1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, mục tiêu của bộ môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học là
“Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và
giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học
Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Cung cấp cho học sinh những
kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hóa, văn
học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói
quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh”.
Nằm trong môn Tiếng Việt, Phân môn Tập làm văn không chỉ dừng lại ở mức
độ dạy học sinh biết nói, viết đủ câu, diễn đạt trọn ý trong giao tiếp. Dạy Tập làm
văn không phải chỉ giúp học sinh biết cách thức hình thành bài tập làm văn, tạo lập
được văn bản mà còn phải tiếp tục bồi dưỡng tâm hồn, phát triển năng lực tư duy
cho các em. (1)
Thực tế giảng dạy, dạy cho học sinh biết làm tập làm văn quả là rất khó, việc
bồi dưỡng để các em có được kỹ năng viết các bài văn đúng và hay ở các thể loại
nói chung và văn miêu tả nói riêng là việc không đơn giản. Bởi những sản phẩm
của phân môn Tập làm văn là những bài viết, bài nói thể hiện năng lực của từng cá
nhân học sinh. Thế nhưng ở học sinh Tiểu học, khả năng diễn đạt của các em còn
nhiều hạn chế, chưa biết chọn lọc từ ngữ cho bài viết của mình, hầu như các em
nghĩ thế nào thì viết thế ấy làm cho hiệu quả bài viết chưa cao. Mặt khác, để thực
hiện được mục tiêu là xây dựng các văn bản (nói và viết), học sinh phải huy động
tất cả kiến thức mà các em đã tiếp thu được qua việc học tập ở phân môn Tập đọc,
Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện… Trong khi vốn sống của các em chưa
nhiều, vốn từ chưa phong phú. Vậy để đạt được các yêu cầu trên thì việc rèn kỹ
năng viết văn miêu tả cho học sinh là điều hết sức cần thiết. Điều đó đặt ra cho giáo
viên tiểu học – những người trực tiếp giảng dạy trong đó có bản thân tôi là phải
thường xuyên nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
làm văn miêu tả cho học sinh.
Xuất phát từ những yêu cầu đó, là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 5 nhiều năm,
nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tập
tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất lượng
môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.
Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ
năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn kiến thức, kĩ
năng của từng môn học và phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp mà
“Hướng dẫn 896” của Bộ GD-ĐT đã đề ra.
Như chúng ta đã biết, văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và
cảm xúc cho người đọc, người nghe hình dung một cách rõ nét, cụ thể người, vật,
cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Qua đó người ta gửi gắm những
suy nghĩ, cảm xúc và tình yêu thương của mình với những gì mà mình miêu tả.
Trong chương trình Tập làm văn lớp 5: Cả năm có 62 tiết trong đó Tập làm văn
miêu tả 33 tiết (chiếm hơn 50% số tiết) với mục tiêu là trang bị kiến thức và rèn
luyện kĩ năng làm văn, góp phần cùng với các môn học khác làm giàu vốn sống,
rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho
học sinh. Trong một tiết học tối đa có 40 phút mà kiến thức phải cung cấp quá
nhiều nên giáo viên chỉ hay quan tâm đến đối tượng học sinh khá giỏi để tiết dạy
thành công. Ngoài ra do việc thay đổi nội dung chương trình sách giáo khoa khiến
cho giáo viên còn lúng túng trong việc nắm bắt nội dung và phương pháp giảng
dạy, từ đó dẫn đến kết quả học tập môn Tập làm văn chưa cao.Tuy nhiên phải thừa
nhận một điều rằng thực tế hiện nay, việc dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân
môn Tập làm văn nói riêng còn có rất nhiều hạn chế và chưa đạt kết quả như mong
muốn. Lý do này là do nhiều nguyên nhân. Trong đó đa số giáo viên chưa định hình
được phương pháp giảng dạy cũng như trình tự tiến hành dạy một bài tập làm văn
như thế nào cho phù hợp với mục đích và nội dung của bài đặt ra. Mặt khác HS
(2) Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - Lê Phương Nga, Nguyễn Trứ ( Nhà xuất bản GD)
tiểu học là đối tượng mà năng lực tư duy còn hạn chế, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
của các em chưa cao. Đặc biệt khả năng của các HS ở các địa phương còn chưa
- Bài viết của học sinh còn mắc nhiều lỗi chính tả.
- Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả.
