MỤC LỤC
A – PHẦN MỞ ĐẦU
I – Lý do chọn đề tài
2
II – Mục đích và phương pháp nghiên cứu
3
III – Giới hạn của đề tài
3
IV – Các giả thuyết nghiên cứu
4
V – Cơ sở lí luận và thực tiễn
4
VI – Kế hoạch thực hiện
6
B – NỘI DUNG
I. Thực trạng và những mâu thuẫn
6
21
2. Bài học kinh nghiệm
22
D – TÀI LIỆU THAM KHẢO
-1-
A/ PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ cho 4 dạng hoạt
động tương ứng với chúng là 4 kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Tập đọc là một
phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Đây là một phân môn có vị
trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho
học sinh kĩ năng chuyển chữ viết thành ngôn ngữ, một kĩ năng quan trọng hàng
đầu của học sinh ở bậc Tiểu học đầu tiên.
Đối với học sinh kĩ năng đọc là yêu cầu cơ bản đầu tiên. Nếu không biết
đọc các em sẽ không tham gia vào các hoạt động học các môn khác đạt kết quả
được. Vì vậy, dạy Tập đọc có ý nghĩa rất quan trọng trong chương trình dạy học
Tiểu học. Yêu cầu kĩ năng đọc đặt ra cho học sinh lớp 4 cần đạt tới đó là:
- Đọc đúng tốc độ;
- Đọc lưu loát;
- Đọc thầm nhanh hiểu nội dung bài;
- Bước đầu biết đọc diễn cảm ở bài văn hay bài thơ nói chung, có cảm
xúc, biết nhấn giọng ở những từ gợi cảm, gợi tả, biết đọc các lời tác giả, lời nhân
vật.
nói hay, nói đúng, mạnh dạn, tự tin, bình tĩnh trước tập thể.
- Thông qua việc rèn luyện đọc diễn cảm, giáo viên còn bồi dưỡng thêm
năng lực cảm thụ văn học cho học sinh.
2. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc học hỏi đồng nghiệp tôi còn sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp thực hành luyện tập
III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
-3-
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp để rèn
đọc diễn cảm qua phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4A (năm học 2013 2014)
- Tài liệu: Sách giáo khoa Tiếng Việt, sách hướng dẫn giáo viên, sách giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh.
IV. CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU:
Nếu tất cả các lớp 4 trong Thành phố Bà Rịa có hoàn cảnh và thực trạng
giống như lớp 4A áp dụng những kinh nghiệm mà đề tài nêu lên thì chất lượng
giảng dạy môn Tập đọc ở lớp 4 sẽ được nâng lên rõ rệt.
V. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
1. Cơ sở lí luận:
Dạy Tập đọc có ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học. Đọc là công cụ để học tập
tất cả các môn học, đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập, đọc tạo điều kiện để
học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Và việc rèn cho học
sinh biết đọc diễn cảm các văn bản là điều rất quan trọng ở mỗi giờ dạy tập đọc
cho học sinh lớp 4. Học sinh biết cách đọc diễn cảm các văn bản sẽ góp phần
giúp các em biết cảm thụ văn học được tốt hơn. Hơn thế nữa việc dạy học sinh
biết đọc diễn cảm giúp các em biết cách giao tiếp lịch sự hơn khi nói lời cảm ơn,
lời xin lỗi, lời chào hỏi, lời nhờ, lời yêu cầu …
cùng nhau thảo luận tìm hiểu bài.
Vậy là về căn bản phương pháp dạy học Tập đọc đã đổi mới, đòi hỏi mỗi
giáo viên Tiểu học phải tư duy sáng tạo, vận dụng linh hoạt các phương pháp
dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu về đổi mới nội dung dạy học, phương pháp dạy
học để học sinh được tích cực lĩnh hội và phát triển.
