Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn - Pdf 57

MỤC LỤC
TT

Nội dung

Trang

A

Mở đầu

1

1

Lý do chọn đề tài

1

2

Mục đích nghiên cứu

2

3

Đối tượng nghiên cứu

2


Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho phụ huynh, học sinh về vị trí,
tầm quan trọng của môn Toán.

5

Biện pháp 2: Nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi lớp 1, tạo
được niềm vui khi đến trường.

6

Biện pháp 3: Sử dụng đồ dùng trực quan thường xuyên nhằm tạo
hứng thú học tập cho học sinh.

9

Biện pháp 4: Dạy theo đối tượng học sinh nhằm nâng cao hiệu quả
học tập.

11

Biệp pháp 5: Tổ chức trò chơi học tập nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh.

13

Biện pháp 6: Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để hướng
dẫn các em học tốt mạch kiến thức giải toán có lời văn.

14



thống giáo dục quốc dân. Đây là bậc học cung cấp những kiến thức ban đầu về tự
nhiên - xã hội - con người, về văn hoá - văn học Việt Nam và thế giới, trang bị
các phương pháp, kĩ năng về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Bồi
dưỡng và phát huy những thói quen, tư tưởng, tình cảm, những đức tính tốt đẹp
của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của cả xã hội. Nhưng cần
thiết hơn vẫn là môi truờng giáo dục trong nhà trường. Đặc biệt là ngôi trường
tiểu học. Bởi đây chính là nền móng quan trọng nhất để xây nên những chủ nhân
tốt, tạo ra những công dân tốt cho xã hội hiện đại. Trăn trở với việc cần phải làm
như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà, chúng ta đã có những
thay đổi điều chỉnh kịp thời, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động
dạy học, kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; phát hiện những cố gắng, tiến
bộ của học sinh để kịp thời động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn
chưa thể tự vượt qua của học sinh để giúp đỡ các em; đưa ra nhận định đúng
những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp
thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học
sinh. Học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh
cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ. Ngoài
ra, giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ tham gia đánh giá quá trình và kết
quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất
của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục
học sinh,…
Vì vậy, chúng ta là những người làm công tác giáo dục, khi đứng trên bục
giảng đều phải lo lắng, trăn trở, tập trung nâng cao chất lượng dạy học nhằm đáp
ứng mục tiêu giáo dục. Cũng như các môn học khác, môn Toán có vai trò quan
trọng là môn học cơ bản. Môn Toán ở lớp 1 mở đường cho trẻ đi vào thế giới
diệu kì của Toán học, nhưng làm sao để học sinh biết làm toán với những con số
khô khốc, những phép tính cộng, trừ thì đó là cả một vấn đề lớn đối với cả thầy
và trò. Những kĩ năng cơ bản nhất không thể thiếu trong bậc Tiểu học cũng như

+ Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau.
3. Đèi tîng nghiªn cøu: Mạch kiến thức về giải toán có lời văn, học sinh
lớp 1C năm học 2016 - 2017.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp đàm thoại, gợi mở.
- Phương pháp luyện tập

B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:

3


Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, hội nhập với các nước trong khu vực
và trên thế giới. Đứng trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xã hội, đòi hỏi
các nhà giáo dục phải đào tạo ra những con người phát triển một cách toàn diện
về đức, trí, thể, mỹ nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong đó giáo dục Tiểu học là
bậc học nền tảng, là cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách con người mới.
Cùng với môn Tiếng Viêt, môn Toán là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng
ở bậc Tiểu học. Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành những kĩ năng cơ
bản nhất không thể thiếu trong bậc Tiểu học cũng như trong cuộc sống là kĩ năng
tính toán. Do đó, môn Toán có một vị trí rất quan trọng đối với học sinh Tiểu
học, nhất là học sinh lớp 1. Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào trẻ cũng cần phải có
kiến thức cho riêng mình không dựa nhờ vào ai. Để làm được điều đó, trẻ phải
nắm chắc được kiến thức toán học, đọc thông viết thạo. Dạy phần giải toán có lời
văn ở lớp Một là một trong những khâu quan trọng diễn ra suốt quá trình học

