ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
NOUPHETH SAKBOUAVONG
VẬN DỤNG DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO DẠY HỌC
MÔN TOÁN LỚP 6 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
NOUPHETH SAKBOUAVONG
VẬN DỤNG DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO DẠY HỌC
MÔN TOÁN LỚP 6 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
học tập, nghiên cứu khoa học và làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, các em học sinh
của trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú Champasak tỉnh Champasak, nước
CHDCND Lào đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu của người thân, bạn bè,
đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên, góp ý và tiếp thêm động lực để tôi hoàn thành luận
văn này.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực của bản thân
còn nhiều hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn không tránh khỏi những
thiếu xót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và
các bạn đồng nghiệp.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn
Noupheth SAKBOUAVONG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
MỤC LỤC
Lời cam đoan .................................................................................................................. i
Lời cảmơn ......................................................................................................................ii
Mục lục ........................................................................................................................ iii
Danh mục chữ viết tắt ................................................................................................... iv
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................2
3. Nghiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................... 2
1.3. Kết luận chương 1 .................................................................................................52
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC PHÂN HÓA MÔN TOÁN LỚP
6 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NƯỢC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN
DÂN LÀO ...................................................................................................................53
2.1. Sơ lược về mục tiêu và chương trình “tập hợp” trong chương trình môn Toán
ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ......................................................................53
2.2. Một số biện pháp sư phạm để vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy
học nội dung “tập hợp” (Toán lớp 6) ..........................................................................55
2.2.1. Biện pháp 1. Vận dụng quan điểm phân bậc hoạt động trong việc thiết kế
giáo án phân hóa cho học sinh .....................................................................................56
2.2.2. Biện pháp 2. Vận dụng quan điểm phân bậc hoạt động trong việc hướng dẫn HS
phát hiện, phân loại các dạng bài toán và phương pháp giải các dạng bài toán này...........75
2.3. Kết luận chương 2 .................................................................................................82
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .................................................................83
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................................... 83
3.2. Nội dung thực nghiệm .......................................................................................... 83
3.3. Triển khai thực nghiệm .........................................................................................84
3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm ..............................................................................84
3.5. Kết luận chung về thực nghiệm ............................................................................87
KẾT LUẬN .................................................................................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................89
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
dạy học, làm sao cho thông qua quá trình học tập người học biết vận dụng kiến thức đã
học vào cuộc sống.
Nghị quyết hội nghị lần thứ VIII ban chấp hành trung ương Đảng nhân dân cách
mạng Lào (năm 2006) và chiến lược giáo dục từ năm 2006 đến 2020, kế hoạch giáo dục
khóa VII (2010 - 2015) nêu rõ: Để giải phóng đất nước vượt qua đất nước nghèo trong
năm 2020 nên đào tạo cho con người có kiến thức cao, có tay nghề cao, tự chủ sáng
tạo, có khả năng vận dụng, thực hành của người học, qua đó mà góp phần tích cực thực
hiện mục tiêu lớn của đất nước.... Một trong những yêu cầu quan trọng mà chương
trình nhấn mạnh đến phương pháp giáo dục đó là “ Phương pháp giáo dục trung học
cơ sở phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học;
bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác “ đồng thời cũng yêu
cầu các hình thức tổ chức giáo dục cần “ đảm bảo chất lượng giáo dục chung cho mọi
đối tượng và tạo điều kiện phát triển năng lực cá nhân học sinh “ Giáo viên chủ động
lựa chọn vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với nội
dung, đối tượng và điều kiện cụ thể”[1].
Chương trình trung học cơ sở được triển khai thực hiện dưới hình thức phân hóa
kết hợp với dạy học tự chọn, đó chính là giải pháp thực hiện dạy học phân hóa - một
trong những nguyên tắc cơ bản của quá trình giáo dục. Việc dạy học này đòi hỏi ngoài
việc cung cấp những kiến thức cơ bản và phát triển những kỹ năng cần thiết cho học
sinh còn cần chú ý tạo ra các cơ hội lựa chọn về nội dung và phương pháp phù hợp với
năng lực và nguyên vọng của học sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Thực tiễn ở các trường trung học cơ sở hiện nay, quan điểm phân hóa trong giáo
dục, nhất là trong dạy học chưa được quan tâm đúng mức. Giáo viên chưa được trang
bị đầy đủ những hiểu biết và kỹ năng dạy học phân hóa, chưa thực sự coi trọng yêu cầu
- Thực trạng dạy học toán 6 ở trường trung học cơ sở nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào theo thướng phân hóa.
