1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Tập đọc là phân môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chương trình Tiếng
Việt ở Tiểu học. Dạy tốt phân môn này không những rèn luyện cho học sinh kỹ
năng đọc mà còn phát triển cho các em vốn từ ngữ phong phú, tạo điều kiện để
các em học tốt các phân môn khác. Rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh như:
đọc đúng, đọc nhanh, đọc chính xác, rõ ràng, rành mạch, diễn cảm để học sinh
có những hiểu biết về kiến thức văn học, về ngôn ngữ và ngược lại khi hiểu
được những văn bản đọc sẽ giúp học sinh hiểu được đọc diễn cảm. Vì vậy giữa
việc đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là hai quá trình có liên quan gắn bó
mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được văn hoá của dân tộc,
tiếp thu được nền văn minh của loài người thông qua sách vở. Qua việc đọc, học
sinh biết đánh giá cuộc sống xã hội, tư duy. Cũng qua hoạt động đọc, tình cảm,
thẩm mỹ của các em được nâng lên cao, tầm hiểu biết của các em nhìn ra thế
giới xung quanh và quá trình nhận thức cũng có chiều sâu hơn. Tập đọc là phân
môn mang tính chất “tổng hợp” để học tốt các môn học khác vì ngoài nhiệm vụ
dạy đọc cho học sinh, nó còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt cho
học sinh (phát âm, từ ngữ, câu văn, đoạn văn... ), kiến thức bước đầu về văn học
(văn xuôi, văn vần, nhân vật ...), kiến thức về đời sống, về giáo dục tình cảm, thể
chất, thẩm mĩ. Sự phát triển nhiều mặt này tạo điều kiện để trẻ phát huy được
mọi khả năng tiềm tàng, từ đó tạo cơ hội để sau này trẻ giúp ích cho xã hội.
Phân môn Tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng đặt ra một nhiệm
vụ quan trọng: đọc rành mạch, lưu loát bài văn, đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ
ngắn, hiểu nội dung, ý nghĩa bài đọc. Thông qua các bài văn, bài thơ, học sinh
càng thêm yêu các miền quê của đất nước, đồng cảm với mọi tầng lớp nhân dân,
mọi con người trên đất nước Việt Nam cũng như trên thế giới, biết quý trọng,
giữ gìn những truyền thống quý báu của dân tộc ta.
Trong quá trình dạy tập đọc lớp 4, tôi nhận thấy chất lượng đọc diễn cảm
của học sinh lớp 4 nói chung và của lớp tôi nói riêng còn yếu. Đặc biệt ngày nay
xã hội ta ngày càng phát triển thì nhu cầu đồi hỏi về tri thức con người ngày
càng cao, trong đó ngôn ngữ nói và viết là vô cùng cần thiết cho mỗi người. Mỗi
là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc tạo nên từ bốn kĩ năng bộ
phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát
trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay
còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay (mức độ cao hơn là đọc diễn cảm ).
Bốn kĩ năng của đọc được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành
tiếng và đọc thầm. Các kĩ năng này được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ nhau. Sự
hoàn thiện kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác. Ví dụ:
đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn
bản. Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và
diễn cảm được. Cũng như khó mà nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho
kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc đúng.
Vì vậy, trong dạy đọc, không thể xem nhẹ hay tách rời bất kì một kĩ năng nào.
Hơn nữa, nhiệm vụ của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành
phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở
thành một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường, đó là một trong những điều kiện
để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách khác, thông qua
việc dạy đọc phải làm cho học sinh thích đọc và thấy được khả năng đọc có ích
lợi cho các em suốt cả cuộc đời. Phải làm cho học sinh thấy đó là một trong
những con đường ngắn nhất để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và
phát triển .