toán như Sơn, Hải, Tuấn; em Nam, Yến thì viết sai phép tính; còn em Hiểu, Đạt
sai đơn vị, viết sai đáp số.... Có một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không
biết trả lời, điều đó chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách
giải bài toán có lời văn.
Vào lớp 1 các em mới tập cầm bút, tập viết những con chữ, con số nên việc
làm được một bài toán số đối với nhiều em là một vấn đề khó khăn, chưa nói đến
là phải trình bày cả bài giải toán có lời văn vào vở ô ly thực sự là việc làm vô
cùng vất vả. Cũng là một bất cập nữa là các em đang viết quen chữ cỡ nhỡ chưa
được làm quen với chữ cỡ nhỏ nhưng khi làm toán vào vở việc hướng dẫn cho
học sinh cách viết chữ cỡ nhỏ, cách trình bày một bài giải toán có lời văn sao cho
cân đối, khoa học thực sự mất nhiều thời gian mà đâu chỉ ngày một ngày hai là
các em có thể làm được, những em tiếp thu chậm thì quả là một quá trình dài vì
vậy có những em cả tiết học nhưng chỉ làm được một bài toán chưa đạt được yêu
cầu so với chuẩn.
Từ thực tế đó, tôi đã có những giải pháp cụ thể và tiến hành ngay để nâng cao
hiệu qủa môn Toán nói chung và phần giải toán có lời văn cho học sinh khối 1,
đặc biệt là lớp 1C.
3. Các biện pháp tổ chức thực hiện:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho phụ huynh, học sinh về vị trí, tầm
quan trọng của môn Toán.
Trong mỗi chúng ta, ai cũng thuộc câu hát: ‘Gia đình gia đình ôm ấp ta
những ngày thơ, cho ta bao nhiêu niềm thương mến,...gia đình là cái nôi nuôi con
khôn lớn thành người". Muốn nâng cao được chất lượng của học sinh cần có
những điều kiện thực tế, nhiều biện pháp tác động, trong đó hành động của giáo
viên, ý thức của học sinh, phụ huynh có ý nghĩa quyết định mang đến sự thành
công. Vì vậy ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã tuyên truyền cho phụ
huynh học sinh hiểu vị trí, tầm quan trọng của môn Toán. Cùng với môn Tiếng
Việt, môn Toán có vai trò quyết định vì: các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở
Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, rất cần thiết cho người lao động, để
học tiếp các môn học khác ở Tiểu học và học tiếp môn Toán ở Trung học. Môn

đúng vị trí sau khi học xong. Mặt khác, phụ huynh cũng biết lắng nghe giáo viên
nhận xét những mặt mạnh và yếu của con em mình để có cách hướng dẫn con
học; Biết chia sẻ các hoạt động ở nhà của các cháu cho giáo viên để giáo viên
nắm rõ trình độ nhận thức, tâm sinh lí của từng em mà có kế hoạch, phương pháp
giáo dục phù hợp với các em;…
Sự phối hợp khéo léo giữa giáo viên và phụ huynh sẽ góp phần nâng cao chất
lượng của lớp, vì vậy việc trao đổi thông tin hai chiều giữa giáo viên và phụ
huynh, giữa phụ huynh và giáo viên là cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán đặc biệt là phần giải toán có lời văn.
Biện pháp 2: Nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 1,
tạo được niềm vui học tập khi đến trường.
Với học sinh lớp Một, các em vừa chuyển từ bậc học Mầm non lên Tiểu học,
tức là chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ yếu sang hoạt động học tập là chủ đạo,
nhiều em cảm thấy bỡ ngỡ, bị gò bó, chưa thật sự tập trung chú ý học tập. Học
sinh lớp Một với đặc điểm lứa tuổi là thường hiếu động, thiếu kiên trì, khó thực
hiện các động tác đòi hỏi sự khéo léo, cẩn thận, chú ý học chưa theo chủ định dễ
nhớ cũng dễ quên, thích bắt chước…Khi bước vào lớp 1, học sinh phải làm quen
với hoạt động học tập, đòi hỏi học sinh phải làm việc có tổ chức, có mục đích.
Đó là một hoạt động có ý thức như: Đến lớp phải ngồi nhiêm túc nghe thầy cô
giảng bài, phải học bài, giáo viên kiểm tra bài, các em phải làm theo yêu cầu của
giáo viên… Vấn đề này càng khó khăn đối với những học sinh. Những thay đổi
này làm cho một số em trong giờ học vẫn còn rụt rè, không dám đọc bài, không
dám giơ tay phát biểu ý kiến…Các em không tập trung nghe giảng bài, còn ham
chơi các trò chơi trong giờ học. Thực tế cho thấy học sinh đi học là những học
sinh tự tin, có niềm vui khi đến lớp. Học sinh đến trường phải có niềm vui, có
6


