MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
1
1
2
2
2
2
4
4
6
7
15
17
17
Đọc diễn cảm là bước thể hiện sự hiểu biết đầy đủ về tư tưởng và nghệ thuật
của tác phẩm. Nếu học sinh không hiểu biết tác phẩm, không nắm được tư tưởng
của tác giả thì rất khó “diễn cảm”, khi đó cũng khó thể hiện thái độ của mình.
Ngược lại, khi học sinh hiểu tác phẩm, các em sẽ dễ dàng bộc lộ thái độ của
mình vào việc đọc. Thông qua việc đọc, các em càng hiểu đầy đủ hơn về tác
phẩm và con đường tốt nhất để nhận thức tác phẩm chính là đọc diễn cảm. Đọc
diễn cảm được thực hiện trong tất cả các giờ Tập đọc ở lớp 4. Đọc diễn cảm tốt
tức là truyền được tới người nghe một phần lớn nội dung và cảm xúc bài văn,
bài thơ, bài ca dao... mà chưa cần giảng giải. Thông qua các bài tập đọc trong
chương trình, học sinh được tiếp xúc với ngôn ngữ nghệ thuật, cảm thụ được cái
hay, cái đẹp của văn chương.
Dạy học sinh đọc diễn cảm ở lớp 4 có một nguyên tắc riêng của nó, đọc để
hiểu, hiểu để mà cảm thụ. Như vậy, dạy học sinh đọc diễn cảm thông qua môn
Tập đọc ở nhà trường không những là một đòi hỏi mà còn phải khơi dậy ở học
sinh những tri thức đã có mà thiếu nó thì không hiểu được nghệ thuật ngôn từ;
đồng thời còn phải phát triển khả năng cảm thụ, suy nghĩ, bình giá và vận dụng
một cách sáng tạo những điều đã tiếp thu được vào cuộc sống riêng của các em.
Dạy đọc cho học sinh điều đó là hướng cho các em một năng lực nghệ thuật và
mở cho các em một con đường đến với tác phẩm văn học.
Trong thực tế giáo dục, rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh, bên
cạnh những thành công vẫn còn những hạn chế, học sinh chưa đọc được như
1
mong muốn, kết quả đọc diễn cảm của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của
việc hình thành kĩ năng đọc nói chung và đọc diễn cảm nói riêng. Các em chưa
nắm chắc được công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tư tưởng, tình cảm của
người khác chứa đựng trong văn bản được đọc, chưa làm tròn nhiệm vụ là người
truyền cảm xúc từ tác phẩm sang người nghe. Giáo viên tiểu học cũng còn lúng
túng khi hình thành kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh: Cần được bài Tập đọc
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: tiến hành nghiên cứu các văn bản, các tài
liệu, bài viết có nội dung về cách thức rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh
tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng.
- Nghiên cứu thực tiễn: Thực hiện các phương pháp: thực nghiệm, quan sát,
điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin; thống kê, xử lí số liệu.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Thêm một số ví dụ về cách phát âm trong mục 3.1 (Luyện phát âm chuẩn;
đọc đúng, ngắt nghỉ đúng).
- Hình thức hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm trong mục 3.6 (Tạo môi trường
2
luyện tập thực hành đọc diễn cảm văn bản).
- Các hình thức trò chơi và trò chơi minh họa trong mục 3.7 (Tạo lập hứng
thú, say mê rèn đọc diễn cảm cho học sinh bằng qua các trò chơi học tập trong
quá trình luyện đọc).
3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở của sáng kiến kinh nghiệm:
2.1.1. Cơ sở tâm lí học
Quá trình dạy học sinh đọc diễn cảm sẽ mang lại kết quả khả quan nếu như
giáo viên biết tổ chức đúng đắn và gợi được những hoạt động nhận thức cần
thiết ở các em, vì tư duy của trẻ ở lứa tuổi Tiểu học thường thiên về tính cụ thể.