Vì việc đọc không thể tách rời những nội dung được đọc nên bên cạnh
nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có
nhiệm vụ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho
học sinh. Qua phân môn Tập đọc các em được tiếp xúc với những áng văn, áng
thơ hay được chọn lọc dạy trong chương trình. Học sinh được tiếp xúc với thế
giới muôn hình, muôn vẻ xung quanh nghệ thuật ngôn từ. Từ đó, làm cho học
sinh cảm nhận được vẻ tinh túy của thế giới đó bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, bồi
dưỡng tâm hồn các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ
một cách lôgic cũng như biết có tư duy hình ảnh... Dạy đọc không chỉ giáo dục
tư tưởng, đạo đức mà còn giáo dục tính cách, thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh .
em còn thiếu tự tin trong giao tiếp, rụt rè, nhút nhát. Chính vì những khó khăn
hạn chế trên nên chất lượng đọc diễn cảm học sinh lớp 4 chưa đạt kết quả như
mong muốn.
Năm học 2018 - 2019, tôi được phân công dạy lớp 4D. Nắm được tầm quan
trọng của việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm, được sự hướng dẫn, giúp đỡ của Ban
giám hiệu nhà trường, ngay từ ngày đầu năm học, khi mới nhận lớp tôi đã tiến
hành khảo sát, phân loại đối tượng học sinh để có biện pháp khắc phục. Kết quả
khảo sát chất lượng đầu năm như sau:
Đọc ê-a, phát
Lầ
Đọc đúng, Đọc to, rõ ràng,
Đọc diễn
Sĩ số
âm sai
n
chậm
hiểu nội dung bài
cảm
1
44 em
15 em
14 em
12 em
3em
Qua việc kiểm tra kĩ năng đọc của từng học sinh, tôi nắm bắt được tình hình
đọc của lớp mình. Tôi nhận thấy phần đa học sinh đọc mắc lỗi phổ biến như :
Phát âm sai ở những tiếng có âm đầu: r, s, tr, những tiếng có nguyên âm iê, uô,
những tiếng có thanh hỏi, thanh ngã. Những em đọc lưu loát thì đọc liến thoắng,
ngắt nghỉ câu tuỳ tiện theo thói quen, không thể hiện được cái hay của văn bản.
giọng đọc phù hợp để diễn tả được trọn vẹn những cảm nhận về bài đọc. Để có
giọng đọc hay, tôi thường lắng nghe và học hỏi cách phát âm, cách đọc, cách nói
của các phát thanh viên đài truyền hình và đọc theo. Tôi sử dụng máy ghi âm ghi
lại giọng đọc của mình, điều này giúp tôi phát hiện các nhược điểm để tự mình
điểu chỉnh giọng đọc ngày càng hay hơn. Với những cách này, tôi thấy giọng
đọc của mình ngày càng tiến bộ, không chỉ đọc đúng chuẩn giọng phổ thông mà
còn hay và diễn cảm hơn. Giọng đọc của giáo viên diễn cảm sẽ cuốn hút học
sinh cùng hòa mình vào tác phẩm văn học để thấy được tâm tư, tình cảm của tác
giả gửi gắm trong bài đọc.
Bên cạnh đó, giáo viên cần tìm hiểu kĩ nội dung, chương trình sách giáo
khoa, sách hướng dẫn, nắm vững nội dung bài, hiểu rõ ý đồ của người biên soạn
để chủ động, sáng tạo, ứng xử linh hoạt với từng đối tượng học sinh. Tôi giới
thiệu cấu tạo chương trình môn Tập đọc đề các em nắm được các chủ điểm
chính trong từng học kì và cả năm học. Đồng thời nêu tầm quan trọng, yêu cầu
cơ bản về việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm giúp các em cảm thụ bài văn, bài thơ
theo từng chủ điểm. Hướng dẫn mỗi em có một quyển sổ để ghi những câu,
những đoạn, bài văn, bài thơ hay, có giá trị về nội dung và nghệ thuật.
4
Ngoài ra, giáo viên phải dự tính được các lỗi mà học sinh lớp mình
thường mắc phải để có biện pháp sửa chữa kịp thời, khéo léo, tạo bầu không khí
sôi nổi, kích thích hứng thú học tập và nâng cao tính tự giác, chủ động của học
sinh.
b) Chuẩn bị tâm thế đọc cho học sinh.