vui mới học tốt được. Vậy làm thế nào để mỗi ngày học sinh cảm thấy “mỗi ngày
đến trường là một ngày vui”. Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã chú ý tạo tâm thế cho

các tính nhanh nhẹn, khéo léo…tạo được tình thân bạn bè, yêu mến thầy cô.
Trong giờ học để các em tiếp thu bài tốt hơn, tôi thường thay đổi không khí lớp
học bằng bài thể dục giữa giờ, học sinh đặc biệt thích trò chơi học tập. Là một
phương tiện có ý nghĩa quan trọng, cần thiết, nhằm khắc sâu kiến thức, phát huy
tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện để đông đảo học sinh
được tham gia. Trò chơi học tập giáo dục cho các em tính thật thà, biết đánh giá
chính xác kết quả học tập của mình và của bạn, qua trò chơi thể hiện được tính
trung thực của từng cá nhân; Ví dụ chơi ai nhanh hơn trong giờ Toán, chơi tìm
nhanh tiếng, từ ngoài bài trong môn Tiếng Việt, chơi hái hoa dân chủ trong môn:
Tự nhiên và xã hội;…

7


Một số em học tốt như em Trường, em Vy nhưng chữ viết rất cẩu thả, trình
bày bài giải chưa cân đối, tôi kiên trì hướng dẫn cho các em cách trình bày sao
cho đúng, khoa học. Tôi thường động viên, khuyến khích các em: Em làm bài rất
nhanh, em chú ý dòng 1 viết câu lời giải, dòng 2 viết phép tính và đơn vị, dòng 3
viết đáp số như thế bài làm mới đẹp, cô tin từ bài sau các em sẽ trình bày đúng và
viết đẹp hơn.
Hay như em Kiệt, em Yến làm bài còn chậm hơn các bạn, tôi nhìn em và nói:
Cô rất vui vì hôm nay các con đã hoàn thành bài tập trên lớp, cứ thế phát huy.
Niềm vui của cô giáo là nhìn thấy sự tiến bộ của học sinh, mà cô vui- trò cũng
vui tạo cho không khí của lớp học thật nhẹ nhàng và thoải mái, các em không
còn lo lắng trong giờ học toán nữa. Đối với những học sinh chưa hoàn thành, tôi
luôn luôn đối xử với các em công bằng nhưng rất nghiêm khắc, gần gũi, nhẹ
nhàng bảo ban. Trong giờ học thường xuyên gọi những học sinh này lên bảng
cho các em làm bài. Tôi hướng dẫn cặn kẽ hơn những chỗ em còn lúng túng. Nếu
bài nào em chưa làm được tôi giảng lại và yêu cầu em làm một lần nữa. Nếu em
vẫn chưa hiểu tôi lại giảng lại cho em thật hiểu. Gọi các em nói trước lớp nhiều

Ví dụ 1: Bài 5(a): Luyện tập (trang 46).

