I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, viết là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình
chuyển lời nói có âm thanh sang hình thức chữ viết. Khi đọc một văn bản viết,
điều đầu tiên gây cho người đọc khó chịu nhất là nét chữ xấu và viết sai chính
tả. Vấn đề này không phải chỉ xảy ra ở học sinh mà đôi lúc vẫn còn xảy ra ở
người lớn. Nói thế có nghĩa là vấn đề viết sai chính tả có thể xảy ra mọi lúc, mọi
nơi và ở mọi đối tượng. Tôi đã từng đi một số nơi, phát hiện một số hình ảnh cụ
thể về lỗi chính tả của một số pa-nô, áp phích, biển báo giao thông: “Xe mô tô,
xe máy, xe thô xơ chỉ được phép hoạt động trên tầng 1 cầu Thăng Long”; “Đoạn
đường thường sẩy ra tai nạn giao thông, chú ý quan sát, đề phòng”; “Cấm láy xe
lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường giao thông”; “Đội mũ bảo hiểm có
cài quay là bảo vệ chính mình”; “Đảng cộng sản Việt Nam người lảnh đạo...”
Hình 1: Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả.
Hình2: Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả.
1
Hình3: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả.
Hình4: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả.
Hình5: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả.
2
Vậy nguyên nhân từ đâu mà có những sai sót này? Tôi thiết nghĩ, nguyên
nhân sâu xa là do những người làm ra các biển báo, pa -nô, áp phích này không
nắm được quy tắc viết chính tả từ Tiểu học.
2. Thực trạng về công tác viết chính tả của học sinh lớp 5A trường Tiểu học
Nga Thạch.
2.1. Một số lỗi chính tả mà học sinh lớp do tôi chủ nhiệm thường mắc phải:
Việc viết sai chính tả xuất hiện ngày càng nhiều, không chỉ là học sinh
Tiểu học, học sinh Trung học, sinh viên, đôi khi có cả một số giáo viên và
những người thành đạt. Qua tìm hiểu, tôi thấy học sinh của trường Tiểu học Nga
Thạch nói chung, học sinh viết yếu lớp 5A do tôi chủ nhiệm nói riêng thường
mắc một số lỗi khi viết chính tả đó là:
3
* Về dấu thanh:
Tiếng việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học
sinh viết yếu chưa phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Tuy chỉ có 2 thanh nhưng số
lượng tiếng mang 2 thanh này không ít và rất phổ biến.
Ví dụ: sữa xe đạp, hướng dẩn, dổ dành, lẩn lộn, ...
* Về âm đầu:
Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi âm dầu như: l/n (đi nàm, no
nắng...), g/gh (gê sợ, gi nhớ...), c/k (céo co...), ch/tr (cây che, chiến chanh...),
ng/ngh (ngỉ ngơi, nge nhạc...), s/x (xa mạc, sung phong...)
Trong các lỗi này, lỗi về s/x, ch/tr đối với lớp tôi là phổ biến hơn cả.
* Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần như: an/ang
(cây bàn, bàng bạc...), ât/âc (chấc phát, nổi bậc...), ên/ênh (nhẹ tên, bên vực...),
at/ac (mặn chác, khác nước...), ăt/ăc (khuôn mặc, giặc quần áo...),...
* Về viết hoa danh từ riêng, tên riêng nước ngoài:
Hầu hết các em viết sai đều mắc lỗi không viết hoa danh từ riêng hoặc có
viết hoa danh từ riêng nhưng chưa viết đầy đủ các tiếng tạo thành tên riêng đó.
(Ví dụ : phố hàng Buồm )... Do các em chưa nắm được quy tắc viết hoa tên
người, tên địa lí Việt Nam. Lỗi sai viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài do
%
10
HS viết
sai 3 lỗi
SL
5
%
16.7
HS viết
sai 4 lỗi
SL
4
%
13.3
HS viết
sai 5 lỗi
SL
5
%
16.7
HS viết
sai từ 6
3. Các biện pháp và tổ chức thực hiện.
Biện pháp 1: Luyện cho học sinh cách phát âm chính xác.
Muốn cho học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ
tiếng, đúng chuẩn, đồng thời luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh,
các âm đầu, âm cuối. Việc rèn phát âm cho các em học sinh viết yếu tôi đã thực
hiện thường xuyên, liên tục, xuyên suốt trong năm học ở tất cả các tiết học như
Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, ... Vì vậy, việc phát âm chính
xác cho các học sinh viết yếu có tác dụng không nhỏ trong quá trình viết của các
em. Tôi đã áp dụng cách phát âm cho các em bằng cách:
- Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp luyện theo mẫu: Bằng phát âm mẫu của
mình, tôi đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn, các từ cần luyện, yêu cầu
học sinh phát âm theo.
- Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp cấu âm:
+ Với cách hướng dẫn cách phát âm này, tôi mô tả cấu âm của một âm nào đó
rồi hướng dẫn học sinh phát âm theo. Với phụ âm cần mô tả vị trí của lưỡi,
phương thức cấu âm. Tôi đã tiến hành sửa từng âm: Sai phát âm /p-pờ/ thành /bbờ/, (p và b) đều là hai phụ âm đồng vị về mặt cấu âm (môi - môi) nhưng khác
nhau về mặt thanh tính, /p/ là phụ âm vô thanh, /b/ là phụ âm hữu thanh. Để
luyện đọc đúng âm /p/, tôi đã hướng dẫn học sinh đặt lòng bàn tay trước miệng,
một tay đặt lên thanh quản. Khi phát âm /b/ là âm vốn có sẽ cảm nhận được độ
rung nhẹ của thanh quản và không thấy luồng hơi phát ra. Cho học sinh bậm hai
môi lại và bật hơi qua môi mạnh hơn, tạo âm /p/ câm. Cho các em làm lại như
trên nhưng phát thành tiếng /p/ và lấy luôn ví dụ cụ thể để các em phát âm: Ví
dụ: ''đèn pin", “pí pa -pí pô'', “pọ pạ”,.... Cho học sinh đặt một tay lên thanh hầu
và lòng bàn tay trước miệng, các em sẽ dễ dàng nhận biết được sự khác biệt giữa
hai âm. Khi phát âm /p/, dây thanh rung mạnh và có luồng hơi từ miệng phát ra
đập vào lòng bàn tay.
+ Sai phát âm /n-nờ/, /l-lờ/ lẫn lộn: Học sinh Nga Thạch hay phát âm lẫn giữa l/n
và phần lớn các em không ý thức được mình đang phát âm âm nào. Để chữa lỗi
phát âm cho học sinh, tôi phải trực quan hoá sự mô tả âm vị và hướng dẫn học
sinh quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm âm nào: /n/ là một âm mũi,
đọc sai. Sau đó, tôi giao việc ở nhà cho học sinh là tập đọc một đoạn nào đó và
viết đoạn đó vào vở (Vì học sinh lớp 5 trường tôi chỉ học 7 buổi/tuần). Hôm sau,
học sinh đem lên lớp cho giáo viên hoặc tổ trưởng kiểm tra vào 15 phút kiểm tra
bài đầu giờ.
- Với những học sinh có vấn đề về phát âm như nói ngọng, nói lắp..., tôi lưu ý
học sinh chú ý nghe thầy phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải phát
âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh yếu viết đúng chính tả.
Khi học sinh đã nắm chắc các biện pháp chữa lỗi phát âm và đã phát âm
đúng, chuẩn, rõ ràng thì có tác dụng không nhỏ trong quá trình viết đúng của các
em bởi các em đọc thế nào thì viết như vậy.
Biện pháp 2: Củng cố cho học sinh quy tắc, ghi nhớ một số mẹo luật chính
tả, viết đúng mẫu chữ quy định, hướng dẫn cách trình bày bài viết.
Củng cố quy tắc và một số luật chính tả là giúp cho học sinh nắm vững
các quy tắc trong quá trình viết, đồng thời các em nắm thêm một số mẹo để áp
dụng khi viết một cách thành thạo.
6
Hình 6: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A.
Hình 7: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A.
Hình 8: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A.
7
- Để khắc phục được tình trạng học sinh hay mắc lỗi chính tả thì tôi tập trung
vào các loại bài chính tả phân biệt. Qua loại bài chính tả phân biệt này học sinh
được ôn luyện nhiều lần, nắm chắc được các quy tắc chính tả, mẹo chính tả.
- Chữ cái c: Luôn đứng trước các vần bắt đầu các nguyên âm: a, ă, ,â o, ô, u, ư, ..
* Ví dụ : Cần cù, còn, cặm cụi, cũng ...
- Chữ cái k: Luôn đứng trước các vần bắt đầu bằng các nguyên âm: e, ê, i, ...
* Ví dụ: Kính, kể, kèo, ...
- Chữ cái q: Luôn kết hợp với u thành qu (đọc là quờ). Qu luôn đứng trước hầu
hết các nguyên âm (trừ các nguyên âm o, u, ư).
* Ví dụ : Quan trọng, quanh quẩn.
- Với những tiếng khó, tôi áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những
tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ.
* Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, tôi yêu
cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
Muống = M + uông + thanh sắc
8
Muốn = M + uôn + thanh sắc.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng “muốn”
có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết các em sẽ không viết sai.