- Nhiều em thường liệt kê, kể lể dài dòng, diễn đạt vụng về, lủng củng. Nhiều
em chưa biết dừng lại để nói kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật.
- Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, khuôn sáo, quan sát sự vật còn hời hợt.
- Các em chưa biết cách dùng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả.
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng Tập làm văn của học
sinh không đạt yêu cầu ? Qua quá trình giảng dạy lớp 5, tôi nhận thấy học sinh học
yếu Tập làm văn là do nhiều nguyên nhân sau:
- Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài.
- Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả.
- Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát: quan sát
những gì, quan sát từ đâu ? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đối tượng
cần miêu tả.
- Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêu tả
khi quan sát.
- Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạch lạc,
chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnh vật,
về một con người cụ thể nào đó.
- Nguyên nhân cuối cùng là trách nhiệm của người giáo viên. Phân môn Tập
làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưng lâu nay người giáo
viên (nhất là giáo viên lớp 4, lớp 5) chưa có cách phát huy tối đa năng lực học tập
và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em lòng yêu quý
tiếng Việt, ham thích học tiếng Việt để từ đó các em nhận ra rằng đã là người Việt
Nam thì phải đọc thông viết thạo tiếng Việt và phát huy hết ưu điểm của tiếng mẹ
đẻ.
Vào đầu năm nhận lớp, tôi đã tổ chức khảo sát học sinh với đề văn như sau:
“ Em hãy tả một cây cho bóng mát trên sân trường em”. Kết quả bài làm của
2.3. C¸c giải ph¸p đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực trạng dạy học trên, tôi đã đưa ra các giải
pháp sau để giúp học sinh làm tốt loại văn miêu tả nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
Tập làm văn và đã thực hiện có hiệu quả tại đơn vị mình công tác.
Giải pháp 1: Nắm vững yêu cầu, nội dung từng tiết dạy của dạng văn miêu tả.
Trước hết người giáo viên phải hiểu: Văn miêu tả là loại văn giúp người
đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự
việc, con người, phong cảnh…. làm cho đối tượng miêu tả như hiện lên trước mắt
người đọc, người nghe.
GV nắm được các loại bài học dạng văn miêu tả:
- Dạy bài lí thuyết: các bài học làm văn miêu tả và biên bản đều có cấu tạo gồm ba
phần: Nhận xét, Ghi nhớ, Luyện tập.
- Hướng dẫn thực hành: các bài hướng dẫn thực hành thường gồm 2-3 bài tập nhỏ
hoặc một đề bài tập làm văn kèm theo gợi luyện tập theo hai hình thức nói và viết.
Giáo viên phải nắm vững và giúp HS phân biệt hai loại văn miêu tả là văn tả
người và văn tả cảnh. (3)
a) Đối với dạng văn tả người: Tả người là gợi tả về các nét ngoại hình, tư
thế, tính cách, hành động, lời nói…. của nhân vật được miêu tả.
GV phải hướng dẫn HS phân biệt đối tượng miêu tả theo yêu cầu:
- Tả chân dung nhân vật( cần tả nhiều về ngoại hình, tính nết…)
- Tả người trong tư thế làm việc( tả người trong hành động: chú ý các chi tiết
thể hiện cử chỉ, trạng thái cảm xúc)
+ Cách miêu tả:
- Mở bài: Giới thiệu người được tả ( chú ý đến mối quan hệ của người viết với nhân
vật được tả, tên, giới tính và ấn tượng chung về người đó.)
- Thân bài: + Miêu tả khái quát hình dáng tuổi tác, nghề nghiệp…
+ Tả chi tiết: ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói…( chú ý tả người
trong công việc cần quan sát tinh tế vào các động tác của từng bộ: khuôn mặt thay
- Mở bài: Giới thiệu cảnh được tả.
- Thân bài: Tập trung tả cảnh vật chi tiết theo một thứ tự nhất định, có thể ở một số
trường hợp sau:
+ Từ khái quát đến cụ thể (hoặc ngược lại)
+ Không gian từ trong tới ngoài. (hoặc ngược lại)
+ Không gian từ trên xuống dưới. (hoặc ngược lại)
- Kết bài: phát biểu cảm tưởng về cảnh vật đó.
Ví dụ : Em hãy tả lại một cảnh đẹp của quê hương mà em yêu thích.
Mở bài: Giới thiệu bao quát cảnh được tả.
