1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài:
Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Đây
là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng Việt vì
nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, một kĩ
năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc Tiểu học.
Biết đọc ( đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm) giúp các em học
sinh có khả năng tiếp nhận kiến thức lên nhiều lần, giúp học sinh phát triển tư
duy, hình thành các phẩm chất tốt đẹp như: yêu cái thiện, cái đẹp, phê phán cái
xấu, cái ác...Từ đây, các em biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các
mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy; có những rung động tình cảm và nảy nở
nhiều ước mơ tốt đẹp trong cuộc sống,...
Đọc tốt, giúp các em học tốt các môn học khác và sử dụng được nhiều
nguồn thông tin quan trọng, bổ ích, lí thú. Do đó, đọc trở thành một đòi hỏi cơ
bản đầu tiên đối với mỗi học sinh. Có thể khẳng định rằng, đọc là cầu nối của
mọi tri thức, của mọi môn học. Bởi vậy, việc dạy đọc có hiệu quả là một trong
các yêu cầu cần thiết.
Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy ở trường Tiểu học Tân Thành 1, tôi nhận
thấy việc dạy đọc (đặc biệt là phần luyện đọc diễn cảm) bên cạnh những thành
công, còn gặp không ít những khó khăn và hạn chế. Kết quả đọc của các em
chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc. Trong các giờ tập
đọc, hầu như học sinh chỉ mới biết đọc đúng, đọc trơn, số lượng học sinh biết
đọc diễn cảm còn rất ít. Các em chưa quan tâm mình đọc có diễn cảm bài văn,
bài thơ đó không mà chỉ đọc to, đọc nhanh là được…
Mặt khác, các phương pháp hướng dẫn rèn đọc diễn cảm cho học sinh
Tiểu học cũng ít được quan tâm, chưa cụ thể, rõ ràng nên một số giáo viên còn
lúng túng khi hướng dẫn học sinh, còn đặt ra nhiều câu hỏi như: cần đọc bài tập
đọc với giọng như thế nào? Làm thế nào để các em đọc hay, diễn cảm hơn? Khi
đọc diễn cảm một bài văn, bài thơ, một câu chuyện, đọc lời tác giả, lời nhân vật
phải đọc như thế nào? Làm sao để những gì đọc được tác động vào chính cuộc
sống của các em? v.v...Đó cũng là những câu hỏi còn trăn trở của nhiều giáo
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp so sánh đối chứng.
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận :
Ngôn ngữ học đã chỉ rõ những nội dung cụ thể về các vấn đề của ngôn
ngữ chữ viết, chính âm, chính tả, nghĩa của từ, câu, đoạn, ngữ điệu, nhịp điệu,
…Đó là những vấn đề gắn bó với việc dạy và học Tập đọc ở bậc Tiểu học.
Dạy Tập đọc cho học sinh Tiểu học là dạy cho học sinh biết đọc đúng
tiếng, từ, câu, chữ, hiểu nội dung rồi đọc đúng ngữ điệu, nhịp điệu, diễn cảm,
cảm nhận được ý nghĩa tình cảm,có cảm xúc, biết tư duy, tưởng tượng, hình
thành ý thức tốt đẹp trong tâm hồn và có hành động đẹp, nghĩa là học sinh biết
chuẩn ngôn ngữ và biết cảm thụ văn học. Dạy Tập đọc sẽ càng tinh tế, càng sáng
tạo khi ta nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu của ngôn ngữ văn học.
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ của nó là hình thành năng
lực đọc cho học sinh. Năng lực đó được thể hiện ở 4 yêu cầu: Đọc đúng, đọc
nhanh, đọc có ý thức ( đọc hiểu) và đọc hay ( đọc diễn cảm).
Đối với học sinh lớp 5, trên cơ sở kĩ năng đọc đã được rèn luyện ở các lớp
dưới, phân môn Tập đọc tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc một cách đầy
đủ, toàn diện cho học sinh nhằm hoàn thiện yêu cầu cần đạt theo qui định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo là: Đọc rành mạch, bài văn ( khoảng 120 tiếng/ phút);
đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ ngắn; hiểu nội dung, ý nghĩa của bài đọc.