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm để vận dụng dạy học phân hóa vào dạy học
toán ở trường trung học cơ sở nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
- Tìm hiểu nghiệp vụ sư phạm để kiểm tra tính khả thi của các hiện pháp sư phạm
đã đề xuất.
4. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở tìm hiểu các vần đề cơ bản của dạy học phân hóa nếu đề xuất và sử
dụng một số biện pháp sư phạm để vận dụng dạy học phân hóa vào dạy học toán lớp
6 ở trường trung học cơ sở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thì có thể góp phân
nâng cao chất lượng dạy học.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu về lý luận và phương pháp
dạy học môn Toán, các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp điều tra, quan sát: Dự giờ thăm lớp, tìm hiểu, trao đổi ý kiến với
một số giáo viên giàu kinh nghiệm, dạy giờ toán trung học cơ sở về những vấn đề liên
quan đến đề tài.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Để kiểm nghiệm một số kết quả nghiên cứu
trong thực tiễn dạy học ở trường trung học cơ sở.
6. Khách thể và đối tượng vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Môn Toán ở trường trung học cơ sở.
- Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng dạy học phân hóa vào dạy học môn toán Lớp
6 ở trường trung học cơ sở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (tập trung vào phần
Tập hợp và các phép toán trreen tập hợp).
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2.Vận dụng dạy học phân hóa vào dạy học môn toánLớp 6 ở trườngtrung
điểm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những
khác biệt của người học về năng lực, sở thích, nhu cầu và các điều kiện học tập, nhằm
tạo ra tạo kết quả học tập tốt nhất cho người học” [3].
Như vậy, qua các định nghĩa trên của các tác giả về DHPH thì có thể nói DHPH là
một quan điểm DH, cũng có thể coi DHPH là một PPDH. Tuy nhiên, DHPH không đơn
thuần là phân loại người học theo năng lực nhận thức, mà là phương pháp dạy học phù
hợp với tâm lí, năng khiếu, nguyện vọng từng đối tượng người học trong cuộc sống,…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Có thể nói, khi sử dụng phương pháp DHPH, GV cần “tìm để giảng dạy, hiểu để giáo
dục”. DHPH là phương pháp dạy học có tính đến sự khác biệt của người học (cá nhân)
hoặc một nhóm người học, DHPH thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức, kĩ
năng làm nền tảng, ngoài kế hoạch dạy học thông thường, phân hóa để có những kế hoạch
dạy học phù hợp, giúp HS yếu kém đạt chuẩn hoặc giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc
khá, giỏi phát triển ở mức cao hơn.
Dựa trên các quan điểm này, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về dạy học phân hóa
như sau: “Dạy học phân hóa là một phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên điều
chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp với từng cá nhân hoặc nhóm học sinh nhằm
phát triển tối đa năng lực học tập của mỗi em”.
1.1.2. Nguồn gốc của dạy học phân hóa
Theo Nguyễn Bá Kim [11], việc dạy học phân hóa nội tại xuất phát từ những quan
điểm sau:
- Yêu cầu xã hội đối với học sinh vừa có sự giống nhau về những đặc điểm cơ
bản của người lao động trong cùng một xã hội, vừa có sự khác nhau về trình độ phát
triển, về khuynh hướng, tài năng.
- Những điểm khác nhau giữa các học sinh có thể có tác động khác nhau đối với
quá trình dạy học: một số có tác động tích cực, một số có tác động ngăn trở và một số
+ Ra bài tập có phân bậc hoặc ra thêm bài tập để đào sâu, nâng cao cho học sinh
khá, giỏi.
+ Phân hóa giúp đỡ của thầy, học sinh yếu kém được giúp đỡ nhiều hơn học sinh
khá, giỏi.
+ Tác động qua lại giữa các học sinh, lấy điểm mạnh của học sinh này điều chỉnh
nhận thức học sinh khác.
+ Phân hóa bài tập về nhà theo số lượng bài tập, theo nội dung bài tập,theo yêu
cầu về tính độc lập. Ra riêng bài tập cho học sinh yếu kém và ra riêng bài tập cho học
sinh khá giỏi.
