MỤC LỤC
Nội dung
1.MỞ ĐẦU
11. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang
1
1
1
1
2
2
2
2
4
13
14
14
15
huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và pháp lí của đề tài: phân tích, đối chiếu với thực
trạng của nhà trường trong thời điểm hiện tại để qua đó tìm ra các biện pháp,
giải pháp mới hiệu quả hơn trong dạy học phân môn Tập đọc.
- Nghiên cứu những biện pháp áp dụng vào thực tiễn dạy học nhằm nâng cao kĩ
năng đọc đúng, đọc hay cho học sinh thông qua một số kinh nghiệm của bản
thân, giúp học sinh phát âm đúng, đọc rõ ràng, rành mạch tiến tới đọc hay.
- Tạo hứng thú để lôi cuốn học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 3
- Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh
lớp 3A Trường Tiểu học Lương Sơn 2 huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa”.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Tìm hiểu nội dung, chương trình, phương pháp và thực tiễn của việc rèn kĩ
năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 3A Trường Tiểu học Lương Sơn 2 huyện
Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa”.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu Sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã vận dụng các phương
pháp sau:
+Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
+Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
+ Phương pháp thu thập thông tin.
+ Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, sự phát triển Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước cần phải có những con người năng động, sáng tạo, tự lực, tự
2
theo chương trình mới, nên đôi khi còn lúng túng trong các bước dạy. Chuẩn bị
cho một giờ lên lớp chưa được kĩ càng, thiết kế bài dạy chưa chú ý đến đặc thù
ngôn ngữ của địa phương, một số giáo viên đọc mẫu chưa tốt, chưa gây được
hứng thú học tập cho học sinh. Có những giáo viên còn bỏ qua các bước quy
trình của một tiết dạy Tập đọc, chưa khai thác hết dụng ý của Sách giáo khoa.
Việc khai thác nội dung của tranh minh hoạ trong Sách giáo khoa để hướng dẫn
học sinh quan sát chưa tốt, dẫn đến việc học sinh không hứng thú trong học tập.
Có nhiều từ mới, từ khó đối với học sinh dân tộc thiểu số nhưng giáo viên không
tham khảo từ điển trước nên giải thích qua loa.
2.2.2. Về phía học sinh.
Đa số các em là con em dân tộc thiểu số, việc tiếp xúc với các hoạt động
xã hội còn hạn chế, cách phát âm chưa rõ nên có ảnh hưởng đến việc dạy học
tiếng Việt, kĩ năng đọc của học sinh còn thấp. Đọc ngắt nghỉ hơi chưa đúng, học
3
sinh chưa hiểu được cách nói văn chương, vốn lí luận chưa có. Kết quả học đọc
của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc, các em
chưa nắm được công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tư tưởng tình cảm của
người khác chứa đựng trong văn bản đọc.
- Đa số các em còn ham chơi, vốn kiến thức của các em còn hạn chế.
- Các em còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên.
Thực tế hiện nay cho thấy rằng học sinh chưa đọc được như ta mong muốn, cụ
thể là:
Nhiều em đọc chưa đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các em chưa hiểu được nội
dung câu thơ, câu văn nên các em ngắt nghỉ không đúng với nội dung biểu cảm của
tác giả. Học sinh chưa hiểu hết nghĩa của các từ ngữ trong bài đọc, cũng như
chưa hiểu được cách nói văn chương, vốn lí luận chưa có, các em thường ngắt
giọng giữa từ ghép, các em chưa đọc đúng chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần
hạ giọng xuống. Khi đọc câu hỏi, giọng đọc các em còn đều đều chưa toát lên
12
6
Tỉ lệ (%)
0%
28%
48%
24%
Thực trạng trên chưa đáp ứng được mục tiêu dạy đọc mới là rèn cho học
sinh có năng lực hoạt động ngôn ngữ, sử dụng thành thạo trong giao tiếp và cuộc
sống hàng ngày của học sinh.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
4
Từ những thực trạng trên, để rèn kĩ năng đọc cho học sinh thu được kết quả
tốt hơn, tôi xin đề xuất một số biện pháp, giải pháp mà tôi đã áp dụng thành
công ở lớp của mình.
2.3.1. Đổi mới phương pháp dạy học.
Trước tiên tôi đổi mới về phương pháp dạy học. Tôi tổ chức các hoạt động
học tập, tạo mọi điều kiện để phát huy sự tích cực hoá hoạt động mỗi học sinh
để tất cả các em đều được hoạt động, đều được thể hiện bản thân thông qua các
tình huống giao tiếp, các trò chơi học tập.
nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc thành tiếng từng câu nối tiếp.