+ Đó là cảnh gì, ở đâu( vị trí cụ thể)? Cảnh hiện ra trước mắt em vào lúc nào
(thời điểm miêu tả)?
Hoặc Nêu lí do em yêu thích cảnh đó.
Thân bài: + Tả cảnh vào thời điểm nhất định (một buổi sáng hay một buổi chiều,
vào mùa hè hay mùa đông...). Cũng có thể tả cảnh đó gắn với sự thay đổi theo thời
gian
( từ sáng đến chiều, từ mùa xuân tới mùa đông...)
+ Tả cảnh đó theo trình tự không gian nhất định (gần đến xa hoặc ngược
lại).
+ Tả cảnh đó gắn với hoạt động của người, chim muông....Kỉ niệm của bản
thân gắn với cảnh vật đó.
Kết bài: + Cảm nghĩ (Thể hiện được lòng tự hào, sự gắn bó và tình yêu quê hương)
Giải pháp 2: Nâng cao năng lực cảm thụ văn học từ các bài tập đọc.
Tôi thiết nghĩ rằng, nâng cao năng lực cảm thụ văn học là một trong những
nhiệm vụ cần thiết đối với học sinh tiểu học. Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các
em sẽ cảm nhận nhiều nét đẹp từ thơ, văn, thêm phong phú tâm hồn, nói viết sinh
động hơn. Các em sẽ có được những bài học thực tế về nghệ thuật dùng từ để vận
dụng vào bài văn của mình.
Hiểu vậy, trong quá trình dạy các bài tập đọc thuộc thể loại văn miêu tả, ngoài
tìm hiểu bài theo hướng câu hỏi hướng dẫn khai thác nội dung, tôi thường nêu thêm
một số câu hỏi hướng dẫn về cảm thụ văn học cho học sinh. Bên cạnh đó, trong các
Mỗi học sinh chọn một sự
màu vàng trong bài và cho biết
vật,tưởng tượng sự vật đó
từ đó gợi cho em cảm giác gì?
và trả lời
- Sau đó tôi giảng: Sự khác nhau của sắc vàng cho ta những cảm nhận riêng về đặc
điểm của từng cảnh vật. Đây chính là một trong những yêu cầu của cách làm bài
văn miêu tả .
- Từ đây, tôi hướng dẫn học sinh:"Để có một bài văn, chân thực, ta phải biết cách
quan sát thật tỉ mỉ từng cảnh tả, cảm nhận sự vật bằng nhiều giác quan: xúc giác,
thị giác và đôi khi là sự liên tưởng”.
*Tôi hỏi :
H: Nêu tên những sự vật trong bài
* Nêu nối tiếp
có màu vàng và từ chỉ màu vàng đó?
H: Phân tích cách dùng vài từ chỉ màu
* 2-3 HS nêu
vàng để thấy tác giả quan sát tinh tế
và dùng từ rất gợi cảm?
Tôi giảng:
+ Ở đây tác giả đã sử dụng một loạt từ đồng nghĩa để chỉ các màu vàng khác nhau
của sự vật làm cho việc miêu tả rất đa dạng và phong phú. Đây chính là nghệ thuật
dùng từ rất hay để làm một bài văn tả cảnh mà các em cần phải học tập.
+ Nhưng để bộc lộ được sự đa dạng và phong phú như thế, tác giả đã quan sát rất
cụ thể cảnh tả mới thấy được vẻ đẹp khác nhau của từng màu vàng cụ thể .
+ Ngoài ra, tác giả đã dùng từ rất gợi cảm như:" vàng giòn"gợi tả hạt thóc đã được
phơi khô,"vàng mượt" gợi lên sự béo tốt, mượt mà của con gà và con chó.
- Câu hỏi này tôi hướng dẫn học sinh: "Để bài văn tả cảnh được sinh động và gợi
Tả cảnh làng quê vào ngày mïa
em nào có thể cho cô biết bài văn này
tả cảnh gì?
Và tôi khẳng định với học sinh: Đây là bài văn tả quang cảnh làng mạc ngày mùa.
Phần mở bài chính là câu đầu của bài tập đọc. Phần thân bài tác giả tả cảnh làng
mạc ngày mùa theo từng phần của cảnh (tả các màu vàng rất khác nhau của cảnh,
của vật; tả thời tiết; tả hoạt động của con người). Phần kết bài tác giả đã lồng cảm
xúc của mình vào từng cảnh tả.