Để luyện đọc cho học sinh có hiệu quả trước tiên tôi giúp học sinh chuẩn bị
tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc, học sinh phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt
đến sách khoảng 30- 35cm, cổ và đầu thẳng, thở chậm, sâu để lấy hơi. Khi đứng
lên đọc phải bình tĩnh, tự tin đứng dậy không hấp tấp đọc ngay để có thời gian
mẫu, biện pháp cấu âm, biện pháp luyện âm đúng qua âm trung gian. Tùy thuộc
vào âm, thanh sai lạc, tùy thuộc vào học sinh mà giáo viên lựa chọn biện pháp
thích hợp hoặc phối kết hợp nhiều biện pháp cùng một lúc. Vì thế, tôi đã hướng
dẫn các em đọc đúng như sau:
Để luyện đọc đúng cho học sinh có hiệu quả, trước khi lên lớp, tôi thường
đọc kỹ bài đọc, dự tính các lỗi học sinh hay mắc và phương án sửa lỗi, ưu tiên
5
đối với các tiếng, từ khó, tôi giúp học sinh phân tích cấu tạo tiếng, tìm ra lỗi học
sinh phát âm sai ở âm hay vần, thanh… Tôi đọc mẫu các tiếng, từ này cho học
sinh đọc theo. Nếu học sinh vẫn đọc sai, tôi mô phỏng cách phát âm.
Ví dụ:
- Đọc đúng các phụ âm: r, s: Uốn đầu lưỡi về phía vòm hơi thoát ra rất mạnh.
Gặp tiếng có âm tr: Đầu lưỡi uốn chạm vào vòm cứng, bật ra. Nếu đọc những
tiếng có âm đầu lưỡi cong lên chạm lợi, hơi đi ra phía hai bên rìa lưỡi xát khe…
- Khi đọc các tiếng có thanh hỏi, thanh ngã thì phải thì cần qua các bước sau:
+ Đầu tiên chắp các tiếng có cùng thanh, cùng vần với tên gọi thanh, ví dụ:
Thanh hỏi: sỏi, thỏi, gỏi
Thanh ngã: bã, đã, giã
+ Sau đó, chắp tiếng cùng thanh, cùng loại âm tiết với tên gọi thanh
Thanh hỏi: thảo, phải, kẻo (âm tiết nửa mở)
Thanh ngã: ngõ, khẽ, cũ (âm tiết mở)
+ Cuối cùng, chắp bất kì âm đầu, các vần với các thanh.
Ví dụ: tiếng “cười” phần lớn các em đọc là “cừi”, hướng dẫn cho các em
cách phát âm “cười”, có nguyên âm đôi “ươ” khi đọc đến nguyên âm đôi chúng
ta cần chú ý đọc lướt từ ư sang ơ, không đọc nhấn mạnh ở “ư” hay “ơ”. Nếu đọc
nhấn mạnh ở “ư” thì tiếng đó sẽ đọc thành “cừi”. Giáo viên đọc mẫu cho học
sinh đọc theo.
Sau khi phân tích và mô phỏng cách phát âm tôi thấy học sinh phát âm chính
tộc, của thế hệ trẻ “và anh mong ước,…”
Với bài thơ, học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa mà chỉ
đọc theo áp lực của nhạc thơ một cách tự nhiên, nếu không được lưu ý về nghĩa
mà chỉ đọc theo áp lực nghĩa, học sinh sẽ ngắt nhịp tạo ra sự cân đối về mặt âm
thanh đọc từng câu thơ. Với thơ 4 tiếng, các em sẽ ngắt nhịp 2/2, với thơ 5 tiếng,
các em sẽ ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2, với thơ 7 tiếng các em sẽ ngắt nhịp 3/4, 4/3
hoặc 2/2/3, thơ lục bát sẽ được ngắt theo nhịp chẵn 2/2/2. Có những bài thơ ngắt
nhịp không theo các quy luật trên. Các em sẽ mắc lỗi ngắt nhịp do áp lực của
nhạc thơ.
Ví dụ: Bài “Truyện cổ nước mình” (Tiếng Việt 4, tập1, trang 19) Các em ngắt
nhịp sai ở các câu như:
- Vừa nhân hậu lại/tuyệt vời sâu xa.
- Con sông/chảy có rặng dừa nghiêng soi.