Dạy Tập đọc đặc biệt là việc luyện kỹ năng đọc diễn cảm trong phân môn
Tập đọc cho học sinh lớp 4 là một công việc khó vì học sinh đọc diễn cảm một
văn bản là rất ít. Hầu như các em mới chỉ đạt đến yêu cầu: đọc đúng tốc độ, phát
âm tương đối chính xác, hiểu được nội dung bài còn yêu cầu về kĩ năng đọc diễn
cảm là rất thấp. Đây là một vấn đề bức xúc, nan giải với số đông giáo viên Tiểu
-5-
học hiện nay khi được phân công giảng dạy lớp 4. Nhiều người đã quan tâm tìm
hướng đi, song lựa chọn giải pháp nào cho có hiệu quả nhất nhằm giúp học sinh
trước hết mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tiếp đó là rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho
các em trong các giờ luyện đọc khiến họ có nhiều băn khoăn trăn trở.
VI. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
- Tháng 8/ 2013 lập đề cương.
- Tháng 8 – 9/ 2013. Điều tra thực trạng và việc học môn Tập đọc của học
sinh
- Tháng 10/ 2013 đến cuối tháng 12/2013: Thu thập và xử lý các số liệu
điều tra. Thống kê phân tích các số liệu
+ Viết đề tài và báo cáo sơ bộ
+ Chỉnh sửa và hoàn thiện đề tài
B/ NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN:
1. Về phía giáo viên:
Chương trình tiếng Việt Tiểu học mới hiện nay, nội dung các bài đọc trong
đưa ra cách chữa lỗi hay nhất. Và trong giờ dạy tập đọc, chúng ta không bắt ép
học sinh phải đọc theo một phương ngữ nhất định khi mà phương ngữ các em có
được khác với phương ngữ mà cô yêu cầu.
2. Rèn kĩ năng trong giờ tập đọc:
a. Rèn kỹ năng đọc thầm:
- Đọc thầm là hình thức đọc không thành tiếng, người đọc dùng mắt để
nhận biết văn bản và vận dụng năng lực tư duy để thông hiểu và tiếp nhận nội
dung thông tin của văn bản.
- Thường xuyên củng cố cho học sinh về cách đọc thầm, đọc hoàn toàn
bằng mắt, không mấp máy mắt, không phát ra tiếng. Lúc đầu có thể di chuyển
-7-
mắt theo que trỏ hoặc ngón tay, và quan trọng hơn là mắt đọc nhưng đầu phải
suy nghĩ về những điều mình đang đọc.
- Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh. Quy định thời gian đưa
ra câu hỏi (đơn giản) yêu cầu học sinh trả lời về hình thức, về nội dung của bài
đọc.
b. Rèn kĩ năng đọc đúng, lưu loát và nắm được nội dung, ý nghĩa các
bài đọc:
Muốn đọc diễn cảm một tác phẩm trước hết đòi hỏi các em cần phải
biết đọc đúng, lưu loát và nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm đó. Vì khi
đọc đúng, các em sẽ phát âm chính xác các từ ngữ, biết ngắt nghỉ giọng đúng
chỗ trong từng câu, từng đoạn để giúp người nghe hiểu đúng nghĩa các từ ngữ
cũng như các câu văn của bài đọc. Còn khi các em nắm được nội dung, ý nghĩa
bài đọc sẽ giúp các em biết nhấn giọng các từ ngữ biểu cảm và tự xác định được
giọng đọc phù hợp cho từng đoạn hay cả bài đọc đó.
* Luyện đọc đúng:
- Trước khi tiến hành luyện đọc, chia văn bản thành các đoạn đọc. Tôi căn
cứ vào trình độ đọc của học sinh trong lớp để chia văn bản thành các đoạn, sao
đọc được “nỗi niềm”.
+ Trong bài “Đường đi Sa Pa” (TV 4- tập 2 trang 102) các em cần đọc
đúng các từ: chênh vênh, lướt thướt, Hmông, Tu Dí, Phù Lá, khoảnh khắc …
+ Với những truyện đọc nước ngoài giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh
cách đọc các danh từ riêng, như trong bài “Dù sao trái đất vẫn quay” (TV4
tập2): Cô-péc-ních, Ga- li- lê …
Các hình thức luyện đọc:
Để hướng dẫn học sinh luyện đọc thành tiếng, tôi tổ chức cho học sinh
hoạt động theo các hình thức sau:
- Đọc cá nhân (đọc riêng lẻ hoặc nối tiếp từng đoạn, đọc trước lớp hoặc
đọc theo cặp, theo nhóm).