H: Vì sao có thể nói bài văn thể hiện
tình yêu tha thiết của tác giả đối
Tác giả quan sát và tả cảnh
với quê hương?
ngày mùa rất đẹp
- Tôi giảng: Phải thực sự thiết tha yêu cảnh tả thì tác giả mới say sưa quan sát và
dùng những từ ngữ chính xác, những hình ảnh đẹp nhất khi miêu tả quang cảnh
làng mạc ngày mùa đẹp như vậy. Tác giả không chỉ thích thú ngắm nhìn cảnh đẹp
của quê hương mà còn làm nổi bật đức tính siêng năng, cần cù của bà con ở làng
quê.
- Câu hỏi này tôi hướng dẫn học sinh "Để làm bài văn tả cảnh thành công, trước
hết các em phải yêu cảnh tả, quan sát cảnh tả thật cụ thể bằng tất cả tấm lòng và
tình cảm của mình đồng thời phải thả "hồn" mình vào trong từng cảnh tả".
Từ đây, tôi giới thiệu:"Đây chính là bài văn tả cảnh, một thể loại văn mà chúng ta
được học nhiều nhất ở chương trình Tập làm văn lớp 5 .”
* Qua phương pháp dạy như vậy tôi thấy học sinh đã nhận ra được:
- Đâu là phần mở bài của bài văn và nội dung của phần mở bài là giới thiệu bao
quát cánh tả.
- Để làm bài văn miêu tả trước hết phải quan sát thật tỉ mỉ cách tả bằng tất cả các
giác quan.
- Có thể tả cảnh theo từng phần hoặc sự thay đổi theo thời gian.
- Tả cảnh cần xen tả hoạt động của con người làm cho cảnh vật thêm đẹp và sinh
Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau) thì
miêu tả sau. Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả cảnh
vật hay tả cảnh sinh hoạt của người .
Ví dụ:
“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương
thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả
gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau nữa, từ
một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy.”
( Mùa thảo quả- TV5- Tập 1- tr113).
c. Tả theo trình tự tâm lí:
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây cảm
xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả sau.
Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ nên tả
những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết như nhau của đối
tượng.
Ví dụ:
(4) Dạy văn cho học sinh Tiểu học - Nguyễn Hòa Bình - Nhà xuất bản GD.
“ Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai, xoã
xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên tay, bà đưa
một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bỗng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi
dễ dàng, và như những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi bà mỉm
cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả,...” (Bà Tôi - Tiếng
Việt 5- Tập 1).
Tác giả đã quan sát và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồi đến ánh mắt. Mái tóc
“dày kì lạ”.
Quan sát nhằm để tìm ra những nét riêng biệt về hình dáng, khuôn mặt, mái
tóc, giọng nói, tính tình của người. Phát hiện hình dáng, âm thanh, màu sắc riêng
đó không thành công bởi lẽ sản phẩm cuối cùng của phân môn này là bài viết của
học sinh.
Với tôi, khi học sinh còn lúng túng trong việc sắp xếp ý, diễn đạt các ý đó
thành câu văn, đoạn văn, tôi thường làm như sau: Đưa ra một hoặc một số câu văn
cơ bản sau đó cho học sinh nêu cách diễn đạt, sắp xếp của mình từ ý câu văn đó.
Ví dụ : Khi tả cách đồng quê em, tôi nêu ý văn: “ Cánh đồng rộng mênh mông.”
Rồi yêu cầu các em diễn đạt thành câu văn khác có ý tương tự. Một số học sinh đã
diễn đạt như sau:
- Cánh đồng quê em rộng mêng mông.
- Cánh đồng lúa quê em rộng mênh mông thẳng cánh cò bay.
- Cánh đồng lúa rộng mênh mông, trông xa như một tấm thảm nhung xanh khổng
lồ.
- Cánh đồng quê em rộng mênh mông, với một màu xanh mươn mướt của lúa
chiêm đang thì con gái.
Sau khi học sinh diễn đạt trước lớp, tôi cho các em khác nhận xét, đánh giá và
tôi chốt lại: Câu 1, câu 2 đúng ngữ pháp, tả rất thực song chưa có ý sáng tạo. Câu 3
thể hiện được ý so sánh khá ấn tượng. Câu 4 dùng từ có hình ảnh, câu văn gợi tả.