Vậy nên tôi đã đưa ra trò chơi “ Đọc văn tiếp sức” trong phần thực hành của bài
Tập đọc .
5
VD. Bài : “Nhà ảo thuật”.
Sau khi tôi phổ biến luật chơi, tìm ra tổ trọng tài. Từng nhóm lần lượt đọc
tiếp sức như sau:
Khi nghe trọng tài hô “Bắt đầu”, người số 1( Đầu hàng bên phải hoặc bên
trái) phải đọc câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh. Dứt
tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 ( Cạnh vị trí số 1) mới được đọc
tiếp câu số 2...
Cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm. Nếu chưa hết bài, câu
tiếp theo lại đến người số 1 đọc, người số 2 đọc... cho đến hết bài thì dừng lại.
Trọng tài tính thời gian và ghi lại kết quả số phút toàn bài của từng nhóm;
cùng các bạn theo dõi, nhận xét và tính số cờ thi đua cho nhóm vừa đọc; công bố
kết quả về thời gian đọc và số cờ thi đua của từng nhóm.
Nhóm được nhiều cờ thi đua nhất (Ít hoặc không mắc lỗi) và có thời gian
đọc ít nhất là nhóm giành phần thắng trong cuộc thi đọc văn tiếp sức.
+ Đọc thơ truyền điện.
Rèn kĩ năng đọc thuộc, nhanh những câu thơ trong bài mà học sinh đã đọc
thuộc lòng. Đồng thời luyện trí nhớ và phản xạ nhanh nhạy, kịp thời; góp
phần cảm nhận về ý câu thơ trong bài. Tôi đưa ra trò chơi: “Đọc thơ truyền
điện”.
VD: Bài “Cái cầu”. Tôi phổ biến luật chơi và công bố tên bài thơ (Bài học
thuộc lòng) sẽ đọc truyền điện; nêu cách đọc.
Hai nhóm cử đại diện bốc thăm, hoặc oẳn tù tì để giành quyền đọc trước,
sau đó tiến hành như sau:
- Đại diện nhóm đọc trước (A1) sẽ đứng lên đọc những dòng thơ thuộc cụm
Trong các tiết ôn tập ở từng giai đoạn giữa Học kì I, cuối Học kì I, giữa
Học kì II. Mục đích của tôi là ngoài rèn kĩ năng đọc đúng và rõ ràng các bài thơ
đã học thuộc lòng còn tạo cho các em phối hợp nhịp nhàng với các thành viên
nhóm.
Đầu tiên tôi chia nhóm. Lập tổ trọng tài, mỗi trọng tài có một bộ thẻ (A, B,
C) bằng bìa cứng, dùng để xếp loại nhóm đọc. Tiếp đến tôi nêu yêu cầu:
- Tự chọn tên cho nhóm.
- Mỗi nhóm đăng kí thi đọc 1-2 bài thơ ghi trên bảng.
Lần lượt từng nhóm thi đọc đồng thanh bài thơ (hoặc khổ thơ). Giáo viên
cắm số cờ thi đua mà trọng tài đã cho vào từng bảng thi đua của mỗi nhóm.
Cuối cuộc thi giáo viên và trọng tài tổng hợp kết quả và xếp loại nhóm
thắng cuộc để động viên khen ngợi.
2.3.5. Tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ Tập đọc lớp 3
+ Phần kiểm tra bài cũ.
Thời lượng dành cho phần này không nhiều nhưng cũng đủ giúp tôi nắm
thông tin từ học sinh. Để biết được các em nắm bài đến đâu, tôi thường gọi học
sinh đọc theo yêu cầu và trả lời câu hỏi nhằm kiểm tra việc đọc hiểu của các em.
Sau đó kiểm tra 1 đến 2 em khác, yêu cầu đọc đoạn mình thích và hỏi lí do vì
sao em thích đoạn đó? Nêu cách đọc đoạn (khổ thơ) nhằm củng cố việc cảm thụ
và đọc hiểu của các em.
+ Phần luyện đọc.
Đây là khâu quan trọng để rèn kĩ năng đọc cho học sinh. Với phần luyện
đọc câu, đọc đoạn, đây là phần “đọc vỡ” của các em, tôi chú trọng rèn kĩ năng
đọc đúng, đọc nhanh và đọc lưu loát cho học sinh.