Gặp những trường hợp này, tôi phải kiên trì hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp
đúng theo nghĩa của từ, của câu như sau:
- Vừa nhân hậu/lại tuyệt vời sâu xa.
- Con sông chảy/có rặng dừa nghiêng soi.
Trong các giờ Tập đọc, tôi đều để học sinh tự tìm nhịp ngắt của các câu
thơ, câu văn dài. Nếu gặp những câu khó, tôi để các em đọc tốt đọc mẫu hoặc tôi
đọc mẫu cho học sinh nghe và học sinh tự phát hiện chỗ ngắt nghỉ đúng trong
các câu này. Sau đó học sinh đọc cá nhân. Cuối cùng mới luyện đọc hoàn chỉnh
đoạn, cả bài.
a. Đọc đúng kiểu câu
Đối với học sinh đọc lên xuống giọng tùy tiện, để khắc phục, tôi phải
hướng dẫn thật tốt cách đọc các kiểu câu:
Câu kể ở cuối câu có dấu chấm, khi đọc thường phải xuống giọng ở cuối câu.
Câu hỏi ở cuối câu có dấu chấm hỏi, khi đọc ta phải lên giọng ở cuối câu.
Câu kể có dấu chấm lửng khi đọc phải kéo dài giọng.
Câu cảm, cầu cầu khiến ở cuối câu có dấu chấm than khi đọc cần phải lên
giọng ở cuối câu.
d) Đọc đúng tốc độ (còn gọi là lưu loát trôi chảy )
Trên cơ sở học sinh đã đọc đúng. Tôi chuyển sang yêu cầu học sinh đọc
nhanh. Đọc nhanh không có nghĩa là đọc liến thoắng, đọc để cho người nghe kịp
hiểu được. Có những học sinh nhầm tưởng đọc càng nhanh càng giỏi nên đọc
quá nhanh, không ai kịp hiểu. Nhìn chung, trình độ của học sinh tiểu học còn
thấp, do đó, tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với
tốc độ của lời nói.
Tôi đã hướng dẫn học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu để học
sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị của đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn bài. Tôi
luôn theo dõi tốc độ của học sinh và biết giữ nhịp đọc, điều chỉnh bằng lệnh.
Xác định tốc độ đọc bằng cách đếm số tiếng trong bài dự tính thời gian đọc trong
bao lâu.
Chú ý tốc độ đọc còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc và thể loại văn
bản. Những bài có nội dung khó hiểu cần đọc chậm hơn những bài có nội dung
đơn giản. Thơ cần đọc chậm hơn các văn bản văn xuôi.
2.3.3. Khai thác giọng đọc của học sinh thông qua tìm hiểu nội dung bài
Như trong phần trên đã nói, việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm chỉ được tiến
hành khi học sinh đã hiểu thấu đáo bài đọc, tức là đã làm tốt đọc hiểu. Mục đích
đọc diễn cảm là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn
truyền đạt đúng ý nghĩa và tình cảm của tác giả gửi gắm trong bài đọc. Muốn
đọc diễn cảm tốt phải hiểu rõ nội dung của bài Tập đọc và phải truyền đạt tốt sự
hiểu biết của mình tới người nghe. Vì thế, khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài
giáo viên cần lưu ý:
- Bám sát yêu cầu của bài Tập đọc (xác định khi soạn bài). Bám sát yêu cầu
của bài Tập đọc song các yêu cầu ấy phải được toát ra từ bản thân bài Tập đọc
và giáo viên phải vận dụng vào thực tế lớp mình giảng dạy thì việc bám sát yêu
cầu của bài Tập đọc mới thực sự hiệu quả.
8
được cách đọc phù hợp với đoạn, với bài.
2.3.4. Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm
Sau khi học sinh đã đọc đúng, đọc lưu loát, hiểu nội dung của bài tập đọc,
tôi tiến hành luyện đọc diễn cảm cho các em. Đây là giai đoạn quyết định để đạt
yêu cầu cuối cùng của kĩ năng đọc văn đối với học sinh lớp 4. Đọc diễn cảm là
hình thức đọc có tính đặc thù với quan niệm nhằm mục đích rèn kĩ năng đọc và
kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh. Đây vừa là hoạt động nhận tin, vừa là
hoạt động phát tin. Người đọc trở thành môi giới nối liền tác phẩm với người
nghe.