Ở lứa tuổi này đã có những yếu tố của tư duy trừu tượng nhưng còn hạn chế
nhiều so với học sinh thuộc các lớp trên.
Quá trình nhận thức của học sinh lớp 4 khi học các tác phẩm văn học đều
được thông qua việc đọc diễn cảm của các em về tác phẩm đó. Các bài Tập đọc
năng đọc diễn cảm rất quan trọng, năng lực đọc diễn cảm chính là thước đo tri
thức của học sinh lớp 4.
2.1.3. Cơ sở văn học:
Nội dung các tác phẩm văn học đưa vào giảng dạy trong chương trình Tiểu
4
học nói chung và ở lớp 4 nói riêng là những phương tiện, là bức tranh sinh động
để học sinh nhận thức về thiên nhiên, về đời sống của con người trong quá khứ
và hiện tại, về những dự cảm tương lai, về phong tục văn hóa của các dân tộc
trong nước và trên thế giới. Khi văn học đã thực sự tác động đến tình cảm và lí
trí người đọc, nó sẽ làm nảy nở những ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp được
mọi người quý trọng và khơi dậy năng lực lao động, sức mạnh sáng tạo cho mỗi
con người.
Đọc tác phẩm văn học có trình độ nghệ thuật cao, người đọc sẽ được bồi
dưỡng nhiều về vốn hiểu biết, khiếu thẩm mĩ, sẽ tiếp cận được với cái đẹp trong
cuộc sống và càng yêu quý tiếng mẹ đẻ.
Nhờ đọc các tác phẩm văn học qua các bài tập đọc mà khả năng nhận thức
của học sinh sẽ phát triển, khả năng ấy sẽ giúp các em nhìn nhận và đánh giá có
cơ sở đối với các hiện tượng thiên nhiên và các điển hình của đời sống xã hội.
Trong quá trình phân tích tác phẩm, người đọc sẽ tìm ra các quan hệ nhân quả,
tự giải thích cái đã đọc và rút ra những kết luận cần thiết từ cái đã đọc để áp
dụng vào đời sống riêng. Đọc một cách có ý thức sẽ ảnh hưởng tốt tới trình độ
ngôn ngữ của học sinh. Ngôn ngữ phong phú đa dạng, giàu tính nghệ thuật sẽ
giúp cho lời nói của học sinh có nội dung, có hình ảnh và lô-gíc hơn. Vì vậy,
việc đọc diễn cảm đối với các em mang ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng và phát
triển rất lớn.
Hầu hết các bài tập đọc ở lớp 4 cung cấp cho học sinh những kiến thức về
miêu tả, kể chuyện, tường thuật. Thông qua các bài tập đọc, học thuộc lòng sẽ
diễn cảm các tác phẩm văn học ở lớp 4 sẽ đạt hiệu quả cao.
2. 2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Nội dung, chương trình, sách giáo khoa, tài liệu:
Phần lớn các tác phẩm văn học (bài văn, bài thơ, ca dao, tục ngữ) được đưa
vào chương trình của sách Tiếng Việt lớp 4 đều phù hợp với lứa tuổi và vừa sức
đối với học sinh. Hệ thống bài học được nâng dần từ dễ đến khó. Các bài đọc
được tuyển chọn vào chương trình phần lớn là viết cho thiếu nhi có chất lượng
cao về nghệ thuật, được sắp xếp theo 3 chủ đề lớn: Măng non, Đất nước và
Nhân dân.
Sách giáo khoa đã trình bày rõ các kiến thức lí thuyết cơ bản về tiếng Việt,
đảm bảo tính khoa học, hệ thống và dễ hiểu đối với học sinh Tiểu học. Số lượng
các bài tập đọc phong phú, đa dạng, hay về nội dung, hấp dẫn về hình thức, có
hiệu quả thiết thực và được sắp xếp một cách hợp lí nhằm giúp cho giáo viên và
học sinh dễ dạy, dễ đọc.