- Khi nhận lớp, qua một vài tiết học đầu, tôi thấy học sinh đọc còn lí nhí,
tốc độ đọc còn chậm. Trong quá trình rèn đọc, tôi giúp các em hiểu rằng: Đọc
không phải cho cô giáo nghe mà cho cả lớp cùng nghe nên cần đọc với giọng đủ
nghe để bạn ngồi xa nhất cũng có thể nghe rõ. Bên cạnh đó, tôi động viên các
em mạnh dạn, tự tin khi đọc trước lớp và hướng dẫn học sinh cách nhấn giọng,
cách lấy hơi để đọc to hơn.
ngắt nhịp chẵn 2/2/2 hoặc 2/3; thơ 7 tiếng ngắt nhịp 3/4 hoặc 4/3…Tuy nhiên,
tôi lưu ý không phải bài nào cũng ngắt được như vậy.
Ví dụ Bài: “Về quê ngoại” Câu: “ Ở trong phố chẳng bao giờ có đâu”
không thể ngắt“ Ở trong/ phố chẳng/ bao giờ có đâu” mà ngắt nhịp 3/5: “ Ở
trong phố /chẳng bao giờ có đâu” mới thể hiện đúng ý nghĩa câu thơ: ở thành
phố chẳng được ngắm trăng đẹp thỏa thích và tận hưởng gió mát lộng như ở
quê.
Để giúp các em đọc đúng, thể hiện được nội dung bài thơ, tôi hướng dẫn
các em cách ngắt nhịp mỗi loại thơ, dựa vào “nhạc” và ý nghĩa từng câu thơ.
Ví dụ:
Còn con / bận bú
Bận ngủ / bận chơi
Bận/ tập khóc cười/
Bận/ nhìn ánh sáng.//
(Bận)
Yêu cái cầu treo/ lối sang bà ngoại
Như võng trên sông/ ru người qua lại
Dưới cầu,/ thuyền chở đá,/ chở vôi
Thuyền buồm đi ngược,/ thuyền thoi đi xuôi.//
8
(Cái cầu)
+ Phần luyện đọc lại.
Nếu như ở phần luyện đọc câu, đoạn là giai đoạn đọc “cày vỡ” thì trong
phần luyện đọc lại, các em phải đọc hay, đọc thể hiện đúng nội dung mình đã
cảm nhận qua tìm hiểu bài. Đây là cái đích mà dạy Tập đọc hướng đến. Tuy
chưa phải là yêu cầu bắt buộc song việc hướng dẫn học sinh đọc đúng giọng
đọc, bộc lộ cảm xúc khi đọc là một việc làm vô cùng cần thiết để giúp các em
được thể hiện mình, được phát triển.
đọc với giọng nhẹ nhàng, chậm rãi, nhấn ở các từ ngữ: mướt màu xanh, rì rào
gió thổi, biển cả mênh mông, bà chúa, đỏ ối…
Tốc độ đọc cùng với cách nhấn giọng kết hợp một cách hợp lí sẽ giúp các
em đọc tốt, thể hiện được vẻ đẹp của bài văn, bài thơ. Khi dạy bài: “Nhớ lại buổi
đầu đi học”, tôi thấy đây là một bài văn trữ tình, chứa chan cảm xúc, nhấn giọng
ở các từ gợi tả, gợi cảm.
Ví dụ: “Hàng năm, ... mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.” Tôi hướng
dẫn các em nhấn ở các từ: cuối thu, náo nức, mơn man, nảy nở, mỉm cười.
Ở chương trình lớp 3, mỗi tuần có một văn bản chuyện kể. Hầu hết các
câu chuyện có lời đối thoại của các nhân vật. Khi dạy, tôi hướng dẫn các em đọc
đúng lời nhân vật và chuyển giọng linh hoạt cho phù hợp với từng nhân vật để
làm nổi bật lời hội thoại và rõ tính cách nhân vật.
Ví dụ: Bài “Người lính dũng cảm”, trong bài có lời dẫn chuyện, tôi yêu
cầu học sinh đọc với giọng hơi nhanh, gọn, rõ.
+ Lời nói của viên tướng giọng mệnh lệnh, tự tin, dứt khoát.
+ Lời nói của chú lính nhỏ lúc đầu rụt rè, ngập ngừng sau chuyển thành
quả quyết khi phản đối mệnh lệnh sai trái của viên tướng.
+Lời thầy giáo lúc nghiêm khắc, lúc dịu dàng, buồn bã.
- Rèn khả năng đọc đúng giọng đọc của các nhân vật, phát huy thế mạnh ở
mỗi học sinh, giúp nhiều em được thể hiện giọng đọc, tôi tổ chức cho các em
đọc phân vai theo nhóm.
Trên cơ sở đọc và sửa theo nhóm, đọc trước lớp, các em đã biết đọc đúng,
thể hiện rõ tính cách từng nhân vật.