Vì vậy, khi hướng dẫn đọc diễn cảm trước tiên tôi hướng dẫn học sinh xác
định đúng kiểu văn bản để xác định giọng đọc chung của bài: Giọng đọc một
văn bản công vụ, hành chính, một mẫu tin khác với giọng đọc một văn bản nghệ
thuật. Khi đọc các văn bản nghệ thuật khác với giọng đọc truyện, khác với giọng
đọc kịch, đọc thơ. Giọng đọc một văn bản miêu tả khác giọng đọc một bài văn
tường thuật… Như vậy, đọc diễn cảm là việc đọc thể hiện kĩ năng làm chủ ngữ
9
điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong văn bản được
đọc. Do đó, khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, giáo viên phải chú ý hướng
dẫn học sinh:
* Chọn ngữ điệu đọc thích hợp:
Để học sinh thể hiện được đúng ngữ điệu đọc, tôi luôn chú ý bồi dưỡng
học sinh cách thể hiện các loại câu ngay từ khi học phân môn Luyện từ và câu.
Ví dụ: Khi đọc câu hỏi thì nhấn giọng và hơi cao giọng ở từ dùng để hỏi
“Mẹ ơi con tuổi gì?” (Tuổi ngựa - TV4 tập 1 trang 149). Khi đọc câu kể thì
giọng đọc chậm rãi, câu cảm, câu cầu khiến thì thể hiện theo từng cảm xúc của
tác giả (vui, buồn, giận dữ, hài ước,…).
Ví dụ: Câu: “Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao!”(Con
chuồn chuồn nước- TV4, tập 2, trang 127). Đây là câu kể, thể hiện thái độ ngạc
tay xuống bàn quát Bác sĩ Ly)
Bác sĩ điềm tĩnh hỏi :
10
- Anh bảo tôi phải không?(giọng tự tin, điềm tĩnh nhưng hết sức nghiêm
nghị).
Khi tên chúa tàu cục cằn bảo “phải”, bác sĩ nói :
- Anh cứ uống rượu mãi như thế thì đến phải tống anh đi nơi khác .
Cơn giận của tên cướp thật dữ dội. Hắn đứng phắt dậy, rút soạt dao ra, lăm lăm
chực đâm. Bác sĩ Ly vẫn dõng dạc và quả quyết :
- Nếu anh không cất dao, tôi quyết làm cho anh bị treo cổ trong phiên tòa
sắp tới. (giọng đọc bình tĩnh, cương quyết bảo vệ lẽ phải)
(Với những văn bản truyện tôi cho học sinh phân vai để làm sống lại nhân
vật của tác phẩm).
Mặt khác, khi đọc diễn cảm, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng
(ngắt giọng biểu cảm), làm chủ được tốc độ đọc (độ nhanh, chậm, chỗ ngân hay
dãn nhịp đọc), làm chủ được cường độ đọc, (đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay lơi
giọng) và làm chủ cao độ (độ cao của giọng, lên giọng hay hạ giọng). Vì vậy, ở
tiểu học khi dạy đọc diễn cảm giáo viên cần phải lưu ý một số kĩ thuật sau:
* Ngắt giọng biểu cảm (còn gọi là ngắt giọng tâm lý: ngắt giọng dù
không có dấu câu với ý gây ấn tượng). Nếu ngắt giọng lôgíc thiên về trí tuệ thì
ngắt giọng biểu cảm thiên về cảm xúc. Ngắt giọng biểu cảm là những chỗ
ngừng, chỗ lắng, sự im lặng có tác dụng “gây bão tố”, tập trung sự chú ý của
người nghe vào sau chỗ ngừng góp phần tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao. Đây là
sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật.
Ví dụ: Trong câu thơ: “ Mẹ/ là đất nước tháng ngày của con".//
(Mẹ ốm- Tiếng Việt 4, tập 1, trang 9)
Từ việc học sinh hiểu rõ qua bài thơ tác giả muốn nói lên niềm tự hào, lòng
biết ơn và tình cảm sâu sắc của tác giả đối với mẹ và mẹ có vai trò đặc biệt đối
hào.