Tuy nhiên, phần hướng dẫn học sinh đọc ở sách giáo khoa chưa cụ thể, rõ
ràng, khiến học sinh còn lúng túng khi ngắt giọng và giải nghĩa một số từ chưa
đầy đủ, một số bài có hệ thống câu hỏi chưa thật sự phù hợp với nội dung từng
giai đoạn trong bài. Tài liệu phục vụ cho việc dạy của giáo viên và việc học của
học sinh (như đồ dùng, sách tham khảo...) hầu như không có hoặc thiếu quá
nhiều dẫn đến hiệu quả chất lượng chưa thật cao so với yêu cầu đặt ra của giáo
viên.
2.2.2. Công tác dạy và học
a. Thuận lợi:
Hầu hết các giáo viên đều rất nhiệt tình trong dạy học, luôn cố gắng tìm biện
pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Đa số học sinh đều tích cực học tập, ham tìm hiểu, thích đọc, thích đọc hay,
thích biểu lộ mình.
b. Khó khăn
- Về phía giáo viên
Nhìn chung, trình độ giáo viên chưa đồng đều, một số giáo viên bị ảnh hưởng
giọng đọc chưa phù hợp, dẫn đến việc cảm nhận giá trị của văn bản còn nhiều
hạn chế. Đôi khi học sinh chỉ “vô tình” đọc làm đi mất giá trị của văn bản.
Kết quả khảo sát chất lượng “đọc diễn cảm” của lớp đầu năm học như sau:
Mức độ
Tổng số
học sinh
34
Đọc trôi chảy,
Đọc diễn cảm
phát âm tương
tốt
đối đúng
SL
3
TL
SL
8,8
13
TL
38,2
Đọc chậm
nhiều chỗ còn
vào hàm răng. Đầu lưỡi tì vào đỉnh đầu răng của hàm dưới. Hơi đưa lên khoang
miệng, tạo âm “xì” kéo dài. Bật hơi và phát tiếng.
- Khi phát âm âm “s”: - Cắn nhẹ hai hàm răng vào nhau. Tạo một âm “sì” kéo
7
dài. Há miệng và phát tiếng (chú ý âm “sì” kéo dài liền với việc phát tiếng,
không được đứt quãng).
Với các lỗi phát âm khác, tôi cũng hướng dẫn kĩ về cách phát âm. Từ đó, khi
gặp những từ có cấu tạo như thế, học sinh có thể tự luyện phát âm hoặc sửa lỗi
phát âm cho bạn.
Việc ngắt nghỉ đúng góp phần rất lớn trong việc rèn đọc diễn cảm. Để đọc
đúng ngữ điệu, trước hết tôi hướng dẫn các em ngắt, nghỉ đúng. Như vậy, khi
đọc văn bản, học sinh phải biết mức độ ngắt nghỉ ở các dấu câu như ngắt hơi khi
gặp dấu phẩy, nghỉ hơi khi gặp dấu chấm. Ngoài ra, học sinh cần có vốn hiểu
biết về từ để ngắt các cụm từ trong câu.
Ví dụ: Câu: “Thỉnh thoảng,/ hai chị em lại cười phá lên/ khi nhắc lại chuyện
nó rủ bạn vào rạp chiếu bóng chọc tức tôi,/ làm tôi tỉnh ngộ”.//
(Bài Chị em tôi -Tiếng Việt 4, tập I)
- Việc ngắt nghỉ đúng và đọc đúng giúp các em hiểu đúng nội dung của văn
bản và cùng với việc xác định và đọc đúng từ ngữ gợi tả, các câu cảm, câu hỏi sẽ
giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài đọc.
Ví dụ: Đoạn thơ:
Nhác trông vắt vẻo trên cành/
Anh chàng Gà Trống /tinh nhanh lõi đời,/
Cáo kia đon đả ngỏ lời:/
“Kìa anh bạn quý/ xin mời xuống đây/
Để nghe cho rõ tin này/
Muôn loài mạnh yếu/ từ rày kết thân/
Hoặc những câu có hình thức là câu hỏi mà mục đích thông báo thực chất là
câu cầu khiến cũng đọc với ngữ điệu mạnh.