Ví dụ: Bài: “Người mẹ”, tôi tổ chức cho các em đọc phân vai theo nhóm
3, các em tự phân vai (người dẫn chuyện, Thần Chết, bà mẹ) và đọc diễn cảm đoạn
4: ngắt, nghỉ đúng và nhấn giọng ở các từ ngữ sau: ngạc nhiên, tận nơi đây, tôi là mẹ…
Thấy bà,/Thần Chết ngạc nhiên,/ hỏi://
- Làm sao ngươi có thể tìm đến tận nơi đây?//
Bà mẹ trả lời://
- Vì tôi là mẹ.// Hãy trả con cho tôi.//
+ Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm.
Tôi tổ chức dạy thực nghiệm vào tuần 12 và tuần 21 với bài bài “ Cảnh đep
non sông” và bài “ Ông tổ nghề thêu”. Lớp tôi dạy thực nghiệm là Lớp 3A - Trường
Tiểu Học Lương Sơn 2 – Thường Xuân– Thanh Hoá .
Kế hoạch bài học minh họa: Tuần 12
TẬP ĐỌC
CẢNH ĐẸP NON SÔNG
I . Mục tiêu:
- Chú ý đọc đúng các từ ngữ: Non sông, Kì Lừa, mịt mù, quanh quanh, lóng
lánh,Trấn Vũ, họa đồ, bát ngát,sừng sững.
11
- Biết ngắt nhịp thơ đúng giữa các dòng thơ lục bát, thơ bảy chữ. Nhấn giọng
biểu lộ niềm tự hào về cảnh đẹp ở các miền đất nước.
- Biết được các địa danh trong bài qua chú thích.
- Cảm nhận được vẻ đẹp và sự giàu có của các miền trên đất nước ta, từ đó
thêm tự hào về quê hương đất nước.
- Học thuộc lòng bài thơ.
GDKNS: Rèn kĩ năng lắng nghe tích cực.
II. Chuẩn bị:
- Bảng phụ viết ý tóm tắt 3 đoạn truyện "Nắng phương Nam"
- Tranh ảnh về cảnh đẹp được nói đến trong các câu ca dao.
III.Các hoạt động dạy học chủ yếu:
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
A. Kiểm tra bài cũ.
- Gọi 3 HS nối tiếp nhau kể lại câu chuyện - 3 HS kể. Mỗi em kể một đoạn và
“Nắng phương Nam”
trả lời câu hỏi.
- Cả lớp đọc đồng thanh.
+ Thi đọc giữa các nhóm.
- 3 nhóm thi đọc đồng thanh nối tiếp.
3. Hướng dẫn tìm hiểu bài
- Gọi HS đọc thầm toàn bài, trả lời câu hỏi:
- 1 HS đọc, lớp đọc thầm cả bài.
12
+ Mỗi câu ca dao nói đến một vùng. Đó là Câu1: Nói về Lạng Sơn; câu 2:Hà
những vùng nào?
Nội; Câu 3: Nghệ An, Hà Tĩnh; …
+ Mỗi vùng có gì đẹp?
- HS nói về cảnh đẹp trong từng câu
ca dao theo ý hiểu của mình.
- HS thảo luận và phát biểu ý kiến.
+ Theo em, ai đã giữ gìn, tô điểm cho non + Cha ông ta từ bao đời nay đã gây
sông ta ngày càng đẹp hơn?
dựng nên đất nước này; giữ gìn tô
điểm cho non sông ngày càng tươi
đẹp hơn.
Nội dung: Bài cho ta cảm nhận được vẻ đẹp - 1 HS nêu nội dung bài thơ, HS
và sự giàu có của các miền trên đất nước ta, khác nhận xét.
từ đó thêm tự hào về quê hương đất nước.
4. Luyện đọc thuộc lòng
- GV cho HS đọc lại bài.
- 1 HS đọc, cả lớp đọc thầm theo.
- Tổ chức cho HS học thuộc lòng qua các
bức tranh tương ứng với nội dung của từng
câu thơ.
được biểu hiện khá rõ ràng. Bằng việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ
chức lớp học linh hoạt lấy học sinh làm trung tâm, trong giờ học hầu hết học
sinh được tham gia quá trình chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kĩ năng. Học sinh
nhút nhát, học sinh chưa hoàn thành được chú ý một cách đúng mức, khuyến
13
khích, động viên kịp thời. Vì vậy, kết quả học tập, rèn luyện được nâng cao.