- Ngoài ra, tôi cung cấp cho học sinh một số mẹo luật chính tả. Mẹo luật chính tả
là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật, chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên
khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm
quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i,
e, ê, iê, ie. Ngoài ra, tôi cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Tôi hướng dẫn cho học sinh nắm được đặc điểm đó là đa số
các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch. Ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi,
chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó,
chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi,…
+ Vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ: ngoằn ngoèo, khoèo chân.
Để khắc phục tình trạng viết sai về danh từ riêng, tên riêng nước ngoài, tôi đã
tiến hành hướng dẫn chi tiết cho học sinh về cách viết. Cụ thể:
* Tên người, tên địa lý Việt Nam:
- Tên người: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các tiếng tạo thành tên riêng đó.
+ Ví dụ: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Thị Minh Khai,...
9
- Tên danh nhân, nhân vật lịch sử được cấu tạo bằng cách kết hợp bộ phận vốn
là danh từ chung với bộ phận tên gọi cụ thể cũng được coi là tên riêng và viết
hoa theo quy tắc viết hoa tên người.
+ Ví dụ: Ông Gióng, Bà Trưng, Đồ Chiểu, Đề Thám, ...
-Tên địa lý: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các tiếng tạo thành tên riêng đó.
+ Ví dụ: Thái Bình, Trà Vinh, Cần Thơ, ...
- Tên địa lý được cấu tạo bởi danh từ chỉ hướng hoặc bằng cách kết hợp bộ phận
vốn là danh từ chung, danh từ chỉ hướng với bộ phận tên gọi cụ thể cũng được
coi là danh từ riêng chỉ tên địa lý và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên địa lý.
+ Ví dụ: Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc, Vàm Cỏ Đông, Trường Sơn
Tây, Hồ Gươm, Cầu Giấy, Bến Thủy, Cửa Việt, Đèo Ngang, Vũng Tàu, ...
- Tên dân tộc: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các tiếng tạo thành tên riêng đó.
+ Ví dụ: Kinh, Tày, Sán Dìu, Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, ...
- Tên người, tên địa lý và tên các địa tộc Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu
số có cấu tạo từ đa âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau): Đối với mỗi bộ phận
tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các tiếng.
+ Ví dụ: Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng, Tà-ôi, Kơ-pa Kơ-lơng, Nơ-trang-lơng, Y-rơpao, Chư-pa,...
- Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và
các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng.
+ Ví dụ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Thường
sinh noi theo. Do vậy việc khổ công rèn luyện viết đúng, viết đẹp, viết rõ ràng
đúng quy trình là tiêu chí đặt ra và thực hiện bằng được trong từng giờ học,
trong mỗi lần trình bày bảng sao cho khoa học, đẹp mắt. Ngoài yêu cầu về viết
đúng, viết đẹp tôi còn luôn chú ý tạo sự thống nhất trong cách trình bày bảng ở
từng phân môn khi thể hiện bài dạy của mình. Thông qua việc viết và trình bày
bảng lớp để từ đó quy định cách trình bày bài viết trong vở của học sinh nhằm
tạo ra sự thống nhất, chuẩn mực từ các chi tiết nhỏ nhất (gạch chân, kẻ hết bài,
kẻ hết buổi, cách ghi đề bài, cách trình bày bài thơ lục bát, thơ tự do và bài văn
xuôi,...).
Hình 9: Giáo viên trình bày bảng trong tiết chính tả.
Biện pháp 3: Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ để viết đúng.
Để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh thì việc giải nghĩa từ cũng rất quan
trọng. Việc giải nghĩa từ tôi thường thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập
đọc, Tập làm văn,… nhưng nó cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà
học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt
câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái
nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…
* Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên.
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái
chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi,
âm thanh vang dội).
11
+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng
định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp
c. Giải lụa
d. Dải lụa
e. Oan uổng
f. Oan uổn
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống trước
những chữ viết sai chính tả:
Rau muốn
Rau muống
Chải chuốc
Chải chuốt
Giặc quần áo
Giặt quần áo
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả:
A
B
bênh
trái
bên
vực
bện
tật
bệnh
tóc
- Bài tập chọn lựa:
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
Cháu bé đang uống ……… (sửa, sữa).
Học sinh …...........mũ chào thầy giáo. (ngả, ngã).
Đôi …… này đế rất …….. (giày, dày).
12
Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:........................................
* Tìm các từ chỉ hoạt động:
Chứa tiếng bắt đầu bằng r: ........................................................
Chứa tiếng bắt đầu bằng d: ........................................................
Chứa tiếng bắt đầu bằng gi: ........................................................