Ví dụ: Câu: - Có câm mồm không?
(Bài Khuất phục tên cướp biển – Tiếng Việt 4, tập II)
- Ngữ điệu xuống (hạ giọng): Dùng để kết thúc câu kể hoặc bộ phận giải thích
trong câu.
Ví dụ: Câu: “Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,... như gọi thấp xuống những vì
sao sớm.”
(Bài Cánh diều tuổi thơ – Tiếng Việt 4 - Tập I)
- Ngữ điệu lên: Là ngữ điệu có giọng đọc lên cao ở cuối câu. Đối với ngữ điệu
này thường sử dụng khi đọc câu hỏi, nhất là câu hỏi không có từ để hỏi, những
câu mệnh lệnh có yêu cầu mạnh.
Ví dụ: Đoạn:
“- Làm sao mặt trăng lại chiếu sáng trên trời trong khi nó đang nằm trên cổ
công chúa nhỉ?- Chú hề hỏi.
Công chúa nhìn chú hề, mỉm cười:
- Khi ta mất một chiếc răng, chiếc mới sẽ mọc ngay vào chỗ ấy. Khi ta cắt
những bông hoa trong vườn, những bông mới sẽ mọc lên. Có đúng không
nào?”.
(Bài Rất nhiều mặt trăng - TV4, Tập I)
Biện pháp 3. Rèn luyện kĩ thuật diễn cảm ngôn ngữ:
Đọc diễn cảm là việc đọc thể hiện ở kĩ năng làm chủ ngữ liệu để biểu đạt
đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả gửi gắm vào tác phẩm. Đọc diễn cảm ở đây là
phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình
độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở (đọc đúng, ngắt nghỉ đúng, đọc đúng các
kiểu câu, biểu thị sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu chung của bài).
Để giúp học sinh đọc diễn cảm tốt, tôi hướng dẫn học sinh một số kĩ thuật như:
* Ngắt giọng biểu cảm:
Bên cạnh việc hướng dẫn các em ngắt giọng, thể hiện đúng quan hệ ngữ
nghĩa, ngữ pháp như đã hướng dẫn còn cần phải ngắt giọng biểu cảm là cách
Ví dụ: Câu: “Ở vương quốc nọ có một cô bé xinh xinh chừng năm, sáu tuổi.
Bé xíu như vậy, nhưng cô lại là công chúa”.
(Bài Rất nhiều mặt trăng - Tiếng Việt 4, tập I)
Đây là lời đọc của người dẫn chuyện nhưng ở câu đầu, ta đọc với giọng bình
thường nhưng sang câu thứ hai cần đọc nhấn giọng từ “bé xíu” và đọc cao giọng
ở cuối câu làm tăng sức hấp dẫn và tạo được sự tò mò muốn biết thêm về cô
công chúa này.
Ví dụ: Câu: “Xin thần tha tội cho tôi! Xin Người lấy lại điều ước để cho tôi
được sống! ”
(Bài Điều ước của vua Mi-đát - TV4, tập I)
Tôi cho học sinh xác định nhân vật đang nói là ai, vì sao lại phải nói những
lời đó. Học sinh tự lựa chọn giọng đọc cho phù hợp với tâm trạng nhân vật là
đang van xin, cầu khẩn có được sự giúp đỡ. Ngoài ra, học sinh còn phải sử dụng
đến các yếu tố khác như nét mặt bộc lộ sự sợ hãi...
* Chọn giọng đọc và thay đổi giọng đọc:
Việc chọn giọng đọc phụ thuộc vào việc cảm thụ tác phẩm. Trong một bài tập
đọc có thể có nhiều cách đọc khác nhau: đoạn đọc nhanh, đoạn đọc chậm, giọng
đọc thay đổi theo diễn biến của bài, giọng đọc phải phù hợp với từng nhân vật.