Yêu cầu dạy học về kĩ năng đọc nói trên được thông qua một hệ thống
văn bản gồm 40 bài văn xuôi, 2 vở kịch và 18 bài thơ được dùng để dạy trong
phân môn tập đọc lớp 5. Các em được rèn luyện để có kĩ năng đọc trơn, đọc
thầm với tốc độ nhanh hơn, nâng cao thêm một bước về kĩ năng đọc diễn cảm đã
được luyện tập ở lớp 4 (thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với sự
việc, cảm xúc, tính cách nhân vật trong bài.)
Qua quá trình giảng dạy ở Trường Tiểu học Tân Thành 1, Thường Xuân
và trao đổi với đồng nghiệp tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy
học như sau:
+ Đối với giáo viên:
Ở trường chúng tôi, phân môn Tập đọc là môn học được chú trọng nhiều
trong quá trình dạy học. Giáo viên luôn cố gắng tìm tòi nghiên cứu để giảng dạy
phân môn tập đọc. Tuy nhiên, giáo viên mới chỉ coi trọng một vấn đề đọc thành
tiếng to, rõ, còn phần luyện đọc diễn cảm vẫn chưa được chú trọng đúng mức.
Trong các giờ dạy tập đọc, việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh còn hạn
chế, mang tính chất hình thức. Một số giáo viên chưa cảm nhận được ý tưởng,
cảm xúc để hoà nhịp với tác giả, giúp các em cảm nhận được nội dung bài đọc
qua ngôn từ; đôi khi còn lúng túng khi hướng dẫn học sinh rèn đọc phần luyện
đọc diễn cảm. Có những giờ tập đọc, giáo viên chỉ chú trọng đến việc tìm hiểu
nội dung bài nên số lượng học sinh được đọc trong lớp ít, các em chưa biết lên
giọng, hạ giọng khi nào, nhấn giọng ở những từ ngữ nào...
+ Đối với học sinh:
3
Qua trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh, qua quan sát một số
giờ dạy phân môn Tập đọc của giáo viên, tôi nhận thấy rằng: Khả năng đọc của
học sinh còn thấp, phần lớn các em mới chỉ đạt được ở mức độ đọc trơn, nhiều
em đọc chưa đảm bảo được yêu cầu về tốc độ, âm lượng đọc, chưa ngắt nghỉ hơi
hợp lí, nhấn giọng lên xuống tuỳ tiện và còn đọc sai lỗi chính tả tương đối nhiều.
Số lượng học sinh biết đọc diễn cảm rất ít, thậm chí có lớp không có học sinh
nào, ngay cả ở các lớp 4- 5.
Các em không hiểu được nội dung, không hiểu được nghệ thuật, không
hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm. Bởi vì trình độ học sinh không đồng
đều, chưa nghiên cứu kĩ nội dung bài, chưa cảm nhận được cái hay của bài tập
Đọc lưu loát
SL
TL
6
24%
Đọc diễn cảm
SL
TL
2
8%
+ Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát thực trạng, tôi tiến hành phân tích, thâm nhập thực tế
cuộc sống của các em, đồng thời trao đổi với giáo viên chủ nhiệm năm trước và
tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tồn tại nêu trên là:
- Học sinh lớp tôi chủ yếu các em là người dân tộc thiểu số, nhiều em nói
tiếng kinh còn lớ, các em có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trong đó có 1 em bố
mất sớm, 3 em ở với ông bà ( bố mẹ đi làm ăn xa), bố mẹ các em chủ yếu làm
nghề nông. Một số gia đình chưa thực sự quan tâm tới việc học tập của con cái,
phó mặc mọi việc cho nhà trường. Thời gian học của các em chủ yếu ở trường,
còn ở nhà gần như là không có, nên phần nào đó đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến việc học tập văn hoá của các em (trong đó có phân môn tập đọc phần luyện đọc diễn cảm).