Chứa tiếng có vần ươt:
........................................................
Chứa tiếng có vần ươc:
........................................................
* Tìm từ ngữ chứa thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
Trái nghĩa với từ thật thà: ........................................................
Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố: ........................................................
Cây trồng để làm đẹp: ........................................................
Khung gỗ để dệt vải: ........................................................
- Bài tập phân biệt:
* Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
nồi - lồi: ........................................................
no - lo: ........................................................
bàn - bàng: ........................................................
13
ngả - ngã: ........................................................
- Bài tập giải câu đố
* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:
Mặt….. òn, mặt lại đỏ gay
Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao
14
Hình 10: Học sinh đang tự sửa lỗi chính tả trong nhóm.
Hình 11: Học sinh đang tự sửa lỗi chính tả trong nhóm.
- Vào ngày thứ Tư, trong lúc 15 phút đầu giờ, tôi giao cho các em sẽ tiến hành
viết và kiểm tra chéo nhau lần nữa, củng cố lại những từ còn viết sai.
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự phát hiện ra những lỗi viết sai và tự bản
thân các em sửa lỗi qua các hình thức khác nhau.
- Giáo viên đọc lại bài văn hay khổ thơ mà trong đoạn bài yêu cầu học sinh viết
cho học sinh soát lỗi.
15
- Giáo viên cho học sinh phát hiện ra lỗi chính tả qua các dạng bài tập khác
nhau. Ví dụ: Chép một đoạn bài có viết sai chính tả, yêu cầu học sinh viết lại
cho đúng .
Ví dụ trong bài Kì diệu rừng xanh: lắng trưa đả rọi xuống đỉnh đầu mà rừng sâu
vẫn ẫm nạnh, ánh lắng nọt qua ná trong xanh. Chúng tôi đi đến đâu, rừng rào
rào chuyễn động đến đấy. những con vượn bạc má ôm con gọn ghẻ chuyền
nhanh như tia chớp…
Qua bài viết trên, tôi cho học sinh tự sửa lỗi chính tả, cụ thể là l viết là n, ngược
lại n viết là l , dấu hỏi viết dấu ngã, dấu ngã viết dấu hỏi.
Từ những cách nêu trên, giúp học sinh quen dần với cách phát hiện ra lỗi
và tự sửa lỗi, dần dần các em sẽ nhớ cách viết đúng, thấy được các từ viết sai để
tránh. Từ đó, các em đã được mắt nhìn, tay viết các chữ khó rất nhiều lần và hạn
chế được các lỗi sai ở học sinh.
Biện pháp 6: Chấm chữa bài, phối hợp với phụ huynh nhận xét theo Thông
tư 30 đối với bài viết của học sinh. Động viên phụ huynh quan tâm tới bút,
Trong tiết học Chính tả, không khí lớp học trở nên hào hứng, sôi nổi, các
em học sinh không còn rụt rè, e ngại mà đã có sự tự tin, hăng hái phát biểu ý
kiến xây dựng bài.
Vì vậy, sau một năm áp dụng “Một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính
tả cho học sinh viết yếu lớp 5”, kết quả viết của các em học sinh lớp 5A do tôi
chủ nhiệm cuối năm học 2014-2015 như sau:
Tổng
số
học
HS viết
đúng,
đẹp
HS viết
sai 1 đến
2 lỗi
HS viết
sai 3 lỗi
HS viết
sai 4 lỗi
HS viết
sai 5 lỗi
HS viết
sai từ 6
lỗi đến
SL
0
%
0
trên 10
lỗi
SL %
0
0
Tuy việc “Rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh viết yếu” cần một quá
trình lâu dài, xuyên suốt, song với kết quả đạt được như trên tôi vẫn cảm thấy rất
vui vì công việc mình làm bước đầu đã đạt hiệu.
III. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT.
1. Kết luận.
Sau một năm nghiên cứu, áp dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy không
những việc viết đúng chính tả của các em học sinh được nâng lên mà còn thúc
đẩy hứng thú, phong trào học tập của tất cả các em trong lớp do tôi chủ nhiệm
ngày càng nâng cao. Nhiều phụ huynh học sinh trước đây không mấy quan tâm
đến chữ viết của con em mình thì nay thấy được sự tiến bộ của các em đã rất
phấn khởi, quan tâm nhiều đến chữ viết của các em.
Tóm lại, sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người
giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không được nóng vội. Vì có những học sinh tiến bộ ngay trong
vài tuần nhưng cũng có những học sinh tiến bộ rất chậm, không phải vài tuần, có khi vài
tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không biết chờ đợi, nôn nóng thì chắc chắn sẽ
thất bại.
2. Đề xuất.