1

+

2

=

3

Bài đầu tiên rất quan trọng nên tôi cho học sinh quan sát kĩ tranh để học sinh
biết được: Có mấy quả bóng? Thêm mấy quả bóng? Hỏi có tất cả mấy quả
bóng?”.Sau đó tôi giúp học sinh nêu thành bài toán đơn với 1 phép tính cộng: “
An có 1 quả bóng. Hà có 2 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”. Cho
nhiều học sinh nêu lại bài toán theo ý hiểu của mình, không bắt buộc phải giống
y nguyên bài toán mẫu của cô.
Tôi nhấn mạnh vào từ: “có, thêm, có tất cả” để học sinh dần hiểu được: “
thêm” có nghĩa là: “cộng” và cụm từ: “ có tất cả” để chắc chắn rằng chúng ta sẽ
thực hiện viết phép tính cộng vào ô trống đó. Tôi cũng không áp đặt học sinh cứ
phải nêu phép tính theo ý giáo viên mà có thể nêu:
1 + 2 = 3 hoặc 2 + 1 = 3
Tôi đã hướng dẫn học sinh làm theo đúng mục tiêu của dạng bài tập này là:
Giúp học sinh hình thành kĩ năng biểu thị một tình huống của bài toán bằng một
phép tính tương ứng với mỗi tranh vẽ.
Ví dụ 2: Bài 5( b) trang 50: Viết phép tính thích hợp.
Cho học sinh xem tranh, nêu bài toán: Có 4 con chim đang đậu, 1 con bay đến.
Hỏi có tất cả mấy con chim?



10


Ví dụ: Bài toán: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có tất
cả mấy con gà?
Đây là bài toán đầu tiên để hướng dẫn học sinh biết cách trình bày một bài
giải có lời văn, tôi hướng dẫn các em đọc kĩ bài, trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài
toán. Tôi hướng dẫn học sinh cách trình bày bài giải, vừa nói vừa viết trên bảng
như sau:
Dòng 1 ta viết câu lời giải, dòng thứ hai viết phép tính và đơn vị, khi viết phép
tính thì lùi vào một chữ so với câu lời giải, dòng 3 viết đáp số, viết đáp số lại lùi
vào một chữ so với phép tính, gạch chân từ bài giải và đáp số.
Sau bài học đầu tiên nhận thấy học sinh trong lớp gặp những khó khăn khi
học giải toán có lời văn, tôi đã thay đổi phương pháp lấy người học là chủ đạo
giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá, hợp tác với bạn học.
Tôi phân loại lớp thành các đối tượng sau:
Đối tượng 1: Gồm những học sinh thường viết sai câu lời giải.
Đối tượng 2: Gồm những học sinh thường viết sai phép tính, đơn vị.
Đối tượng 3: Gồm những học sinh viết sai đáp số.
Đối tượng 4: Những học sinh làm bài đúng cả 3 bước.
Sau khi cho học sinh đọc đề bài, phân tích tìm hiểu bài toán, bạn này đọc, bạn
kia nghe và ngược lại; cũng trong lúc này giáo viên quan sát bao quát và đặc biệt
chú ý đến nhóm 1, 2 học sinh nhóm này là những em đọc còn chậm, dễ sai lỗi
nên giáo viên phải hướng dẫn kĩ hơn để các em có thể nêu câu lời giải, cần cho
nhiều em nêu để giáo viên sửa lỗi trực tiếp bằng lời cho học sinh theo đúng thông
tư 22/2016/TT- BGD&ĐT. Các em được nghe bạn nêu và nhận xét phần trả lời
của bạn là các em đã học được ở bạn những câu lời giải hay đồng thời biết theo
dõi để sửa chữa những lỗi mình còn mắc phải.
Những em chưa viết đúng câu lời giải tôi sẽ hướng dẫn cách đơn giản nhất để