4
- Mặt khác, do ảnh hưởng của cách phát âm theo phương ngữ, thường
phát âm lệch chuẩn viết, nên các em còn đọc sai ở những tiếng có phụ âm ch/tr,
hỏi, tham khảo các tài liệu, kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp và mạnh dạn
đưa ra các biện pháp thực hiện để nâng cao chất lượng dạy học phần luyện đọc
diễn cảm - phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5, tôi đã áp dụng những biện
pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh như sau:
* Biện pháp 1: Đọc mẫu
Để giúp học sinh có thể đọc diễn cảm được một câu, một đoạn hay cả bài
tập đọc trước hết giáo viên ( hoặc một học sinh đọc tốt của lớp) phải đọc mẫu.
Việc đọc mẫu như vậy nhằm giới thiệu, gây cảm xúc, tạo hứng thú và tâm thế
học tập cho học sinh. Việc đọc mẫu của giáo viên( hoặc học sinh) nhằm minh
hoạ, gợi ý hoặc “ tạo tình huống ” cho học sinh nhận xét, tự tìm ra cách đọc.
Ví dụ:
5
Học sinh nghe giáo viên đọc mẫu để phát hiện ra chỗ ngừng nghỉ, ngắt
nhịp, nhấn giọng hay cao giọng, kéo dài giọng ở từ ngữ nào…Mỗi cá nhân có
cảm thụ riêng, từ đó có cách đọc diễn cảm bộc lộ sự sáng tạo của mình.
Muốn học sinh đọc hay, đọc diễn cảm trước hết người giáo viên phải đọc
tốt để thâm nhập, lây truyền tới học sinh nhằm gây hứng thú cho học sinh trong
tiết học. Từ đó, giáo viên thường xuyên rèn luyện giọng đọc của mình, có ý thức
tự điều chỉnh mình đọc đúng, đọc hay hơn, diễn đạt được đúng ý nghĩa và tình
cảm mà tác giả muốn gửi gắm trong bài tập đọc.
* Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ giọng đọc đúng lúc, đúng
chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm nhằm bộc lộ được ý tứ, nội
dung bài đọc:
Sau khi học sinh đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy toàn bài tôi hướng dẫn học sinh
biết ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu và giữa các cụm từ; biết nhấn giọng ở
những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Cụ thể: nghỉ ít hơn ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu
chấm; phải ngắt nghỉ hơi, đọc nhấn giọng một cách tự nhiên, tránh kiểu đọc nhát
vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn
ở công học tập của các em.
( Thư gửi các học sinh – Tiếng Việt 5, tập 1)
Ví dụ 2:
Mùa thu nay/ khác rồi
Tôi đứng vui nghe/ giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre/ phấp phới
Trời thu/ thay áo mới
Trong biếc/ nói cười thiết tha.
Trời xanh đây/ là chúng ta của
Núi rừng đây /là của chúng ta
Những cánh đồng / thơm mát
Những ngả đường / bát ngát
Những dòng sông/ đỏ nặng phù sa.
( Đất nước – Tiếng Việt 5, Tập 2)
* Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh thể hiện nhịp điệu đọc phù hợp với
nội dung bài học:
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ
nghĩa- ngữ pháp còn cần phải dạy cho học sinh đọc đúng tốc độ, ngắt giọng biểu
cảm. Điều này thể hiện ở chỗ: khi đọc cần thay đổi nhịp điệu lúc chậm rãi, lúc
dồn dập khẩn trương; chỗ đọc nhanh hoặc ngừng lâu hơn bình thường, hay chỗ
dừng không do lôgíc ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng
về cảm xúc, nhằm tạo nên những chỗ ngừng “gây bão tố”, tập trung sự chú ý của
người nghe vào những từ ngữ sau chỗ ngừng, những từ ngữ mang trọng âm ngữ
nghĩa.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm bài: Chú đi tuần
( Tiếng Việt 5, tập 2), tôi đã hướng dẫn học sinh không ngắt nhịp cố định mà chỉ
cần ngắt theo cảm xúc,chẳng hạn như:
Chú đi tuần/ đêm nay
Hải Phòng/ yên giấc ngủ say
Khi giảng dạy tôi chú ý đến thể loại văn, thơ, truyện,... và nội dung của
bài học để có phương pháp hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm một cách cụ
thể và chính xác nhất. Giúp học sinh hiểu: đọc chậm quá, nhanh quá hoặc đọc
liến thoáng đều làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng và đầy đủ
nội dung của bài đọc. Âm lượng đọc (độ to nhỏ của giọng đọc) phải phù hợp,
không nhỏ quá hoặc to quá. Vì thế cần hướng dẫn học sinh điều chỉnh âm lượng
đọc ở từng từ ngữ, câu, đoạn, bài cho phù hợp với nội dung bài học và ẩn ý của
tác giả được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ ngôn từ.