Ví dụ: Đoạn văn:
“Nhưng đáp lại sự giận giữ của tôi, nó chỉ thủng thẳng:
- Em đi tập văn nghệ.
- Mày tập văn nghệ ở rạp chiếu bóng à ?
Nó cười giả bộ ngây thơ:
- Ủa chị cũng ở đó sao? Hồi nãy chị bảo đi học nhóm mà!
Tôi sững sờ đứng im như phỗng. Ngước nhìn ba, tôi đợi một trận cuồng
phong. Nhưng ba tôi chỉ buồn rầu bảo:
- Các con ráng bảo ban nhau mà học cho nên người.”
(Bài Chị em tôi - TV4, tập I)
10
- Việc học sinh hiểu nội dung bài đọc sẽ giúp các em hiểu được nội dung
thông báo của văn bản mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc. Qua việc hiểu
đúng, học sinh sẽ có cách ngắt nhịp đúng, thể hiện đúng nội dung thông báo của
văn bản. Trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, tôi luôn hướng tới
mục đích nhằm giúp học sinh trao đổi kĩ năng đọc - hiểu, góp phần năng cao
năng lực cảm thụ văn học và tạo cơ sở cho luyện đọc diễn cảm.
- Trong quá trình tìm hiểu nội dung bài đọc, tôi luôn có ý thức giúp học sinh
nắm được nội dung chính của bài, tạo điều kiện cho các em xác định giọng đọc
chung của đoạn, của bài. Ví dụ: Bài đọc với giọng đọc dồn dập, căng thẳng hay
nhẹ nhàng, tha thiết, vui tươi,…
Biện pháp 5. Giúp học sinh đọc diễn cảm tốt hơn thông qua việc đọc mẫu
diễn cảm của giáo viên:
Đọc mẫu diễn cảm là sử dụng ngữ điệu để phô diễn cảm xúc của bài đọc.
Người đọc phải hoà nhập tâm hồn với nội dung bài đọc, với văn cảnh thì mới có
cảm xúc, mới tìm thấy ngữ điệu phù hợp từ đó mới có thể đọc tốt, đọc hay.
11
Trong quá trình đọc mẫu đòi hỏi giáo viên phải đọc đúng, rõ ràng, ngữ điệu
đọc phù hợp với nội dung văn bản. Đó chính là việc thể hiện giọng đọc, ngắt
giọng biểu cảm, thể hiện tốc độ, cường độ, cao độ để biểu đạt đúng ý nghĩa và
tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời thể hiện sự thông hiểu,
cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm mà tác giả muốn nhắn nhủ, gửi gắm
thông điệp tới người nghe, người đọc.
- Việc đọc mẫu của giáo viên có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhằm minh hoạ, gợi ý
hoặc nêu “tình có vấn đề” cho học sinh nhận xét, giải thích, tự tìm ra cách đọc,
cách xử lí giọng đọc. Ví dụ: Hãy lắng nghe và phát hiện cách đọc của cô xem cô
đã đọc như thế nào? Trong quá trình đọc, cô đã nhấn giọng như thế nào, ở tiếng,
từ ngữ nào, ngắt nhịp ở đâu, nhấn giọng, kéo dài giọng ra sao?... Từ đó giúp mỗi
giá.
- Học sinh luyện đọc diễn cảm cả bài (tiến hành như trên, sau đó cho học sinh
đọc cá nhân).
* Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho học sinh thể hiện giọng đọc theo nhân vật của
12
văn bản hoặc cho học sinh đọc phân vai (đối với những văn bản có từ hai nhân
vật trở lên) nhằm giúp các em biết thay đổi giọng đọc khi nhập vai các nhân vật,
biết phân biệt được lời của tác giả và lời của nhân vật; phân biệt được lời của
nhân vật khác (thông qua lời nói, hành động của nhân vật,... được thể hiện trong
văn bản).