thân thiết với nhau qua các bài học. Cuối mỗi tuần vào giờ sinh hoạt lớp tôi
thường tuyên dương khen thưởng nhóm bạn có nhiều tiến bộ trong tuần bằng
những món quà nhỏ như cái bút, thước,... làm cho các em rất vui mừng và nói sẽ
cố gắng học tập, em Thanh còn khoe em hướng dẫn cho bạn Đạt giờ bạn ấy đã tự
làm được bài giải mà viết chữ cỡ nhỏ cũng đúng ô ly và đẹp nữa cô ạ.
Với phương pháp dạy học theo đối tượng như thế này, học sinh tự bộc lộ hết
các năng lực: giao tiếp, hợp tác; Tự học và tự giải quyết vấn đề và một số phẩm
chất như chăm học; tích cực tham gia các hoạt động học tập ngay trong một tiết
học.
Biện pháp 5: Tổ chức trò chơi học tập nhằm phát huy tính tích cực ở học
sinh.
Học sinh lớp Một với đặc điểm lứa tuổi là thường hiếu động, thiếu kiên trì,
nhạy cảm, ít chịu ngồi yên. Bởi vậy tổ chức trò chơi học tập là một phương tiện
có ý nghĩa quan trọng, cần thiết, nhằm khắc sâu kiến thức, phát huy tính tích cực,
sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện để đông đảo học sinh được tham gia. Trò
chơi học tập giáo dục cho các em tính thật thà, biết đánh giá chính xác kết quả
học tập của mình và của bạn, qua trò chơi thể hiện được tính trung thực của từng
cá nhân. Những kiến thức cơ bản học sinh được học dưới dạng trò chơi, các em
thấy hứng thú và tiếp thu kiến thức nhanh hơn. Đồng thời tôi nhận thấy thông
qua các trò chơi tính cách của các em được bộc lộ rõ ràng hơn. Qua đó tôi nhận
xét cụ thể về tính cách của từng em để có biện pháp giáo dục phù hợp. Hình thức
này thường được tổ chức ở phần củng cố bài học. Tôi cho học sinh chơi trò chơi:
Ai nhanh hơn, tổ chức cả lớp chơi. Giáo viên nêu bài toán, cả lớp suy nghĩ và
bạn nào nhanh sẽ được quyền đọc câu lời giải và được tiếp tục đố bạn khác nêu
phép tính và đáp số. Bạn nào giơ tay nhưng không nêu được hoặc nêu sai sẽ mất
lượt không được đố bạn. Với hình thức này các em nắm bài rất nhanh và nhớ
được lâu.
Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy nếu người giáo viên biết lựa chọn
phương pháp dạy học, hình thức tổ chức thích hợp với từng đối tượng học sinh


viên ngoài họp phụ huynh theo kế hoạch, phải thường xuyên liên lạc với phụ
huynh học sinh bằng sổ liên lạc, điện thoại, đến thăm nhà hay trực tiếp trao đổi
với phụ huynh khi cần thiết, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn cần
trao đổi nhiều hơn. Từ ngày 06/11/ 2016 việc đánh giá học sinh đã được sửa đổi
theo Thông tư 22/2016TT-BGD&ĐT, giúp cha mẹ học sinh tham gia đánh giá
quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng
lực, phẩm chất của con em mình nên việc quan tâm tới việc học của con càng
quan trọng hơn, tích cực hợp tac với nhà trường có kế hoạch, phương pháp phù
hợp giáo dục trẻ tiến bộ. Có một số em chưa hoàn thành bài ở lớp tôi yêu cầu vê
hoàn thành, nhiều phụ huynh đã tích cực dạy cháu học ở nhà, nhưng khi đến lớp
tôi kiểm tra bài thì em làm chưa đúng, hỏi ra cháu nói bà, mẹ dạy cháu làm thế.
Cùng một bài toán nhưng có nhiều cách trình bày khác nhau như:
Trường hợp 1: Bài giải
4 + 5 = 9 quả bóng
13


Đáp số : 9 quả bóng.
Học sinh chưa biết trình bày sao cho cân đối. Chưa biết viết câu lời giải.
Trường hợp 2:

Bài giải
An có bao nhiêu quả bóng
4+5=9
Đáp số: 9

Học sinh viết câu lời giải chưa đúng, chưa viết đơn vị.
Trường hợp 3:

