh tìm cách giải như sau:
?
Số vịt trên bờ
-
8
Số vịt xuống ao
=
7
Số vịt còn lại
5
Giáo viên
? Bài toán này yêu cầu ta tìm gì?
Giáo viên phân tích cho học sinh nhận
ra các thành phần trong phép trừ.
? Hãy nhắc lại cho cô các thành phần
trong phép tính trừ?
? Nhìn vào sơ đồ em thấy bài toán yêu
cầu tìm gì?
? Muốn tìm số bị trừ ta làm như thế
nào?
? Đối với bài toán này ta làm như thế
Bước 1: Đọc và phân tích đề bài
? Bài toán cho biết gì ?
? Bài toán hỏi gì?
- Gà đẻ được 51 quả trứng, lấy đi 6 quả làm
món ăn.
- Còn lại bao nhiêu quả trứng.
Tôi chú ý giải thích cho học sinh hiểu được từ " lấy đi" có nghĩa là " bớt đi"
Bước 2: Tóm tắt đề bằng ngôn ngữ
Gà đẻ: 51 quả trứng.
Lấy đi: 6 quả trứng.
Còn lại: ? quả trứng.
6
Bước 3: Lập kế hoạch giải bài toán.
? Muốn biết còn lại bao nhiêu quả trứng ta làm như thế nào? ( Lấy số quả trứng
có lúc đầu (51 quả) trừ đi Số trứng lấy đi ( 6 quả)).
Bước 4: Giải bài toán
Học sinh đặt lời giải ứng với yêu cầu của đề bài
Bài giải
Số quả trứng còn lại là:
51 - 6 = 45 (quả)
Đáp số: 45 quả trứng.
Bước 5: Kiểm tra bài giải.
Học sinh tự đánh giá bài của mình và của bạn bằng cách đổi chéo vở để
kiểm tra kết qủa cho nhau (dựa trên kết quả đúng mà giáo viên đã đưa ra nhận
xét trên bảng)
Dạng 3: Tìm số hạng chưa biết.
45 - 25 = 20 ( quả quýt)
7
Bước 5: Kiểm tra bài giải.
Học sinh tự kiểm tra lời giải của mình bằng cách so sánh bài của mình với
bài của bạn và bài của cô giáo.
Dạng 4: Tìm số trừ.
Ví dụ: Một bến xe có 35 ôtô, sau khi 1 số ôtô rời bến thì trong bến còn lại 10 ôtô.
Hỏi có bao nhiêu ôtô rời bến?
Bước1: Đọc và phân tích đề bài.
? Bài toán cho biết gì?
? Bài toán hỏi gì?
- Bến xe có 35 ôtô. Còn lại 10 xe ô tô.
- Có bao nhiêu xe đã rời bến.
Đối với bài này tôi phân tích cho học sinh hiểu các từ " có", " rời bến" và
mối liên hệ giữa các từ này.
Bước 2: Tóm tắt đề bài.
Tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng ngôn ngữ ngắn gọn như sau:
Có : 35 ôtô
Rời bến : ? ôtô
Còn lại: 10 ôtô
Bước 3: Lập kế hoạch giải bài toán
Bài toán có thể viết thành:
Có
-
đúng.
8
Dạng 5: Bài toán về nhiều hơn, ít hơn.
Ví dụ: Hoà có 4 bông hoa, bình có nhiều hơn Hoà 2 bông hoa. Hỏi Bình có mấy
bông hoa?
- Tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài toán:
+ Bài toán này thuộc dạng toán nào?
+ Đề bài cho chúng ta biết cái gì?
+ GV hướng dẫn cho HS tìm hiểu bước 2.
- Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán:
Biểu thị số bông hoa bằng sơ đồ đoạn thẳng.
4 bông hoa
2 bông hoa
Hoà:
Bình:
? bông hoa
+ Tìm cách giải bài toán:
Nhìn vào tóm tắt cho thấy Bình có nhiều hơn Hoà 2 bông hoa.
- Muốn tìm số bông hoa của Bình thì ta phải tìm thế nào?
* Thực hiện cách giải:
Bình có số bông hoa là:
4 + 2 = 6 ( bông )
Đáp số: 6 bông hoa.
* Ví dụ: Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7
toán đang làm, sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đăt câu hỏi đàm
thoại: “ Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề
toán…
Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp
giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nội
dung, yêu cầu của đề toán. Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và
dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài
toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập.