Biện pháp 7. Tạo lập hứng thú, say mê rèn đọc diễn cảm cho học sinh bằng
qua các trò chơi học tập trong quá trình luyện đọc.
Nhằm nâng cao hiệu quả của tiết dạy Tập đọc, kích thích hứng thú luyện đọc
của học sinh, tôi thường xuyên tổ chức các trò chơi học tập cho học sinh trong
quá trình luyện đọc. Các trò chơi sẽ góp phần tạo lập ở các em hứng thú đọc; rèn
tư duy linh hoạt; luyện tác phong nhanh nhẹn, tháo vát, tự tin; giáo dục tư tưởng,
tình cảm tốt đẹp, tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp.
Các trò chơi học tập trong tiết Tập đọc thường được tôi tổ chức trong quá
trình luyện đọc hoặc đọc diễn cảm tuỳ thuộc nội dung bài đọc, dung lượng bài
tập đọc (dài hay ngắn, thơ hay văn xuôi), khả năng học sinh tham gia,... Các trò
chơi thường được tôi sử dụng trong quá trình luyện đọc diễn cảm cho học sinh
như: Ô cửa (bông hoa) bí mật, thi đọc nối tiếp từng đoạn (theo nhóm, tổ); nhìn
một từ đọc cả câu (hoặc nhìn một câu đọc cả đoạn); thi đọc truyện theo vai; nghe
nội dung – đọc đúng đoạn, mảnh ghép thích hợp,…
Dưới đây là một trong những trò chơi tôi đã tổ chức trong quá trình rèn kĩ
năng đọc diễn cảm cho học sinh:
Trò chơi: Ô cửa bí mật:
* Chuẩn bị: Sách giáo khoa, tranh ảnh tương ứng với nội dung bài đọc (được
- Ngắt giọng biểu cảm: Ngoài việc ngắt, nghỉ theo dấu câu, học sinh cần ngắt
giọng biểu cảm (dựa vào cảm xúc) thông qua việc cảm thụ bài thơ trong phần
tìm hiểu bài.
Đoạn:
Mẹ ơi, /con sẽ phi/
Qua bao nhiêu ngọn gió/
Gió xanh/ miền trung du/
Gió hồng/ vùng đất đỏ/
Gió đen/ hút đại ngàn/
Mấp mô triền núi đá/
- Đọc đúng kiểu câu :
Câu: “Mẹ ơi, con tuổi gì”? (Là dạng câu hỏi).
Đọc cao giọng từ “Mẹ ơi”, đọc nhấn giọng ở từ dùng để hỏi “tuổi gì”.
- Ngữ điệu: Khổ thơ 1 là lời hội thoại của hai mẹ con nên khi đọc, ngữ điệu
cần được học sinh thay đổi cho phù hợp với lời nhân vật.
+ Lời người con (đọc với giọng vui tươi, nhí nhảnh).
+ Lời người mẹ (đọc với giọng chậm rãi, thể hiện đây là lời giải thích của mẹ
cho con nghe).
+ Đọc nhấn giọng vào các từ ngữ: bao nhiêu, xanh, hồng, đen, hút.
- Tốc độ: Khổ thơ 2 đọc với tốc độ hơi nhanh, chậm dần ở cuối khổ thơ.
* Hướng dẫn đọc diễn cảm thể loại văn miêu tả:
Thơ phản ánh hiện thực bằng phương thức trữ tình còn văn xuôi phản ánh
hiện thực bằng phương thức tự sự.
Ví dụ: Bài: Trung thu độc lập (Tiếng Việt 4- Tập I)
Đoạn: “Anh nhìn trăng... với các em” (Gồm đoạn 1 và đoạn 2).
Khi hướng dẫn bài này, tôi đã chú ý những điểm sau:
- Đọc đúng, ngắt nghỉ đúng:
Hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ theo dấu câu, ngoài ra còn ngắt giọng theo cụm
từ biểu cảm.