Ví dụ :
Nơi cá đối vào đẻ trứng
Nơi tôm rảo đến búng càng
Cần câu uốn cong lưỡi sóng
Thuyền ai lấp loá đêm trăng.
Nơi con tàu chào mặt đất
Còi ngân lên khúc giã tờ
Cửa sông tiễn người ra biển
Mây trắng lành như phong thư.
(Cửa sông – Tiếng Việt 5, tập 2)
* Biện pháp 5: Thể hiện giọng đọc lên cao hay xuống thấp:
Để thực hiện được yêu cầu này, trong giờ tập đọc giáo viên không nên xem
nhẹ khâu nào ( từ đọc đúng- đọc hiểu- đọc diễn cảm ); thực chất cả ba quá trình
đọc này có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng với nhau để đạt đến cái đích
cuối cùng trong một giờ tập đọc.
Tuy vậy, để học sinh có giọng đọc ( ngữ điệu) phù hợp, chính xác cần phải
thực hiện tốt kĩ năng đọc hiểu như: hiểu nghĩa từ, tìm được “từ khoá”, “câu
khoá” trong bài, tóm tắt được nội dung của đoạn, bài; phát hiện ra những yếu tố
văn và giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cần chú ý đến các biện
8
Cán bộ: - ( Buông đũa đứng dậy) Vợ tôi...
Lính:
- Ngồi xuống! (Chĩa súng vào chú cán bộ) Rục rịch tao bắn.
Dì Năm: - Trời ơi! Tui có tội tình chi?
Cai:
- (Dỗ dành) Nếu chị nói thiệt, tôi thưởng. Bằng chị nhận anh này
là chồng, tôi bắn chị tức thì, đốt luôn cái nhà này nữa.
Dì Năm: - Mấy cậu ...để tui...
Cai:
- Có thế chớ! Nào, nói lẹ đi!
Dì Năm: - ( Nghẹn ngào) An...( An “dạ”). Mầy qua bà Mười...dắt con heo
về..., rồi đội luôn năm giạ lúa. Rồi...cha con ráng đùm bọc lấy nhau.
( Lòng dân – Tiếng Việt 5, tập 1)
Khi đọc đoạn này cần hướng dẫn học sinh thể hiện đúng thái độ, tình cảm,
lời nói của nhân vật và lời chú thích về thái độ, hành động của nhân vật trong
tình huống kịch:
+ Giọng cai và lính : hống hách, xấc xược; giọng hí hửng ở câu “ Có thế
chớ! Nào, nói lẹ đi!”
9
+ Giọng dì Năm và chú cán bộ ở đoạn đầu: tự nhiên, ở đoạn sau dì Năm
khéo giả vờ than vãn khi bị trói, nghẹn ngào nói lời trăng trối với con khi bị doạ
bắn chết.
+ Giọng An : giọng một đứa trẻ đang khóc. ( An tham gia rất tự nhiên vào
vở kịch do má em dàn dựng. trong tình huống nguy hiểm, em khóc vì thực sự lo
cho má).
Ví dụ 2 :
Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của tên sĩ quan, ông già nói tiếp:
loại văn:
+ Luyện đọc văn miêu tả và các bài văn xuôi:
Văn miêu tả là loại văn dùng để tả sự vật, hiện tượng hoặc con người một
cách cụ thể, sinh động như đang hiện lên trước mắt người đọc. Trong các bài tập
10
đọc ở lớp 5 có nhiều bài thuộc văn miêu tả như: Quang cảnh làng mạc ngày
mùa; Kì diệu rừng xanh; Đất Cà Mau, Phong cảnh Đền Hùng,….