-9-
- Đọc đồng thanh (theo nhóm hoặc tổ, lớp) khi cần. Ví dụ: Đọc đồng
thanh để khắc sâu ấn tượng về nhịp điệu của đoạn văn, bài thơ; giúp học sinh dễ
dàng ghi nhớ đoạn, bài cần thuộc lòng, thay đổi hoạt động, tạo không khí hào
hứng cho lớp học.
- Đọc theo phân vai (nhiều học sinh hợp tác đọc theo lời nhân vật mình
đóng vai, tham gia các trò chơi luyện đọc).
* Khai thác giọng đọc của học sinh thông qua việc tìm hiểu nội dung
bài:
Nắm được nội dung chính của bài sẽ giúp các em xác định giọng đọc
chung của đoạn, của bài.
- Giáo viên nêu câu hỏi để định hướng cho học sinh đọc thầm (đoạn, bài)
và trả lời đúng nội dung. Có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng, những
học sinh khác đọc thầm thảo luận vấn đề do giáo viên đưa ra.
- Với trình độ học sinh trong lớp, tôi chia câu hỏi thành các ý nhỏ để học
sinh dễ thực hiện hoặc bổ sung câu hỏi phụ có tác dụng dẫn dắt học sinh trả lời
- Việc phát hiện ra các biện pháp nghệ thuật là một trong những phần
quan trọng trong việc cảm thụ bài văn. Vì vậy, ngay từ đầu giáo viên cần bổ
sung cho các em hiểu biết thêm về các biện pháp tu từ như: biện pháp so sánh ,
nhân hoá và dấu hiệu nhận biết, tác dụng của các biện pháp đó.
Ví dụ: Khi dạy bài “Hoa học trò” (Tiếng Việt 4 - tập 2, trang 43)
Ở bước tìm hiểu bài, tôi đặt các câu hỏi:
+ Vẻ đẹp của hoa phượng có gì đặc biệt? (câu hỏi 2 SGK)
+ Màu hoa phượng thay đổi như thế nào theo thời gian? (câu hỏi 3 SGK)
Sau đó, tôi mới đặt câu hỏi: Tại sao tác giả lại gọi hoa phượng là “hoa
học trò” (câu hỏi 1 SGK). Tiếp đó, nêu thêm một số câu hỏi dành cho HS khá,
giỏi giúp các em tìm hiểu về giá trị nghệ thuật có trong đoạn đầu để thấy hết vẻ
đẹp đặc biệt của hoa phượng.
- 11 -
+ Đoạn đầu, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả
vẻ đẹp của hoa phượng? (so sánh, điệp ngữ)
+ Hãy nêu những hình ảnh so sánh (So sánh là những tán hoa lớn xoè ra
như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau)
+ Tác giả sử dụng điệp ngữ nào? (Điệp ngữ: không phải, cả một loạt, cả
một vùng, cả một góc trời đỏ rực)
+ Những biện pháp đó có tác dụng gì? (giúp người đọc hình dung và nhấn
mạnh rõ hơn vẻ đẹp của cả chùm hoa phượng, cả cây phượng)
+ Để nhấn mạnh được vẻ đẹp ấy, đoạn này, ta cần đọc như thế nào?
(giọng nhẹ nhàng, nhấn giọng những từ được dùng một cách ấn tượng để tả vẻ
đẹp của hoa phượng: không phải, cả một loạt, cả một vùng, cả một góc trời đỏ
rực, muôn ngàn con bướm thắm)
Tóm lại: Tìm được cái gì đó làm mình cảm xúc, tức là các em đã cảm thụ
được bài văn.
- Với những học sinh đọc chưa lưu loát, còn chậm : Đọc đúng các từ ngữ
thường phát âm sai.