Câu: “Trăng của các em/ sẽ soi sáng những ống khói nhà máy chi chít/ cao
- Phần đọc mẫu của giáo viên phải đạt chuẩn để học sinh đọc theo.
Ví dụ: Khi đọc câu chuyện: Bốn anh tài (Phần 1, Tiếng Việt 4- Tập II), giáo
viên hướng dẫn học sinh cần đọc với giọng kể khá nhanh; nhấn giọng vào những
từ ngữ ca ngợi tài năng, sức khỏe, nhiệt thành làm việc của bốn cậu bé: chín chõ
xôi, lên mười, mười lăm tuổi, tinh thông võ nghệ, tan hoang, không còn ai, quyết
chí, giáng xuống, thụt sâu hàng gang tay, sốt sắng, ầm ầm, hăm hở, hăng hái.
Chú ý những chỗ ngầm nghỉ hơi giữa các cụm từ trong câu văn khá dài (để
không gây hiểu lầm hoặc mơ hồ về nghĩa):
+ Đến một cánh đồng khô cạn, Cẩu Khây thấy một cậu bé vạm vỡ đang dùng
tay làm vồ đóng cọc / để đắp đập dẫn nước vào ruộng.
+ Họ ngạc nhiên / thấy một cậu bé đang lấy vành tai tát nước suối/ lên một
thửa ruộng cao bằng mái nhà.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt đọng giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Qua việc tìm tòi, đúc rút và vận dụng “Một vài biện pháp rèn kĩ năng đọc
diễn cảm cho học sinh lớp Bốn” trong dạy học phân môn Tập đọc ở lớp 4 của
bản thân đã cho thấy kết quả dạy học được nâng lên. Giờ học được tiến hành nhẹ
nhàng, các giờ học bảo đảm tính sư phạm, đạt hiệu quả cao, giúp học sinh nắm
vững và vận dụng tốt các kiến thức vừa học, đặc biệt nâng cao kĩ năng đọc diễn
cảm bài đọc. Từ đó, học sinh có cách cảm và hiểu nội dung bài đọc sâu sắc hơn,
tiến tới vận dụng học tốt các phân môn khác của môn Tiêng Việt nói riêng và
các môn học khác nói chung. Mặt khác, việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học
sinh trong các tiết thao giảng của bản thân, tôi đã động viên các đồng nghiệp
tích cực tìm hiểu, trao đổi để có những tiết dạy học đạt hiệu quả cao. Từ đó,
phong trào học hỏi, trao đổi kinh nghiệm dạy học được hưởng ứng một cách tích
cực giữa các đồng nghiệp trong trường; các em học sinh cũng có ý thức hơn, tích
cực hơn trong quá trình rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm. Điều đó được thể hiện
qua bảng số liệu khảo sát học sinh lớp 4A (tính đến thời điểm ngày 15 tháng 4
năm 2019) do tôi giảng dạy dưới đây:
15
vẫn còn một số em còn mắc phải lỗi phát âm, đặc biệt là tiếng địa phương như:
ch/tr, s/x, iêc/iêt, ân/âng,... Lỗi phát âm tiếng địa phương rất khó sửa cần phải có
thời gian và sự kiên trì của cả cô và trò.
16
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận:
Để rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh trong các tiết Tập đọc thì:
- Giáo viên cần thực hiện tốt việc chuẩn bị bài ở nhà có chất lượng, giao
nhiệm vụ đọc, nêu câu hỏi định hướng hoặc có biện pháp kiểm tra, đánh giá cụ
thể đối với học sinh.
- Việc đọc mẫu diễn cảm của giáo viên là khâu quan trọng giúp học sinh luyện
tập thể hiện sự cảm nhận về nội dung, ý nghĩa của bài đọc qua giọng đọc, đồng
thời các em có thể học tập cách đọc của giáo viên.