- Hoạt động ngoại khóa: Hoạt động ngoại khóa có tác dụng bổ sung, hỗ trợ cho
dạy học nội khóa: gây hứng thú học tập bộ môn, bổ sung, đào sâu mở rộng kiến thức,
tạo điều kiện gắn liền nhà trường với đời sống, lý luận đi đôi với thực tiễn, học đi đôi
với hành, rèn luyện cho học sinh cách thức làm việc tập thể, tạo điều kiện phát hiện và
bồi dưỡng năng khiếu.
Các hình thức hoạt động ngoại khóa gồm có nói chuyện ngoại khóa, tham quan,
sinh hoạt câu lạc bộ, báo, tạp chí…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
- Bồi dưỡng học sinh giỏi: Trong quá trình học tập bộ môn, có những học sinh
trình độ kiến thức, kỹ năng và tư duy vượt trội lên trên các học sinh khác, có khả năng
hoàn thành nhiệm vụ môn học một cách dễ dàng, đó là những học sinh giỏi bộ môn đó.
Việc bồi dưỡng học sinh giỏi một mặt được tiến hành trong những giờ học đồng
loạt bằng những biện pháp phân hóa, mặt khác được thực hành bằng cách bồi dưỡng
tách riêng diện này trên nguyên tắc tự nguyện.
Nội dung bồi dưỡng nhóm học sinh giỏi bao gồm:
+ Nghe thuyết trình những tri thức bộ môn bổ sung cho nội khóa.
+ Giải những bài tập nâng cao.
Đặc điểm của hình thức này là mỗi trường tổ chức dạy học theo một số ban đã
được quy định. Khi thực hiện phân ban, những học sinh có năng lực, sở thích, nhu cầu,
điều kiện học tập tương đối giống nhau được tổ chức thành nhóm học theo cùng một
chương trình (mỗi nhóm như vậy gọi là một ban). Tùy theo số lượng học sinh mà mỗi
ban có thể chia thành số lớp. Chẳng hạn, những học sinh có khả năng, nhu cầu, sở thích
về Toán và khoa học tự nhiên có thể học ở ban Khoa học tự nhiên.
- Dạy học tự chọn:
Đặc điểm của hình thức phân hóa này là các môn học và giáo trình được chia
thành các môn học và giáo trình bắt buộc tạo thành chương trình cốt lõi cho mọi học
sinh và nhóm các môn học, giáo trình tự chọn nhằm đáp ứng sự khác biệt về năng lực,
hứng thú và nhu cầu học tập của các đối tượng học sinh khác nhau. Như vậy dạy học
tự chọn là dạy học hướng đến từng cá nhân học sinh, cho phép mỗi học sinh, ngoài việc
học theo một chương trình chung còn có thể học một chương trình với các môn học
khác nhau, hoặc có thể học các chủ đề khác nhau trong một môn học.
- Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn:
Đặc điểm của hình thức này là học sinh vừa được phân chia theo học các ban khác
nhau, đồng thời học sinh được chọn một số môn học và giáo trình tự chọn ngoài phần
nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban. Hình thức này cho phép tận dụng được
những ưu điểm và khắc phục được một phần những nhược điểm của hai hình thức phân
hóa trên.
- Phân luồng: Đặc điểm của hình thức này là được thực hiện sau cấp trung học
cơ sở và trung học phổ thông nhằm tạo ra cơ hội cho học sinh tiếp tục học tập hoặc làm
việc sau khi đã hoàn thành một cấp học. Mỗi cơ hội là một “luồng”.
Như vậy sự khác nhau giữa phân hóa trong và phân hóa ngoài thể hiện ở chỗ:
phân hóa trong cá nhân hóa quá trình dạy học, là tìm kiếm những con đường khác nhau
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
điều quan trong là GV cần là người bắc được những khớp nối giữa những vấn đề bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
chất mà người học cần biết, hiểu và có thể làm trong những lĩnh vực tri thức đã được
đưa ra. GV trong lớp học phân hóa cần tổ chức lại một cách cẩn thận các kiến thức, kĩ
năng và tư duy cần thiết của từng môn học. Chắt lọc các vấn đề quan trọng nhất trong
từng chủ đề để làm tăng khả năng giới thiệu nó theo cách mà mà mỗi học sinh thấy có
ý nghĩa, thú vị và phù hợp. Chắt lọc vấn đề cũng đảm bảo rằng GV, người học, đánh
giá, chương trình giảng dạy và hướng dẫn đã được liên kết chặt chẽ trong một hành
trình có khả năng lên đến đỉnh điểm trong sự phát triển và thành công của mỗi cá nhân
HS.