Thực tế, không phải bài nào tìm hiểu bài xong mới tiến hành luyện đọc
diễn cảm mà tùy theo từng bài và tùy từng đối tượng học sinh, có thể hướng dẫn
các em thể hiện đọc diễn cảm ngay từ bắt đầu luyện đọc đoạn. Điều này rất tốt,
tạo hứng thú trong quá trình học tập của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Tiếng Việt 4tập 2, trang 71)
Trước hết tôi gọi một em đọc toàn bài thơ, yêu cầu các em dưới lớp theo
dõi và nhận xét nhịp điệu, sắc thái của bài thơ này (nhanh hay chậm, vui tươi
hay buồn rầu, hóm hỉnh hay gay gắt), rồi yêu cầu các em dựa vào nội dung của
bài thơ để xác định giọng đọc phù hợp. Sau khi học sinh nêu, tôi bổ sung thêm
và hướng dẫn các em nhấn giọng ở các từ gợi tả trong bài. Qua đó, tôi thấy đa số
các em biết thể hiện giọng đọc diễn cảm cho toàn bài thơ ngay từ lúc bắt đầu
- 13 -
bước vào phần luyện đọc đúng với giọng vui, hóm hỉnh nhằm toát lên được tinh
thần dũng cảm, lạc quan, coi thường khó khăn, gian khổ của các chiến sĩ lái xe
trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Với cách làm như trên, khi chuyển sang
bước luyện đọc diễn cảm, các em sẽ chủ động hơn trong việc đọc diễn cảm từng
đoạn của bài thơ và không chỉ những học sinh giỏi, khá biết đọc diễn cảm mà
một số em học sinh trung bình cũng có thể bước đầu biết đọc diễn cảm.
Trong chương trình Tập đọc, yếu tố đọc diễn cảm đối với lớp 4 chỉ yêu
cầu ở mức độ vừa phải (tức là chỉ bước đầu biết đọc diễn cảm).
Theo tôi, không phải bài đọc nào cũng thực hiện đọc diễn cảm. Đối với
văn bản nghệ thuật thì mới hướng dẫn đọc diễn cảm, còn đối với các văn bản
khác thì chỉ hướng dẫn luyện đọc lại. Chính vì thế, khi dạy, tôi yêu cầu các em
xác định bài đọc đó có phải là văn bản nghệ thuật hay không ?
* Đối với văn xuôi:
Ngoài việc khai thác các câu hỏi trong sách giáo khoa, tôi còn cho các em
+ (2 - 3 HS (hoặc nhóm) thi đọc đoạn
+ 1- 2 em đọc thuộc lòng cả bài.
- Dưới lớp bình chọn bạn đọc hay nhất.
=> Nhận xét, ghi điểm; Tuyên dương.
Ví dụ : Đoạn 4 của bài thơ cần đọc với giọng ca ngợi ; nhấn giọng ở các từ
khẳng định và những từ mang rõ sắc thái cảm xúc như sau :
... Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông / lạ thường.
Lưng trần phơi nắng / phơi sương
Có manh áo cộc, tre nhường cho con.
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng / thân tròn của tre.
- 15 -
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc / có gì lạ đâu.
Mai sau,
Mai sau,
Mai sau,
Đất xanh/ tre mãi xanh màu tre xanh.
* Đối với truyện- kịch:
- Với thể loại này, khi hướng dẫn đọc diễn cảm thì trước hết tôi giúp các
em phân biệt rõ giữa lời kể và lời các nhân vật, giữa lời các nhân vật với nhau;
phân biệt nhân vật chính - phụ để các em thể hiện tốt lời nói, ngữ điệu theo từng
tuyến nhân vật. Đồng thời, tổ chức đọc diễn cảm theo cách phân vai kết hợp với
sự phụ trợ của nét mặt, ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ,…cho từng nhân vật.
- Khi tổ chức đọc diễn cảm loại bài này, tôi đã kết hợp gọi cả ba đối tượng
học sinh cùng tham gia đọc, như:
+ Những học sinh đọc đúng, đọc hay: các em nhập vai những nhân vật có
Trong quá trình luyện đọc, tôi thường tổ chức hình thức đọc cá nhân hoặc đọc
theo nhóm ngẫu nhiên có cùng đoạn đọc.
- Đối với các bài có đoạn dễ - đoạn khó; đoạn ngắn - đoạn dài thì tôi sẽ ấn
định đoạn cần luyện đọc diễn cảm cho các em (thường là đoạn tiêu biểu nhất
trong bài). Trường hợp này tôi thường tổ chức các hình thức đọc giống như quy
trình nêu trên, gồm : cá nhân đọc mẫu, đọc theo nhóm đôi, thi đọc trước lớp.