Bước 2: Tìm cách giải bài toán.
a. Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái
phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “ phép tính
cộng” nếu bài toán yêu cầu “ nhiều hơn” hoặc “ gộp”, “ tất cả”. Chọn “ phép
tính trừ” nếu “bớt” hoặc “ tìm phần còn lại” hay là “ít hơn”…
Ví dụ:
Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7 cây
cam. Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu
hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? ( Vườn nhà Mai có 17 cây cam)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7
cây)
+ Bài toán hỏi gì? (Vườn nhà Hoa có bao nhiêu cây cam)
+ Muốn biết vườn nhà Hoa có mấy cây cam em làm tính gì? (tính trừ)
+ Lấy mấy trừ đi mấy? (17 – 7)
+ 17 - 7 bằng bao nhiêu? ( 17 – 7 = 10 )
b. Đặt câu lời giải thích hợp.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùng
quan trọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 2. Chính vì vậy việc hướng
trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng dẫn, quy
định.
- Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm tắt, sau
gần tóm tắt là trình bày bài giải. Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có gạch
chân), câu lời giải ghi cách lề khoảng 2 -> 3 ô vuông, chữ ở đầu câu viết hoa, ở
cuối câu có dấu hai chấm (:), phép tính viết lùi vào so với lời giải khoảng 2 -> 3
chữ, cuối phép tính là đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc đơn. Phần đáp số
ghi sang phần vở bên phải ( có gạch chân) và dấu hai chấm rồi mới viết kết quả
và đơn vị tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa).
Song song với việc hướng dẫn các bước thực hiện, tôi thường xuyên trình
bày bài mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày
để từ đó học sinh quen nhiều với cách trình bày. Bên cạnh đó, tôi còn thường
xuyên chấm bài và sửa lỗi cho những học sinh trình bày chưa đẹp; tuyên dương
trước lớp những học sinh làm đúng, trình bày sạch đẹp, cho các em đó lên bảng
trình bày lại bài làm của mình để các bạn cùng học tập…
Bên cạnh việc hướng dẫn cách trình bày như trên, tôi cũng luôn luôn nhắc
nhở, rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết chữ - viết số đúng mẫu - đẹp. Việc kết
hợp giữa chữ viết đẹp và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo
nên sự thành công trong vấn đề giải toán có lời văn của các em.
11
Cùng với việc áp dụng các biện pháp ngay từ đầu năm học và áp dụng trực
tiếp các biện pháp vào bài dạy đầu tiên về giải toán có lời văn, tôi đã cho học
sinh làm một số dạng bài tập giải toán có lời văn như sau:
Ví dụ 1: Nam có 6 lá cờ, Hùng có 9 lá cờ. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu lá
cờ?
Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện được ngay cách làm như
sau:
Tóm tắt
Ví dụ khi dạy dạng toán nhiều hơn, ít hơn học sinh còn lúng túng và ngay
buổi học thứ hai tôi tập trung ra thêm một số bài toán như sau để củng cố cho
học sinh kĩ năng giải toán. Đặc biệt các bài toán ra thêm phải có tính thực tế, gần
gũi với học sinh.
Cụ thể:
1. An hái được 9 bông hoa, An hái ít hơn mẹ 3 bông. Hỏi mẹ hái được
mấy bông hoa?
2. Anh gấp được 15 bông hoa, em gấp được ít hơn anh 5 bông. Hỏi em
gấp được bao nhiêu bông hoa?
3. Con vịt nặng 3kg, con ngỗng nặng hơn con vịt 2kg. Hỏi con ngỗng
nặng mấy kg?
4. Bình có 27 lá cờ, Bình có nhiều hơn Hòa 9 lá cờ. Hỏi Hòa có bao
nhiêu lá cờ?
Đối với ví dụ 1 đây là bài toán “dữ liệu chưa tường minh” là dạng khó
đối với học sinh. Học sinh sẽ thực hiện ngay phép trừ vì các em thấy “ít hơn”.
12
Hay ở ví dụ 4, học sinh sẽ dễ dàng nhầm lẫn làm phép tính cộng vì thấy dữ liệu
"nhiều hơn". Biết được điều đó, nên để khắc phục cho học sinh tôi hướng dẫn
học sinh đọc đề nhiều lần trước khi làm, tìm hiểu kĩ các dữ kiện đã cho của bài
toán. Không vội vàng đặt ngay phép tính khi mới chỉ đọc đến dữ kiện "nhiều
hơn" hay "ít hơn" của bài toán mà cần xem xét kĩ từng dữ kiện từ đó có cách giải
phù hợp.
2.5. Biện pháp 5: Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học toán.
Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích được khen hơn chê nên tôi
luôn hạn chế chê các em trong học tập, rèn luyện. Tuy nhiên, nếu ta không biết
kết hợp tâm lý từng học sinh mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích.