Hiểu được những tiến triển học tập hoặc chuỗi hướng dẫn trong nội dung chính
của các lĩnh vực có khả năng giúp giáo viên xác định các bước tiếp theo cho người học
dựa trên điểm đầu vào cụ thể của họ và tình trạng tập hiện tại.
1.1.4.4. Trong lớp học phân hóa thì đánh giá và chỉ dẫn là những yếu tố không thể
tách rời, trong đó đánh giá là để chuẩn đoán và duy trì việc học
Đánh giá cung cấp cho GV dữ liệu về những ý tưởng và kĩ năng của HS, những
hứng thú của họ cũng như cách tiếp cận trong học tập của họ. GV không chỉ nên xem
sự đánh giá này như là hoạt động diễn ra ở cuối bài học để tìm hiểu những gì mà HS
đã học được và chưa học được mà họ còn hiểu là sự đánh giá ngày hôm nay là để điều
chỉnh những sự chỉ dẫn học tập cho ngày mai.
Các dữ liệu của đánh giá chuẩn đoán có thể từ việc thảo luận nhóm giữa GV và
một số SV hoặc thảo luận toàn lớp, bài test đầu vào, bài tập lớn, qua quan sát của GV
hoặc thậm trí là qua khảo sát ý kiến HS về những hứng thú của họ trong quá trình học
tập. Từ những kết quả đánh giá này, GV sẽ tạo nên bài giảng vào ngày mai, hoặc thậm
trí là điều chỉnh ngay bài giảng ngày hôm nay với mục đích là để mỗi học sinh có thể
tiến về phía trước với năng lực hiện tại của mình.
bằng cách suy nghĩ thông minh, văn hóa, hoặc phong cách học tập. Một số học sinh
cần thảo luận về các khái niệm với bạn học để tìm hiểu chúng, những người khác làm
việc tốt hơn một mình và nghĩ rằng viết hơn là thảo luận nhóm. Trong khi một số học
sinh dễ dàng học một phần, những người khác cần phải nhìn thấy bức tranh lớn trước
khi các bộ phận cụ thể có ý nghĩa. Giáo viên có thể điều chỉnh một hoặc nhiều yếu tố
ngoại khóa (nội dung, quy trình, sản phẩm) dựa trên một hoặc nhiều đặc điểm của học
sinh (sẵn sàng, quan tâm, hồ sơ học tập) tại bất kỳ điểm nào trong bài học hoặc bài học.
1.1.4.5. GV và HS hợp tác với nhau trong quá trình học tập
Trong lớp học phân hóa GV như là người lãnh đạo, tuy nhiên để việc này có hiệu
quả thì đòi hỏi phải có sự tham gia của học sinh để giải quyết vấn để trong quá trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
dạy học, nghĩa là quá trình này không diễn ra đơn lẻ ở mỗi người học hoặc người dạy
mà phải có sự hợp tác kết hợp với nhau giữa học sinh và giáo viên trong đó học sinh
làm việc dưới sự gợi ý dẫn dắt của giáo viên. Phương tiện để thực hiện quá trình dạy
học này là các câu hỏi của thầy và câu trả lời của học sinh , ở hình thức này mức độ
nhận thúc của học sinh thấp hơn nên giáo viên sẽ là người tạo ra tình huống có vấn đề
và chính mình phát hiện ra vấn đề và trình bày quá trình suy nghĩ giải quyết (chứ không
phải chỉ đơn thuần nêu lời giải). Trong quá trình đó có tìm tòi có lúc thành công, có khi
thất bại phải điều chỉnh phương pháp mới đi đến kết quả.