* Truyện - Kịch :
Nếu nội dung của câu chuyện, đoạn kịch đó ngắn thì tôi hướng dẫn các
em luyện đọc cả bài. Ngược lại câu chuyện, đoạn kịch đó dài thì tôi chọn đoạn
có lời thoại hay, nhiều câu văn dài, khó để hướng dẫn các em đọc diễn cảm và tổ
chức hình thức đọc theo phân vai.
* Luyện theo giọng đọc mẫu: giúp học sinh rèn luyện kĩ năng đọc diễn
cảm theo định hướng của mẫu. Bước này chiếm nhiều thời gian và được xem là
- 17 -
trọng tâm của biện pháp luyện đọc theo mẫu. Cường độ luyện tập ở bước này
cao giúp học sinh ghi nhớ và vận dụng tốt mẫu đã được nghe và phân tích. Để
tránh nhàm chán đối với học sinh khi phải luyện tập nhiều, hình thức luyện tập
cần phong phú ( cá nhân, nhóm, thi đọc, đọc phân vai, đọc nối tiếp,...)
* Nhận xét, sửa chữa, điều chỉnh cách đọc: giúp học sinh điều chỉnh,
sửa chữa, ý thức sâu sắc về cách đọc diễn cảm bài đọc. Chúng ta nên tổ chức
nhận xét điều chỉnh theo nhóm hoặc tập thể lớp.
3. Rèn kĩ năng ngoài giờ tập đọc:
Ngoài việc học trên lớp, phát động học sinh mỗi tuần đọc một bài thơ hay
một câu chuyện ở báo thiếu niên, để đến giờ sinh hoạt có thể đọc thơ hoặc kể
chuyện cho cả lớp cùng nghe, tuyên dương những em học sinh có giọng đọc hay,
kể chuyện hấp dẫn.
- Trong buổi học thứ hai tôi thường đọc cho các em nghe một bài thơ, bài
văn hay.
- GV: Tranh minh họa,bảng phụ viết sẵn đoạn văn cần luyện đọc.”
- HS: SGK
V. Hoạt động dạy chủ yếu:
1/ Ổn định lớp: hát
2/ Kiểm tra bài cũ:
- 2HS đọc thuộc lòng bài Có chí thì nên và trả lời câu hỏi nội dung bài.
3/ Bài mới:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của
HS
1. Khám phá/ giới thiệu bài:
- (?) Qua các bài tập đọc, các câu chuyện kể mà các
em đã học, hãy kể tên những nhân vật có ý chí và
nghị lực vươn lên.
- HS trả lời
- Treo tranh giới thiệu bài: Bài tập đọc “Vua tàu
thủy” Bạch Thái Bưởi giúp các em biết về nhà kinh - HS lắng nghe
doanh Bạch Thái Bưởi - một nhân vật nổi tiếng trong
lịch sử Việt Nam - nguồn gốc xuất thân của ông,
những hoạt động giúp ông trở thành một người nổi
tiếng.
2. Kết nối/ Hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài:
a. Luyện đọc:
- GV hướng dẫn cách đọc- 1 HS đọc cả bài
- Gọi 1 HS đọc chú giải.
khách nào đồng tình với ông / thì vui lòng bỏ ống
tiếp sức cho chủ tàu.
-HS đọc nối tiếp,
chú ý đọc đúng từ
khó.
-HS đọc nối tiếp,
chú ý đọc ngắt
nghỉ và nhấn
giọng đúng các
câu văn dài.
-Cho HS đọc theo cặp, cho HS nhận xét lẫn nhau về
cách đọc.
-GV đọc diễn cảm toàn bài.
b/ Tìm hiểu bài:
- HS đọc theo cặp
- Yêu cầu HS đọc thầm đoạn 1,2:
(?) Bạch Thái Bưởi xuất thân như thế nào?
(?) Trước khi mở công ty vận tải đường thủy, Bạch
Thái Bưởi đã làm những công việc gì?