Đối với những em chậm tiến bộ, thường rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý
nhắc nhở, gọi các em trả lời hoặc lên bảng làm bài. Chỉ cần các em có một “tiến
13
Đề bài kiểm tra khảo sát chất lượng
Môn: Toán ( thời gian : 40 phút)
Câu 1: Trên cành có một số con chim. Có 6 con bay đi chỉ còn lại 7 con. Hỏi
lúc đầu trên cành cây có tất cả bao nhiêu con chim?
Hãy khoanh tròn vào câu trả lời đúng:
A. 7 con chim.
B. 6 con chim.
C. 13 con chim.
Câu 2: Cả trâu và bò có 65 con trong đó có 30 con trâu. Hỏi có bao nhiêu con
bò?
- Yêu cầu HS trình bày bài giải.
Câu 3: Lan có 3 mét vải. Lan đã may quần áo hết 25dm. Hỏi Lan còn bao nhiêu
vải chưa dùng?
- Yêu cầu HS trình bày bài giải.
Câu 4: Hãy khoanh vào trước câu trả lời đúng:
Tìm x. biết: 80 - x = 45.
A. x = 45.
B. x = 35.
C. x= 25.
Với đề bài trên, tôi đã thu được kết quả đáng mừng đó là: Tất cả học sinh
của lớp tôi phụ trách đều làm đúng các bài tập liên quan đến mạch kiến thức giải
toán có lời văn. Cách trình bày bài giải của các em đều đúng yêu cầu, khoa học.
Điều đó cho thấy, các biện pháp áp dụng của bản thân vào dạy học giải toán có
lời văn đã có hiệu quả.
Nhờ áp dụng, kết hợp các biện pháp trên trong giảng dạy mà tôi đó thu
được những kết quả ban đầu trong việc dạy học “Giải toán có lời văn” nói
riêng và trong chất lượng môn Toán nói chung bởi vì “Giải toán có lời văn” là
Điểm dưới 5
SL
TL
0
Có được kết quả như vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự giác
của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh đó là các
biện pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên.
14
Qua kết quả đó đạt được trên, tôi thấy số học sinh chưa hoàn thành không
còn, số học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt mục tiêu môn học tăng. So với
năm học trước thì kết quả trên thật là một điều đáng mừng. Điều đó cho thấy
những cố gắng trong đổi mới phương pháp dạy học của tôi đã có kết quả khả
quan.
Với kết quả này, chắc chắn khi các em học lên các lớp trên, các em sẽ vẫn
tiếp tục phát huy hơn nữa với những bài toán có lời văn yêu cầu ở mức độ cao
hơn.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua những vướng mắc thực tế, cùng với lòng say mê, nhiệt tình nghiên cứu
và áp dụng thực tế vào lớp học do tôi chủ nhiệm đã giúp tôi hoàn thành ý tưởng
của mình. Mỗi lần thực hiện, vận dụng vào thực tế lớp học tôi lại rút ra được
một vài kinh nghiệm sau:
- Người giáo viên phải thực sự có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp, với
lương tâm trách nhiệm của người thầy.
- Trong quá trình giảng dạy phải luôn nắm bắt, đúc rút những vướng mắc, khó
khăn thực tế ở lớp mình dạy, để từ đó nghiên cứu tìm ra hướng giải quyết tốt
nhất.
quan, tham gia tích cực vào các lớp nghiệp vụ do ngành, trường tổ chức. Điều
quan trọng nhất trong dạy học là: Lòng yêu nghề và trình độ chuyên môn của
mỗi giáo viên.
- Nếu được thực hiện đồng bộ, đúng lúc, kịp thời các biện pháp trên, tôi tin rằng
chất lượng môn toán nói chung và phần giải toán có lời văn nói riêng của các em
lớp 2 sẽ có kết quả nhất định và là nền móng vững chắc để các em học tốt hơn ở
các lớp sau.
- Với một vài kinh nghiệm này, tôi mong muốn được đóng góp một phhần nhỏ
vào việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung và với dạng bài “Giải toán có
lời văn” trong môn Toán 2 nói riêng.
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của hội đồng khoa
học, của các đồng nghiệp để tôi hoàn thiện mình hơn góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học.
2. Đề xuất - Kiến nghị:
a. Đối với giáo viên
- Không ngừng nghiên cứu tài liệu, tập san giáo dục để phục vụ tốt cho việc dạy
học.
- Nghiên cứu chuẩn bị xây dựng kế hoạch bài dạy và đồ dùng dạy học phù hợp.
- Luôn học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
b. Đối với nhà trường
Tiếp tục tổ chức các buổi hội thảo chuyên môn để giáo viên có điều kiện trao
đổi ý kiến về dạy học, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản thân tự viết,
không sao chép của người khác.
Xác nhận của nhà trường
Hiệu trưởng
Người viết
Phạm Văn Tuân