Với cách này, tôi đã giúp các em biết cách quan sát, tìm ý, sắp xếp ý và diễn
đạt ý thành câu, thành đoạn đúng và hay hơn. Tình trạng câu văn viết sai cấu trúc bị
giảm dần.
Để bài văn thu hút được sự chú ý của người đọc, tôi hướng dẫn các em tập
trung cao vào phần mở bài. Với những học sinh khả năng viết văn còn hạn chế, tôi
động viên các em mở bài trực tiếp còn lại tôi hướng dẫn kỹ các em đi theo cách mở
bài gián tiếp và cho các em thấy được những ưu điểm của từng cách mở bài để các
em lựa chọn cách mở bài cho mình hợp lý nhất.
Ví dụ : Tả một người thân ( ông, bà, cha, mẹ, anh, em … ) của em.
+ Có học sinh vào bài trực tiếp: “ Trong gia đình, ai tôi cũng quý nhưng người mà
tôi yêu quý nhất vẫn là nội tôi”. ( Mở bài chỉ một câu nhưng đủ ý).
Nhờ hướng dẫn cẩn thận từ khâu quan sát, tìm ý, sắp xếp ý đến việc hướng dẫn
cách mở bài và kết bài nên bài viết của các em ngày càng có nhiều điểm tiến bộ,
nhiều em đã khắc phục được những điểm yếu kém trước đây như: Sắp xếp ý lộn
xộn, tả thiếu chính xác, viết lan man không trọng tâm.
Giải pháp 4: Làm giàu vốn từ cho học sinh.
Do vốn từ của học sinh tiểu học còn nghèo nàn, vì vậy các em thường viết
những đoạn văn khô khan, thiếu tính gợi tả, gợi cảm không hấp dẫn người đọc,
người nghe. Để rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ hay trong viết văn tả cảnh cần đưa ra
cho các em một số bài tập khắc phục tình trạng đó..Sau đây là một số ví dụ minh
họa:
Ví dụ : Tìm những từ láy gợi tả âm thanh trên dòng sông:
( bì bọp, lăn tăn, lao xao, ì ọp, ì ầm, ào ào, xôn xao,…)
Ví dụ : Tìm những hình ảnh so sánh để so sánh với con sông:
( Dòng sông như dải lụa, dòng sông như con trăn khổng lồ trườn lên bãi mía bờ
khoai, dòng sông như người mẹ ôm ấp đồng lúa,…)
- Vốn từ ngữ phong phú sẽ giúp các em diễn đạt đa dạng những điều định nói, định
viết. Có thể làm giàu vốn từ cho các em bằng hình thức tìm từ ngữ theo từng đề tài
nhỏ.
Ví dụ : Để giúp các em có vốn từ làm bài văn tả người, trong tiết dạy đầu tiên tôi
đã yêu cầu các em chuẩn bị trước bài tập sau: Em hãy tìm những từ ngữ chỉ hình
dáng, khuôn mặt, màu da, vẻ đẹp, dáng đi, cử chỉ, thái độ, tính tình ... của người
định tả.
Ví dụ : Để làm tốt bài văn tả cảnh tôi cho học sinh làm các bài tập mở rộng vốn từ
như : Tìm những từ chỉ màu sắc, những từ chỉ mức độ khác nhau của màu xanh,
màu đỏ, màu vàng, màu tím, màu nâu ,…
- Vốn từ được tích lũy từ nhiều nguồn: Giao tiếp hàng ngày; đọc sách, báo; xem,
nghe truyền hình truyền thanh; trao đổi với bạn bè; cô giáo cung cấp.
- Cung cấp cho các em các từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề cụ thể như:
biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa. VD:
- Bé Lan nhà em có đôi mắt đen tròn như hai hạt nhãn, hai má ửng đỏ như
trái chín.
- Mặt trời thức dậy từ phía đông, vung tay gieo những tia nắng xuống cánh
đồng.
Khi hướng dẫn học sinh viết câu văn sinh động, gợi cảm... tôi kết hợp hướng
dẫn các em kỹ năng liên kết câu. Từ những gợi ý đó, tôi thấy hầu hết các bài văn
của các em đi đúng thể loại, đúng yêu cầu của đề bài, trong đó trên 2/3 các em diễn
đạt tốt
Giải pháp 5: Xây dựng phong trào đọc sách tích cực.