(?) Qua những công việc của ông em thấy Bạch Thái
Bưởi là người như thế nào?
(?) Chi tiết nào cho thấy ông là người rất có ý chí?
-Lớp theo dõi.
-HS đọc thầm
đoạn 1, 2 và trả lời
đoạn 1,2:
Bưởi mồ côi cha từ nhỏ, phải theo mẹ quẩy gánh
hàng rong. Thấy em khôi ngô, nhà họ Bạch nhận
làm con nuôi và cho ăn học.
- HS nêu ý kiến
- HS nêu ý kiến
- 4 HS đọc nối
tiếp
Năm 21 tuổi, Bạch Thái Bưởi làm thư kí cho một
hãng buôn. Chẳng bao lâu, anh đứng ra kinh doanh
độc lập, trải đủ mọi nghề: buôn gỗ, buôn ngô, mở
hiệu cầm đồ, lập nhà in, khai thác mỏ,… có lúc mất
trắng tay, anh vẫn không nản chí.
-GV đọc mẫu- yêu cầu HS phát hiện từ cần nhấn
giọng.
-Cho 1 HS giỏi đọc.
- Yêu cầu HS luyện đọc diễn cảm theo cặp.
- 2-3 HS thi đọc diễn cảm
- GV nhận xét, tuyên dương.
4/ Vận dụng/ Củng cố:
- (?) Câu chuyện về Bạch Thái Bưởi muốn nói với
các em điều gì?
(?) Em đã có ý chí, nghị lực vươn lên chưa?
- Lắng nghe GV
đọc và phát hiện
cách đọc hay.
35/18
5
22
8
Sau gần 2 năm vừa nghiên cứu vừa áp dụng các biện pháp trên, đến nay
(cuối học kỳ I năm học 2013 – 2014) tôi tiến hành kiểm tra đọc diễn cảm của
lớp mình. Kết quả như sau:
Thời gian
SS
Đọc còn chậm
Đọc đúng
Đọc diễn cảm
Đầu năm
35/18
5
22
13
Giữa kì I
35/18
1
19
15
Tháng thứ 4
35/18
0
18
17
Tháng thứ 5
35/18
0
17
học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Và việc rèn cho học
sinh biết đọc diễn cảm các văn bản là điều rất quan trọng ở mỗi giờ dạy tập đọc
cho học sinh lớp 4. Học sinh biết cách đọc diễn cảm các văn bản sẽ có tác dụng
giúp các em sẽ hiểu sâu sắc hơn về nội dung bài đọc tức là đã góp phần giúp các
em biết cảm thụ văn học được tốt hơn. Hơn thế nữa, việc dạy học sinh biết đọc
diễn cảm giúp các em biết cách giao tiếp lịch sự hơn khi nói lời cảm ơn, lời xin
lỗi, lời chào hỏi, lời yêu cầu …
Mỗi hoạt động rèn đọc diễn cảm là một dịp cho các em có thêm kĩ năng
và chủ động tham gia thể hiện bản thân. Vì vậy, giáo viên cần hết sức linh hoạt
để làm cho hoạt động đọc trở nên hứng thú và bổ ích. Điều quan trọng là cần căn
cứ vào nội dung, tính chất của từng bài, căn cứ vào trình độ học sinh và năng
lực, sở trường của giáo viên; căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng
trường, từng lớp mà lựa chọn, sử dụng kết hợp các phương pháp và hình thức
dạy học một cách hợp lý, đúng mức.
2. Bài học kinh nghiệm:
Để việc “Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 qua phân môn
Tập đọc” đạt được thành công theo tôi:
- 23 -
- Trước hết người giáo viên phải đọc diễn cảm. Bản thân mỗi giáo viên
phải tích cực khắc phục những hạn chế về kĩ năng đọc của mình, thường xuyên
luyện đọc diễn cảm để hướng dẫn học sinh đọc tốt.
- Hướng dẫn các em cần phải biết đọc đúng, lưu loát và nắm được nội
dung, ý nghĩa của tác phẩm đó.
- Sử dụng nhiều hình thức rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh trong và
ngoài giờ Tập đọc
D – TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng các lớp 1, 2, 3, 4.
- 25 -