Hay trong bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ.” (Tiếng
Việt 4, tập 2, trang 48 ), khi đọc khổ thơ:
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
Khi đọc không ngắt bằng những phách mạnh mà dùng trường độ: hơi kéo
dài giọng để tạo đường ranh giới ngắt nhịp, đồng thời phải đọc với giọng nhẹ
nhàng tha thiết như lời ru. Đặc biệt khi hướng dẫn học sinh làm chủ tốc độ,
cường độ, cao độ phải chú ý một số kĩ thuật.
* Cách lơi giọng: Kỹ thuật lơi giọng khi đọc diễn cảm tạo cho người
nghe sự hứng thú, ấn tượng và làm người nghe cảm nhận được sâu sắc giá trị
nghệ thuật của văn bản. Nó thường xuất hiện cuối ngữ đoạn có nghĩa lời nói
chưa kết thúc, còn bỏ lửng.
Ví dụ: Khi đọc bài “Cánh diều tuổi thơ” (Tiếng Việt lớp 4, tập 1, trang
146). Ở đoạn cuối của bài thơ tôi gợi ý cho học sinh thử tìm cách đọc để thể hiện
được ước mơ, những khát khao của em nhỏ được gửi gắm trong cánh diều, để
âm hưởng của bài văn còn đọng mãi trong tâm trí người đọc, người nghe. Từ gợi
ý trên học sinh đã thể hiện rất tốt cách đọc như sau:
“Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn/ để chờ đợi một nàng tiên áo xanh
bay xuống từ trời/ và bao giờ cũng hy vọng khi tha thiết cầu xin: // "Bay đi
...diều ơi// Bay đi..."
Hay trong bài “ Tre Việt Nam” (Tiếng Việt 4, tập 1, trang 41) Kĩ thuật lơi
giọng xuất hiện ở sau“ chuyện ngày xưa”
Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh.
con mắt/ long lanh như thuỷ tinh. Thân chú/ nhỏ và thon vàng như màu vàng
của nắng mùa thu. Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả dài trên mặt hồ.
Bốn cánh /khẽ rung rung như đang còn phân vân.”
Ngoài ra, để hấp dẫn người nghe cũng như đem lại cho người nghe cảm
xúc chân thật nhất, tôi đã hướng dẫn các em cách hóa thân vào nhân vật bằng
điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt:
*Cách thể hiện điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt: Tư thế, nét mặt, cử chỉ, ánh
mắt là những biểu hiện bên ngoài của người đọc có tác dụng bổ sung cho ngữ
điệu đọc diễn cảm. Nét mặt phải thể hiện được thái độ của người đọc đối với nội
dung của tác phẩm một cách tự nhiên. Đọc một câu chuyện vui nét mặt phải tươi
sáng. Đọc một câu chuyện buồn nét mặt cũng biểu lộ sự đồng cảm. Ngoài ra
việc thể hiện ánh mắt điệu bộ cử chỉ cũng làm tăng thêm sự giao cảm giữa người
đọc với người nghe:
Ví dụ: Khi đọc bài “Người ăn xin” (Tiếng Việt 4- Tập 1, trang 30). Người
đọc phải thể hiện nét mặt buồn, ánh mắt đồng cảm khi đọc đến đoạn miêu tả sự
đau khổ, đáng thương của ông lão ăn xin. “Đôi mắt ông lão đỏ dọc và giàn giụa.
Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại. Chao ôi! cảnh nghèo đói đã gặm nát
con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!”
Mặt khác, khi luyện đọc diễn cảm, tôi cho học sinh nhận xét giọng đọc của
bạn, giải thích vì sao đọc như thế là hay, như thế là chưa hay, cho học sinh tìm ra
giọng đọc đúng, hay nhất và đọc lại cho cả lớp cùng nghe. Cứ như vậy dần dần
học sinh của lớp tôi đã đọc tốt hơn.