Khi đọc văn miêu tả cần đọc nhấn giọng ở các từ ngữ nổi bật có tác dụng
miêu tả đường nét, màu sắc, hình ảnh, đặc điểm của sự vật. Trong văn miêu tả
(cũng như văn xuôi nói chung) dấu phẩy, dấu chấm chính là những dấu ngắt
nhịp khi đọc. Dấu phẩy ngắt một nhịp (/), dấu chấm ngắt hai nhịp (// ). Ngoài ra
trong câu có những vị trí tuy không có dấu câu song vẫn phải ngắt nhịp để ý
nghĩa đọc lên rành mạch hơn.
Ví dụ: “Tối đó,/ bố về.// Bố ôm Mơ chặt đến ngợp thở.// Cả bố và mẹ đều
rơm rớm nước mắt. //Chỉ có em bé nằm trong nôi là cười rất tươi.// Chắc là
em khen chị Mơ giỏi đấy.// Dì Hạnh nói/ giọng đầy tự hào: //“ Biết cháu tôi
chưa?/ Con gái như nó/ thì một trăm đứa con trai cũng không bằng.”//
(Con gái – Tiếng Việt 5, tập 2)
+ Luyện đọc thơ :
Ngoài các yêu cầu về kĩ thuật đọc đã được trình bày ở trên, thì cần chú ý đến
một số đặc trưng riêng của thơ ca như sau: Thơ ca là tiếng nói của tình cảm,
phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn từ một cách cô đọng, súc tích, giàu
hình ảnh và giàu nhạc điệu.
Thơ ca có cấu trúc âm thanh, vần điệu tương đối chặt chẽ, theo một số quy
tắc riêng tạo thành các thể thơ như: thơ lục bát, thơ song thất lục bát, thơ tự do,...
vì thế khi giảng dạy giáo viên cần nắm vững các thể thơ, để phân định rõ ranh
giới các nhịp thơ trong một bài thơ cụ thể. Ngắt một nhịp ( / ), ngắt 2 nhịp ( // ),
nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng
lực đọc được tạo nên từ 4 kĩ năng bộ phận cũng là 4 yêu cầu về chất lượng của
“đọc” đó là: đọc đúng, đọc nhanh ( đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức ( thông
hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc
hay( mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm). Cũng cần phải hiểu kĩ năng đọc có
nhiều mức độ khác nhau, nhiều tầng bậc khác nhau.
( Sách, Các phương pháp dạy học Tiếng Việt của GS.TS. Lê Thị Phương
Nga. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm).
2.4. Hiệu quả sau khi áp dụng kinh nghiệm “ Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho
học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Tân Thành 1, Thường Xuân”:
Sau một thời gian ( từ đầu tháng 10 năm 2016 đến cuối tháng 3 năm 2017)
áp dụng “ Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 tại
trường Tiểu học Tân Thành1, Thường Xuân” như đã trình bày ở trên, tôi nhận
thấy hiệu quả giờ dạy được nâng lên rõ rệt. Học sinh hứng thú học tập, hoạt
động tích cực hơn. Các em mạnh dạn, tự tin hơn khi đọc bài. Số em đọc còn sai
lỗi giảm, số học sinh đọc lưu loát, đọc diễn cảm được nâng lên rõ rệt. kết quả
thực hiện được thể hiện ở bảng sau:
Tổng Thời điểm
số
đánh giá
HS
25
Đầu tháng
10/ 2016
25 Cuối tháng
3/ 2017
Đọc còn sai
lỗi
SL
2
8%
2
8%
3
12%
8
32%
12
48%
Việc đánh giá mức độ đọc diễn cảm nêu trên ( Bảng số liệu) là kết quả
cộng hưởng của cả ba quá trình rèn đọc ở học sinh: Đọc đúng- nhanh, đọc hiểu
và đọc diễn cảm. Bởi cả ba quá trình này có sự tác động tương hỗ với nhau,
không thể tách rời, đó là quá trình chuyển từ thấp đến cao về “chất” trong một
giờ tập đọc. Chính vì vậy, việc đánh giá khả năng đọc diễn cảm của các em
không thể tách rời các kĩ năng bộ phận trên.