- Đọc đúng giúp học sinh hiểu đúng nội dung văn bản, giúp các em đi vào tìm
hiểu bài thơ, bài văn một cách hiệu quả. Từ việc hiểu được cái hay, cái đẹp của
bài đọc sẽ giúp các em có cảm hứng để đọc hay hơn.
- Việc nắm nội dung bài đọc và xác định giọng đọc của cả bài, đoạn, câu là
một yếu tố cơ bản giúp học sinh đọc diễn cảm tốt.
- Việc rèn học sinh có thói quen học ở nhà là một việc làm cần thiết trong
khâu đọc diễn cảm, bởi vì ở lớp thời gian học tập rất ít. Các em chuẩn bị bài ở
nhà tốt thì đến lớp tiếp thu bài nhanh hơn, đọc tốt hơn.
- Một số học sinh có năng lực đọc còn hạn chế (do cấu tạo bộ máy phát âm
nên không đọc rõ tiếng, đọc ngọng, không đúng), giáo viên cần kiên trì luyện
đọc từng bước: phát âm rõ tiếng, luyện đọc từ, sau đó cả câu, đoạn rồi cả bài.
- Việc cho học sinh thảo luận tập thể cách đọc diễn cảm một bài cũng có kết
quả vì nó sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh. Các em có thể không dám
nói với cô nhưng trước bạn bè các em sẽ dễ dàng bộc bạch ý kiến. Việc cho học
vậy, người giáo viên góp phần khám phá những năng lực sáng tạo còn tiềm ẩn
trong tâm hồn thơ ngây, bé bỏng, đáng yêu của trẻ em.
- Những kinh nghiệm của bản thân ở trên có khả năng ứng dụng vào thực tế
nhà trường và địa phương rất tốt, góp phần nâng cao chât lượng dạy học. Đồng
thời có thể phát triển mở rộng, kế thừa, áp dụng đối với phân môn Tập đọc ở tất
cả các lớp của bậc tiểu học.
3.2. Kiến nghị:
* Đối với giáo viên và các nhà trường:
- Mỗi giáo viên cần phải thường xuyên dành nhiều thời gian để nghiên cứu tài
liệu giảng dạy, tra cứu thông tin trên mạng Internet, tự tìm tòi và cập nhật tri
thức nói chung, các kiến thức về cách đọc diễn cảm nói riêng nhằm nâng cao
năng lực chuyên môn, đáp ứng những đòi hỏi của xã hội đang đặt ra đối với giáo
dục nói chung, đối với mỗi giáo viên nói riêng.
- Để giáo viên có thể tiếp cận và thực hiện soạn giảng lên lớp đạt hiệu quả
cao, nhà trường cần tăng cường tổ chức những buổi hội thảo, sinh hoạt chuyên
môn, cung cấp tài liệu tham khảo về nội dung và phương pháp dạy môn Tập đọc
kịp thời để giáo viên học hỏi lẫn nhau và thực hiện giảng dạy đạt kết quả.
* Đối với các cấp quản lí giáo dục:
- Cần tăng cường khuyến khích viết đề xuất sáng kiến kinh nghiệm các cấp,
ứng dụng, triển khai rộng rãi những sáng kiến về rèn đọc diễn cảm cho học sinh
vào thực tế dạy học.
- Phòng Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo cần thường xuyên tổ chức
các lớp tập huấn các chuyên đề về dạy học môn Tiếng Việt nói chung, phân môn
Tập đọc nói riêng để bổ sung kiến thức, cập nhật những kĩ thuật phương pháp mới
cho giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của đồng
nghiệp nhằm nâng cao chuyên môn; làm tốt công tác thi đua khen thưởng để
khuyến khích giáo viên sáng tạo trong quá trình dạy học nói riêng.
Một vài kinh nghiệm nhỏ trên đây, tôi đã mạnh dạn áp dụng vào thực tế quá
trình dạy học của mình, chắc chắn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Rất mong được
sự góp ý chân thành của các bạn đồng nghiệp, các cấp quản lí giáo dục để sáng