Bài giải

tin giải quyết khi gặp những vấn đề bên ngoài của thực tế cuộc sống.
14


4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Bản thân là giáo viên trực tiếp giảng dạy, dựa vào đối tượng học sinh lớp
mình phụ trách, tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học,
xác định đúng mục tiêu của từng tiết học nên những việc làm trên đã được tôi
tiến hành thường xuyên trong các giờ Toán. Sau một thời gian thực hiện, tôi nhận
thấy chất lượng môn Toán - phần giải toán có lời văn được nâng lên. So với thời
gian đầu nhiều em còn làm sai, chưa biết viết lời giải, phép tính. Và đến ngày
hôm nay 07/03/2017 với 21 học sinh các em đều biết cách trình bày bài toán có
lời văn, phân tích đề bài, tóm tắt lại bài toán, nêu các câu lời giải khác nhau, kĩ
năng giải toán có lời văn được nâng lên rõ rệt.
Ngoài ra tôi còn nhận thấy rõ kết quả cụ thể của lớp học:
- Học sinh có sự chuyển biến tích cực trong học tập, tự giác học và có rất nhiều
cố gắng nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn, các em học chậm: c¸c em
kh«ng nhút nhát mỗi khi đến tiết Toán n÷a mµ ngîc l¹i cßn rÊt ham
thÝch. Tríc khi häc bµi míi lµ xung phong nêu bài làm ở nhà của mình
cho cô và các bạn nghe. Các em tự tin trong học tập, giao tiếp và thực sự thấy
mỗi ngày đến trường là một ngày vui.
- Tiếp thu bài tốt, thực hành tốt trong Toán học sẽ là nền móng tốt để cho các
em học lên lớp trên với các con số và dạng bài phức tạp hơn, góp phần để chất
lượng học tập ngày một tốt hơn.
- Học sinh tích cực hơn trong học tập, mạnh dạn trình bày ý kiến của mình, có
kĩ năng làm việc theo nhóm.
- Cha mẹ học sinh thấy rõ vai trò của gia đình trong quá trình giáo dục con em
mình, nhiệt tình chỉ bảo, quan tâm đến các em nhiều hơn, thường xuyên giữ mối
liên hệ với nhà trường, hiểu được tầm quan trọng của sự kết hợp giữa nhà trường
và gia đình, tích cực hơn trong việc cùng nhau giáo dục trẻ.

to khụng khớ vui ti, phn khi trong cỏc bui hc giỳp cỏc em thớch i hc,
yờu thớch mụn hc.
- Phi hp cht ch vi ph huynh hc sinh rốn luyn un nn thng xuyờn,
liờn tc mi lỳc, mi ni.
- Giỏo viờn phi l tm gng cho hc sinh noi theo. Luụn kiờn trỡ, un nn,
sa sai cho hc sinh; trỏnh nụn núng. Tỡm ỳng nguyờn nhõn sai sa cho hc
sinh.
* i vi ph huynh:
Sự quan tâm, chăm sóc của cha m hc sinh đối với con em
mình đóng góp một phần không nhỏ trong vic nõng cao chất lợng học tập của hc sinh. Vic mua sm dựng hc tp cn y phc
v cho vic hc. Quan trng hn, hng ngy cha me cn kim tra sỏch, v,

16


dùng học tập của con em mình đã đúng và đủ chưa tránh tình trạng học sinh thiếu
đồ dùng. Đặc biệt là các em ở nhà với ông bà lại càng phải chu đáo hơn trong
việc chăm sóc, nuôi dạy các cháu.
- Khi con đi học về cha mẹ cần phải hỏi con về tình hình trên lớp: Hôm nay ở
lớp, con học như thế nào? Cô giáo có gọi con lên làm bài không? Cô nhận xét
con thế nào? Các bạn nhận xét con ra sao? Còn con nhận xét bạn nào ở trong
lớp?...Nh÷ng câu hỏi đơn giản như thế thôi nhưng các bậc phụ huynh sẽ biết
được con mình học ở mức độ nào.
- Luôn lắng nghe lời nhận xét của giáo viên về con mình cả những điều đã
làm được hay chưa làm được; Trao đổi với giáo viên về cách giáo dục các cháu ở
nhà để giáo viên nắm vững hơn về tính cách của từng em mà có phương pháp
giáo dục phù hợp.
* Đối với nhà trường:
- Cần có thêm tài liệu tham khảo, nâng cao cho giáo viên và học sinh để bổ
sung phương pháp dạy, đáp ứng nhu cầu dạy- học.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status