Trong giờ thực nghiệm không có hiện tượng làm việc riêng các em đều bị
cuốn hút vào các hoạt động học tập. Qua đó chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa
hai lớp thực nghiệm và đối chứng.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Từ những năm công tác vừa qua và đặc biệt năm học 2016 – 2017, tôi
thấy những biện pháp mà bản thân tôi vận dụng thực tế trong giờ dạy đã nâng
chất lượng môn Tập đọc có hiệu quả đáng phấn khởi. Cụ thể kết quả so sánh với
đầu năm như sau:
Việc vận dụng phương pháp mới tôi thấy có hiệu quả rõ rệt: học sinh đọc lưu
loát, ngắt nghỉ hơi đúng, đọc có ngữ điệu, nhiều em đọc hay, lôi cuốn người nghe
như các em: Hải Yến, Anh Kiệt, Khánh Ly, Trà My, Thu Cúc, Sĩ Long v.v…
Từ việc đọc đúng, đọc hay trong các giờ Tập đọc, các em vận dụng tốt khi
đọc bài trong giờ Chính tả, đoạn thơ, truyện vui trong giờ Luyện từ và câu, đặc
biệt có khả năng nói tốt trong giờ Tập làm văn.
Trong đợt hội giảng, tiết dạy của tôi được đánh giá loại giỏi, học sinh hào
hứng, đọc đúng và hay, các em tự tin trả lời mạch lạc, rõ ràng.
Sự vận dụng vào dạy học của lớp có kết quả rõ rệt như sau:
Mức độ
+ Đọc đúng, rõ + Đọc đúng, + Đọc đúng, + Đọc qúa chậm
ràng, diễn cảm
rõ ràng
cảm) của các em được nâng cao, làm nền tảng cho khả năng giao tiếp mạch lạc
của các em sau này.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Qua tìm tòi, nghiên cứu và vận dụng một số biện pháp rèn kĩ năng đọc
thành tiếng cho học sinh, tôi nhận thấy chất lượng đọc ngày càng được nâng cao.
Dạy học sinh đọc tốt, người giáo viên sẽ tiếp thêm một phương tiện để các em
khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn chương và cuộc sống.
Thực tế giảng dạy những năm qua giúp tôi rút cho mình những bài học
trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh như sau:
3.1.1. Với giáo viên:
14
Cần nghiên cứu kĩ bài dạy, sử dụng phối hợp mềm dẻo, linh hoạt các
phương pháp dạy học.Trau dồi vốn sống, năng lực cảm thụ văn học để thâm
nhập vào tác phẩm, truyền thụ tới học sinh một cách mạch lạc, truyền cảm và dễ
hiểu.
Có ý thức tự điều chỉnh giọng đọc của bản thân, tạo được mẫu đọc lí
tưởng cho học sinh, dự tính các lỗi sai học sinh dễ mắc phải để sửa cho triệt để.
Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi đọc, làm chủ tia mắt, cách lấy hơi khi đọc làm
cơ sở cho đọc đúng.
Trong quá trình rèn đọc, cần quan sát, lắng nghe giọng đọc của học sinh,
tạo điều kiện cho học sinh được phát hiện, được đánh giá giọng đọc, cách đọc.
Rèn cho học sinh đọc đúng, biết đọc có ngữ điệu và thay đổi giọng sao cho phù
hợp với nội dung, từng câu, từng đoạn hoặc cả bài. Chú ý từ ngữ gợi tả trong
văn xuôi, nhấn giọng, ngắt nhịp theo ý nghĩa để tăng giá trị biểu cảm trong
giọng đọc.
Quan tâm sát sao tới các em đọc chưa tốt, khuyến khích động viên, giúp
đỡ kiên trì, tỉ mỉ nâng dần chất lượng đọc cho các em. Lựa chọn phương pháp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy Tập đọc ở Tiểu học- Lê phương Nga.
2. Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học (Lê Hữu Tỉnh - Trần
Mạnh Hưởng).
3. Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt lớp 3, NXB Giáo dục.
4. Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 3- Nguyễn Minh Thuyết.
5. Phương pháp dạy học Tiếng Việt.
6. Sách Tiếng Việt lớp 3 - tập một
7. Sách Tiếng Việt lớp 3 - tập hai
8. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 3- tập1.
16
9. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 3- tập2.
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:Lê Thị Thanh Thủy
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên- Trường Tiểu học Lương Sơn2
TT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh
Kết quả
giá xếp
đánh giá xếp
2010-2011
Phòng
C
2012-2013
Phòng
B
2014-2015
loại (A, B,
hoặc C)
xếp loại
B
2005-2006
lượng học phân môn Tập làm
3.
văn lớp 2
Một số kinh nghiệp giúp HS
lớp 2 học tốt phân môn Tập