Luyện đọc diễn cảm yêu cầu phải có thời gian thực hiện luyện tập lâu dài,
kiên trì. Vì thế tôi đã hết sức khéo léo lồng ghép luyện đọc diễn cảm vào từng
13
bước lên lớp trong giờ Tập đọc chứ không phải chỉ luyện đọc diễn cảm ở phần
đọc diễn cảm. Tôi chú ý lồng ghép đọc diễn cảm vào các phần khác mà không
làm đứt mạch gián đoạn bước lên lớp. Chỉ lồng ghép khi có điều kiện thuận lợi
3em
5 em
22 em
14 em
Giảm
12 em
Giảm
9 em
Tăng
10 em
Tăng
11 em
Đối chiếu kết quả điều tra thực trạng. Tôi thấy chất lượng đọc tăng lên rõ rệt:
- Đọc diễn cảm: tăng từ 3 lên 14 học sinh.
- Đọc trôi chảy, hiểu nội dung bài: tăng từ 12 lên 22 học sinh.
Tôi thấy mình đã tìm đúng hướng và cách dạy đúng đặc trưng bộ môn.
Các em học sinh rất hứng thú trong giờ tập đọc. Đa số các em đều đọc đúng, đọc
to, rõ ràng; nắm được nội dung của bài đọc. Bước đầu các em biết đọc diễn cảm
ở tất cả các bài Tập đọc.
Các văn bản nghệ thuật được nhiều em đọc hay, hấp dẫn. Các em biết
mạnh dạn hơn, biết tìm giọng đọc đúng ngữ điệu, sắc thái, lời nhân vật. Biết
quyết định. Lòng nhiệt tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy, kiên trì không nóng vội,
quan tâm đến học sinh bằng tình cảm của người mẹ, người chị cộng với sự cần
cù của học sinh...sẽ làm cho giờ dạy đạt hiệu quả.
3.2 . Kiến nghị
Qua quá trình thực hiện và bước đầu thu được kết quả khả quan, tôi có
một số đề xuất như sau:
- Đối với giáo viên:
+ Không ngừng trao đổi, học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp thông qua
hội thảo tổ, nhóm để tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhất nhằm nâng cao chất
lượng đọc diễn cảm cho học sinh.
+ Tích cực tham gia các cuộc thi do nhà trường và Phòng Giáo dục tổ
chức.
- Đối với nhà trường:
+ Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên thông qua
dự giờ rút kinh nghiệm hoặc tổ chức các cuộc thi ngâm thơ, kể chuyện, đọc hay,
viết đẹp.
- Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:
+ Mở các lớp chuyên đề bồi dưỡng phương pháp dạy học của từng phân
môn đặc biệt là phân môn Tập đọc để giáo viên các trường có thể giao lưu học
hỏi lẫn nhau.
+ Đề nghị Hội đồng khoa học của ngành phổ biến những kinh nghiệm
giảng dạy có chất lượng để giáo viên học tập kinh nghiệm giảng dạy của đồng
nghiệp.
Qua quá trình nghiên cứu, tích lũy và đúc kết kinh nghiệm trong quá trình
giảng dạy tôi viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc
diễn cảm cho học sinh lớp 4”. Dưới sự chỉ đạo của BGH, với khả năng có hạn
của bản thân, trong quá trình thực hiện chắc còn nhiều hạn chế, sai sót, tôi rất
mong được sự góp ý của các cấp quản lý và bạn bè đồng nghiệp để sáng kiến
được áp dụng có hiệu quả.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Mục
1
Nội dung
Trang
Mở đầu
1
1.1
Lý do chọn đề tài
1
1.2
Mục đích nghiên cứu
2
1.3
Đối tượng nghiên cứu
2
1.4
17
2.2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
Về phía học sinh
5
Các biện pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4
5
Chuẩn bị thật kĩ cho việc dạy đọc diễn cảm
5
GIÁO
DỤC
ĐÀO
THANH
HOÁ
HướngSỞ
dẫn
học sinh
đọcVÀ
đúng
14
Kết luận và kiến
nghịKIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG
14
3.1
Kết luận
14
3.2
Kiến nghị
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
2.4
3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
CHO HỌC SINH LỚP 4