Đọc sách là một việc làm hữu ích đối với các em. Qua bài văn, bài thơ hay
câu chuyện sẽ giúp các em tiếp thu được ở đó nhiều điều bổ ích, lý thú. Các em sẽ
học được ở đó cách diễn đạt, bố cục, dùng từ ... Qua những hình ảnh sinh động, nội
dung câu chuyện hay, bài văn hay mà các em bắt gặp được sẽ giúp cho các em thêm
yêu quê hương, đất nước, con người .
Trên thực tế, nguồn sách rất phong phú và đa dạng nên giáo viên cần chọn và
hướng cho học sinh tìm đọc những cuốn sách có nội dung lành mạnh như truyện cổ
tích, truyện lịch sử, truyện khoa học. Những cuốn sách phục vụ cho chương trình
tiểu học của nhà xuất bản Giáo dục: Văn học và tuổi trẻ, Các tập san chuyên đề
Tiếng Việt Tiểu học, Cảm thụ văn học, Những bài văn hay, Những bài văn chọn
lọc, Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi cấp Tiểu học môn Tiếng Việt, Nâng cao
Tiếng Việt lớp 4, 5, Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt lớp 4, 5, Chuyện cổ
tích mẹ kể con nghe... Những loại sách này giúp học sinh nâng cao kiến thức phục
vụ và hỗ trợ cho môn học, tạo cho học sinh thói quen đọc sách tích cực, không đọc
những cuốn sách có nội dung xấu và sách không phù hợp với lứa tuổi. ( 5)
Ví dụ: Khi đọc các bài thuộc thể loại văn miêu tả học sinh có thể ghi lại những
câu văn, câu thơ hoặc đoạn văn, đoạn thơ giàu hình ảnh như sau:
“Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trắng lung linh dát vàng”.
7
8
9
(5) Dạy văn cho học sinh Tiểu học - Nguyễn Hòa Bình - Nhà xuất bản GD
- Tiến hành :
+ GV là người dẫn chương trình gọi một HS lên bảng tham gia trò chơi (khuyến
khích HS xung phong)
+ HS được gọi lên chọn một số bất kì trên bảng phụ. Sau đó GV ( hoặc cử một bạn
khác) dán bức ảnh có số tương ứng lên bảng, người chơi có nhiệm vụ miêu tả về
người trong ảnh ( 2-3 câu).
+ GV gọi tiếp một số HS khác tham gia trò chơi( số lượng phụ thuộc vào thời gian
dành cho trò chơi).
+ Khi trò chơi kết thúc, GV và các bạn trong câu lạc bộ bình chọn người chơi miêu
tả hay nhất. HS nào có số phiếu bình chọn nhiều nhất sẽ là người thắng cuộc.
Từ khi tiến hành dạy học theo hình thức câu lạc bộ, các tiết ôn luyện của
trường chúng tôi đã không đi theo một lối mòn chung: giáo viên hướng dẫn – HS
thực hành làm các bài tập rèn kĩ năng – nhận xét, chấm chữa nữa mà mỗi khâu tiến
hành đều được đổi mới. Tham gia câu lạc bộ mỗi cô giáo là một MC duyên dáng,
hài hước đến bất ngờ. Tham gia câu lạc bộ mỗi nội dung kiến thức là một phần thi
hấp dẫn, thú vị đầy sức hút. Các em được ôn tập nhiều kiến thức, kỹ năng phong
phú hơn và mục tiêu phân hóa đối tượng càng được đảm bảo hơn. Tham gia câu lạc
bộ, các em học sinh còn được hòa mình thành những người chơi sôi nổi, nhiệt tình
và tiết học nào, phần thi nào các em cũng hào hứng tích cực và chủ động tham gia.
Với câu lạc bộ như thế này cơ hội để các em giao lưu, mở rộng, học hỏi lẫn nhau
trong toàn khối cũng sẽ lớn hơn rất nhiều.
dng lụi cun ngi c .
Kt qu ú c th hin c th nh sau:
Kết quả khảo sát cuối năm học 2017
- 2018
S hc sinh lm
S hc sinh c lp
vn hay, cú hỡnh
Hon thnh bi
Cha hon thnh
nh.