1.1.5. Đặc điểm của dạy học phân hóa vi mô (phân hóa nội tại)
1.1.5.1. Dạy học phân hóa mang tính hệ thống và chủ động
a) Tính hệ thống của dạy học phân hóa
So với các giáo viên thực hiện dạy học đồng loạt cùng một nội dung, một phương
pháp,…cho cả lớp học thì những giáo viên dạy học phân hóa phải cùng lúc điều khiển
và giám sát các hoạt động của học sinh nhiều hơn. Quá trình dạy học đòi hỏi sự kết
hớp, tương tác với nhau liên tục giữa giáo viên và học sinh nhằm theo dõi sự tiến bộ ở
thiết kế kế hoạch dạy học sao cho người học có thể khái thác và phát huy được tốt nhất
tiềm năng của mình.
Tóm lại, trong một lớp học dạy học phân hóa, giáo viên cần chủ động lên kế hoạch
dạy học để tổ chức, điều kiển, hướng dẫn các cách thức tiếp cận khác nhau về nội dung,
quy trình, đánh giá cho phù hợp với trình độ nhận thức, năng lực tư duy và hứng thú
học tập của học sinh.
1.1.6. Ưu điểm và những thách thức khi thực hiện dạy học phân hóa
Theo Nguyễn Bá Kim[10], DHPH có những ưu/nhược điểm sau đây:
1.1.6.1. Ưu điểm dạy học phân hóa
- Trong các phương pháp giảng dạy toán thì phương pháp dạy học phân phân là
một phương pháp khá hiệu quả. Trong giờ học toán ở trường phổ thông, việc bảo đảm
thực hiện tốt các mục đích dạy học đối với tất cả các đối tượng học sinh, khuyết khích
phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của cá nhân là yêu cầu vô cùng quan trọng
mà dạy học phân hóa đã đạt được.
- Dạy học phân hóa phát huy tốt khả năng cá thể hóa hoạt động của ngườihọc,
đưa người học trờ thành chủ thể của quá trình nhận thức, tiếp thu kiến thứcmột cách
chủ động, sáng tạo phù hợp với năng lực nhận thức của bản thân. Bên cạnh đó người
giáo viên có cơ hội nhiều và nắm được mức độ nhận thức của từng cá thể người học để
đề ra những biện pháp tác động, uốn nắn kịp thời và có đánh giá một cách chính xác,
khách quan.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
- Dạy học phân hóa gây được hứng thú học tập cho mọi đối tượng học sinh, xóa
bỏ mặc cảm tự ti của đối tượng học sinh có nhịp độ nhận thức thấp cùng tham gia tim
hiểu nội dung, yêu cầu của bài. Kích thích, gây hứng thú học tập cho các đối tượng học
sinh khá giỏi phát huy hết khả năng, trí tuệ cảu mình không gây cảm giác nhàm chán
cho học sinh khá giỏi.
công, học sinh cần có kinh nghiệm học tập phong phú và vững chắc nhằm sẵn sàng
đáp ứng các tiêu chỉ đề ra. Một chương trình dạy học chất lượng và linh hoạt chỉ có
thể thực hiện được khi nó đáp ứng được mục tiêu học tập của tất cả học sinh.
- Tiến hành dạy học phân hóa sẽ giúp cho học sinh có thêm nhiều kinh nghiệm
và phương pháp khác nhau, giúp các em thành công trong quá trình học tập và trong
guộc sồng. Điều này đã được Tomlinson (1995) khẳng định: “Dạy học phân hóa
giúp giáo viên tập trung tốt hơn vào nhu cầu của cá nhân học sinh và tạo điều kiện
cung cấp cho các em những kinh nghiệm học tập thích hợp”. Đồng thời, dạy học
phân hóa tạo ra mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh.
Khi mối quan hệ này được thiết lập tốt, nó sẽ thúc đẩy động cơ học tập của học sinh.
- Dạy học phân hóa cũng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh bởi vì
nó đảm bảonội dung và chương trình dạy học phú hợp với trình độ nhận thức của
các em, mọi học sinh đều có một nền tảng kiến thức, kĩ năng nhất định và dạy học
phân hóa cho phép các em phát triển, mở rộng tri thức của mình trên cơ sở những
gì đã có.
- Thông qua dạy học phân hóa, mỗi học sinh sẽ có thể làm chủ các kĩ năng
quan trọng và chiếm lĩnhđược những kiến thức cần thiết. Dạy học phân hóa cho
phép học sinh được học với những cách thức, nhịp độ khác nhau. Mỗi học sinh đều
có vùng phát triển gần nhất của riêng mình. Dạy học phân hóa sử dụng vùng pháp
triển gần nhất để cầu thức các hoạt động. Nó đảm bảo cho người học thu được những
kiến thức gần gũi nhất với kiến thức cũ để đạt trình độ mới cao hơn.