So sánh kết quả học tập của học sinh như trên tôi nhận thấy rằng: Việc áp
dụng một số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 đã
mang lại cho tôi một kết quả khả quan - khả năng đọc (đặc biệt là đọc diễn cảm)
- Biết nắm vững và phối hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp, hình thức
dạy học tích cực để giờ dạy có hiệu quả thiết thực (phương pháp đặc trưng của
môn học, bài học, phần học là gì?. Hình thức dạy học nào có hiệu quả nhất? Nên
sử dụng vào lúc nào?...).
- Để học sinh học tốt phần luyện đọc diễn cảm trong một giờ tập đọc, giáo
viên phải hướng dẫn học sinh luyện đọc tốt phần đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu
loát, trôi chảy) và phần đọc có ý thức (đọc hiểu).
- Soạn bài kĩ, lượng hoá cụ thể từng nhiệm vụ của từng phần học; từ, ngữ,
câu, đoạn nào trong bài cần được đọc diễn cảm: thời gian từng phần học là bao
nhiêu, dùng phương pháp và hình thức dạy học nào cho thích hợp với từng thể
loại văn, thơ, truyện...
- Tổ chức phối hợp các hình thức luyện đọc diễn cảm phong phú, đa dạng tạo
được sự thi đua học tập ở học sinh.
- Sử dụng đầy đủ, chính xác, hợp lý, mô phạm các đồ dùng trực quan để bổ
trợ tốt cho phần tập đọc. Quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong lớp,
tạo cho các em một tâm thế tốt, một niềm tin vào việc học, không ngại khó trong
học tập.
+ Đối với học sinh:
Để rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm đạt kết quả tốt học sinh cần phải:
- Cần học bài trước ở nhà theo hướng dẫn của giáo viên (chú trọng phần đọc
đúng, đọc nhanh).
13
- Phải có đồ dùng dạy học đầy đủ, đặc biệt là bút chì dùng để gạch chân nhẹ
những chỗ cần đọc đúng, cần nhấn giọng và đánh dấu nhịp thơ, câu văn cần đọc
diễn cảm theo hướng dẫn của giáo viên.
- Biết cách phối hợp cùng nhau trong giờ học (học nhóm), để bổ trợ cho
nhau trong quá trình học tập chiếm lĩnh kiến thức mới.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác
Nguyễn Thị Hà
14
MỤC LỤC
Phần
Nội dung
Trang
1.
Mở đầu
1
1.1
Lí do chọn đề tài
1
1.2
5
2.4
Các biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5.
Hiệu quả sau khi áp dụng kinh nghiệm “ Rèn kĩ năng đọc
diễn cảm cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Tân Thành 1
12
3.
Kết luận, kiến nghị
12
- Kết luận
12
- Kiến nghị
14
2.2
2.3
3
15
16
17
Các giải pháp, biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5
- Các giải pháp thực hiện:
Đứng trước thực trạng đó, tôi luôn luôn trăn trở, không ngừng tìm tòi,
học hỏi, tham khảo các tài liệu, kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp và mạnh
dạn đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả đọc diễn cảm cho
học sinh lớp 5 như sau:
+ Nắm bắt khả năng đọc của từng học sinh, cũng như hoàn cảnh gia
đình của từng học sinh để có biện pháp phối hợp trong quá trình dạy học:
Việc biết được khả năng đọc của từng học sinh, thường xuyên liên lạc,
trao đổi với phụ huynh học sinh về kết quả học tập của các em giúp giáo viên có
được thông tin ngược để điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp và có hiệu
quả hơn. Đồng thời, biết thông cảm và chia sẻ với những học sinh có hoàn cảnh
khó khăn, giúp các em xoá bỏ được mặc cảm và biết vươn lên trong học tập.
+ Giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, mạnh dạn đổi mới
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với từng đối tượng
học sinh.
Trước khi lên lớp, giáo viên phải đọc bài nhiều lần để đọc mẫu chuẩn cho
học sinh và hiểu thấu đáo nội dung bài đọc.
Căn cứ vào đối tượng học sinh của lớp mình, giáo viên phải lường trước
các từ khó, các từ phát âm dễ lẫn để hướng dẫn cho học sinh khi đọc(những
tiếng khó, những chỗ ngắt nhịp ở các câu dài, những từ ngữ cần nhấn giọng ...).
Đồng thời sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học thích hợp nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động luyện đọc.