SL
TL
SL
TL
SL
TL
26 em
10
38,5
16
61,5
0
0
3. KT LUN, KIN NGH
3.1. Kt lun:
Thụng qua cỏc gii phỏp tụi ó ging dy ti lp v kt qu t c, tụi rỳt ra
cho mỡnh nhng bi hc kinh nghim trong quỏ trỡnh hng dn hc sinh lm bi
vn miờu t nh sau:
- GV phi nm vng ni dung chng trỡnh, yờu cu cỏc dng bi ca vn miờu t.
Giỏo viờn phi t ch trong vic la chn ni dung, thi lng, hỡnh thc t chc
dạy học theo hướng linh hoạt, tự chủ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Với
trách nhiệm một nhà giáo, tất cả vì học sinh thân yêu, tôi đã cố gắng nhanh chóng
tiếp cận và áp dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học mới vào quá trình
giảng dạy bước đầu đã có hiệu quả.
3.2. Kiến nghị.
1. Đối với nhà trường:
- Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng linh hoạt, tự chủ, phù
hợp đối tượng học sinh.
- Nên tổ chức các buổi thảo luận để bàn về cách viết Sáng kiến kinh nghiệm môn
Tiếng Việt sao cho đạt kết quả. (bàn cụ thể với từng phân môn của môn Tiếng Việt).
- Tổ chức tốt việc đọc sách thư viện, thành lập Câu lạc bộ yêu Tiếng Việt
- Cho những giáo viên có chuyên môn vững về môn Tiếng Việt hoặc những người
từng có nhiều kinh nghiệm viết sáng kiến kinh nghiệm và đã đạt được giải cao để
truyền đạt lại kinh nghiệm, cách viết cho đồng nghiệp học tập.
- Phân công người có nhiều kinh nghiệm để chấm, kiểm tra, sửa cho những bản
sáng kiến sẽ nộp lên cấp trên.
- Trang bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học đạt hiệu quả
cao như tài liệu tham khảo, các thiết bị nghe, nhìn, máy chiếu đa năng, máy quét,…
2. Đối với ngành:
Các đoàn thanh tra, kiểm tra nhà trường khi dự giờ cần phải đánh giá giờ dạy
của giáo viên một cách linh hoạt theo hướng tự chủ đối với từng giờ dạy. Không lấy
sách giáo khoa làm “thước đo”, lấy phương pháp dạy học của mình áp đặt cho
người thực thi tiết dạy. Nhất là đối với các tiết dạy phân môn Tập làm văn.
- Nên có những Hội nghị Tổng kết Sáng kiến kinh nghiệm đạt giải, nhất là môn
Tiếng Việt.
Trên đây là những giải pháp mà tôi đã áp dụng vào giảng dạy văn miêu tả cho
học sinh lớp 5. Tuy các giải pháp đưa ra chưa thật sự đầy đủ nhưng bước đầu đã có
hiệu quả thiết thực trong dạy học phân môn Tập làm văn nói chung, dạy học viết
văn miêu tả nói riêng. Rất mong bạn bè đồng nghiệp góp ý để những nội dung mà
tôi đã trình bày được đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn.
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Trường
Kết quả
đánh giá xếp
loại
Năm học
đánh giá
xếp lại
STT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá
xếp loại
1
Một số biện pháp góp
phần nâng cao chất lượng
rèn đọc cho học sinh lớp 3
Phòng
GD&ĐT Thọ
Xuân
C
2008-2009
Một số biện pháp giúp học
sinh lớp 5 làm tốt bài văn
miêu tả
Phòng
GD&ĐT Thọ
Xuân
C
2016-2017
5
Một số biện pháp giúp học
sinh lớp 5 làm tốt bài văn
miêu tả
Phòng
GD&ĐT Thọ
Xuân
C
2017-2018
MỤC LỤC
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
Giải pháp 2: Nâng cao năng lực cảm thụ văn học từ các bài tập đọc.
6
Giải pháp 3: Rèn kỹ năng quan sát, tìm ý, sắp xếp ý.
10
a. Tả theo trình tự không gian.
10
b. Tả theo trình tự gian gian.
10
c. Tả theo trình tự tâm lí.
10
Giải pháp 4: Làm giàu vốn từ cho học sinh.
13
Giải pháp 5: Xây dựng phong trào đọc sách tích cực.
14
Giải pháp 6: Tổ chức Câu lạc bộ Tiếng Việt.
15
2.4 Hiệu quả của sáng kiến.
16
3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
17
3.1. Kết luận
17
3.2 Kiến nghị
18