- Bằng cách đưa ra cho học sinh những lựa chọn và cách thức làm việc, hoạt
động cùng nhau, tất cả mọi học sinh sẽ tích cực và có trách nhiệm hơn. Học sinh sẽ
đầu tư suy nghĩ, sẽ tích cực động não nếu kiến thức hay kĩ năng đó là những nội
dung mà các em quan tâm hoặc yêu thích. Trước một vền đề, dạy học phân hóa sẽ
đưa ra cho học sinh nhiều cách thức tiếp cận. Dạy học phân hóa là cách để xác định
ai ở mức độ nào, ai cần sự trợ giúp, làm thế nào để hỗ trợ những học sinh có năng
khiếu cũng như giúp đỡ những học sinh gặp nhiều khó khăn khi học Toán. Chương
trình dạy học hấp dẫn, lôi cuốn tất cả học sinh thi học sinh sẽ tự theo dõi, có trách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
đạt được yêu cầu của chương trình và phát triển toàn diện, mặt khác cần phát huy khả
năng, sở trường, hứng thú, năng khiếu của từng em. Tuy nhiên, việc phát huy năng
khiếu, việc “nâng cao” này phải dựa trên cơ sở làm tốt việc chung, việc “phổ cập”, và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
việc phát triển toàn diện của bản thân em có năng khiếu. Như vậy, trước hết cần xác
định nội dung và phương pháp dạy học phù hợp với trình độ chung và điều kiện chung
của học sinh trong lớp và trên cơ sở đó xây dựng các nội dung và phương pháp cótính
phân hóa cho các đối tượng học sinh khác nhau.
Ví dụ 1. a) Viết tập hợp các chữ cái trong từ “SOMPONG”.
b) Cho hai tập hợp: A m, n, p , B m, x, y
Điền kí hiệu thích hợp ô vuông
n
A; p
B; m
b. Sử dụng những biện pháp phân hóa đưa diện học sinh yếu kém lên trình độ
chung
Ví dụ 2. a) Viết tập hợp A các số tự nhiên lơn 7 và nhỏ hơn 12, au đó điềnkí hiệu
thích hợp vào ô vuông:
9
Để tạo cơ hội cho học sinh phát huy được tối đa năng lực, sở trường, năngkhiếu
trên cơ sở học sinh đó đã đạt được những yêu cầu cơ bản, cần phải cónhững nội dung
nhằm bổ sung, đào sâu kiến thức giúp học sinh khá giỏi nâng cao được kiến thức của
chương trình.
1.2. Vận dụng quan điểm DHPH vào dạy học toán ở trường trung họccơ sở
1.2.1. Đặc điểm của quá trình nhận thức của HS trường THCS: Phần này chúng tôi
viết dựa vào [5].
a) Tri giác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Tri giác của học sinh trung học cơ sở còn mang tính đại thể và nặng về tính không
chủ định. Do đó, các em phân biệt đối tượng chưa thật chính xác, dễ lẫn lộn, học sinh
đầu cấp trung học cơ sở khi tri giác thường gằn với hành động thực tiễn của bản thân
các em.
Khi học sinh tri giác, cảm xúc của các em thường được thể hiện rất rõ rệt. Điều
đầu tiên mà học sinh trung học cơ sở tri giác từ các sự vật hiện tượng là những dấu
hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em cảm xúc. Tri giác về không gian và
thời gian cũng như ước lượng về không và thời gian của học sinh trung học cơ sở còn
nhiều hạn chế.
Khả năng tri giác của mỗi học sinh trong một lớp là không đồng đều bởi lẽ tri giác
của học sinh trung học cơ sở không tự nó phát triển mà trong quá trình học tập, khi tri
giác trở thành hoạt động có mục đích, đặc biệt, khi trở nên phức tạp và sâu sắc, trở
thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất có quan
sát, có tổ chức hơn. Vì thế, trong quá trình dạy học ở trung học cơ sở, giáo viên cần tổ
chức các hoạt động để học sinh thông qua tri giác một đối tượng nào đó mà phát hiện