1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Con người trong tương lai phải là con người biết hành động một cách
năng động, sáng tạo, thích ứng với yêu cầu mới của thời đại. Từ lâu ngành giáo
dục đã xác định được trọng trách của mình: xây dựng được những con người
mới có những phẩm chất mới để có thể thích ứng và phục vụ có hiệu quả những
yêu cầu của xã hội. Đó là những con người có tri thức khoa học công nghệ tiên
tiến, có kĩ năng vững chắc, có tác phong công nghiệp. Để làm được như vậy
ngành giáo dục đòi hỏi người giáo viên đứng lớp phải đổi mới phương pháp
giảng dạy.
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp
Đào tạo“đã chỉ rõ phải “xác định lại mục tiêu thiết kế lại chương trình, kế hoạch,
nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo” và cho đến nay Giáo dục đã khẳng
định là “Quốc sách hàng đầu” trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước. Như vậy việc đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục là một đòi hỏi
khách quan đối với nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện nay. Nhất là
trong những năm ở thế kỉ XXI, vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng
đòi hỏi bức thiết để đáp ứng với sự phát triển của xã hội. Bởi vậy người giáo
viên phải thấy được trách nhiệm của mình trong công cuộc đổi mới giáo dục.
Không những vậy mà còn phải năng động sáng tạo trong phương pháp giảng dạy
nói chung - trong bộ môn văn học nói riêng - trong đó có phân môn Tiếng Việt
Như chúng ta đã biết môn Ngữ văn là môn học có vai trò quan trọng trong
hệ thống giáo dục và đào tạo - đã giành vị trí xứng đáng trong nhà trường phổ
thông. Bởi "Văn học là nhân học"( MX Gooc- ki). Văn học giúp các em cảm thụ
được cái hay, cái đẹp hiểu biết về thế giới bên ngoài xã hội và con người.
Nhưng trên thực tế, phần lớn học sinh không thích học môn học này,
thậm chí có em còn sợ mỗi khi đến giờ học văn… Đặc biệt là những tiết học
Tiếng Việt, các em vẫn thường cho rằng nó khô khan, phức tạp, tẻ nhạt…Các
em coi “ Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.
Một thực tế nữa hiện nay việc dạy ngữ pháp trong trường phổ thông cơ
sở: chất lượng chưa cao, giáo viên ít có hứng thú và đầu tư so với giờ văn. Bởi
*Học kì I
- Từ ghép
- Từ láy
- Đại từ
- Từ Hán Việt
- Quan hệ từ
- Từ đồng nghĩa
- Từ đồng âm
- Từ trái nghĩa
- Thành ngữ
- Điệp ngữ
* Học kì II
- Rút gọn câu
- Câu đặc biệt
- Thêm trạng ngữ cho câu
- Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động
- Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu
- Liệt kê
- Dấu chấm lửng và dấu chấm phẩy
- dấu gạch ngang
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài viết này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
1.4.1 Nghiên cứu tài liệu có liên quan :
2
+ Sách giáo khoa lớp 7.
+ Sách giáo viên, Sách thiết kế dạy học Ngữ văn 7.
+ Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS.
và trầm bổng. Vì chương trình được biên soạn theo hướng tích hợp ngang và
tích hợp dọc nên đòi hỏi người giáo viên phải chú ý đến hệ thống kiến thức
trên cả hai phương diện. Hơn nữa, dạy Tiêng Việt hiện nay cần chú ý đến dạy
học theo quan điểm giao tiếp; thông qua việc học Tiếng Việt, học sinh có thể
nói, viết tốt. Cũng chính vì vậy trong rất nhiều phương pháp, giáo viên cần phải
lựa chọn phương pháp nào phù hợp để hỗ trợ đắc lực trong một tiết Tiếng Việt
mà vẫn thực hiện đúng theo quan điểm tích hợp của Bộ giáo dục và đào tạo:
(Thầy hướng dẫn - trò chủ động, sáng tạo thực hiện). Đó là phương pháp dạy
học tích cực đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện.
2.2. Thực trạng vấn đề
2.2.1. Căn cứ lí luận thực tiễn
2.2.1.1. Chương trình Ngữ văn mới vẫn giữ nguyên 3 phân môn là Văn
bản Tiếng Việt - Tập làm văn nhưng không trình bày riêng biệt từng môn mà
luôn tìm ra sự đồng quy giữa ba phân môn đó thực hiện quan điểm tích hợp.
2.2.1.2. Một thực tế đặt ra là: một tuần học sinh được học đều đặn từ một
đến hai tiết ngữ pháp trong suốt những năm học phổ thông cơ sở. Song kĩ năng
nói, viết của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Học sinh được học đầy đủ kiến
thức về từ ,câu, đoạn văn, văn bản nhưng vẫn rất lúng túng trong việc trình bày
một văn bản viết Tập làm văn hoặc trình bày vấn đề trước đám đông, tập thể
chưa có hiệu quả.
2.2.1.3. Một nhược điểm của chương trình cũng như việc giảng dạy Ngữ
Văn cũ trước đây là chỉ chú trọng đến kĩ năng viết. Còn chương trình mới coi
trọng cả 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Bởi vậy giáo viên cần chú ý đến sự hỗ
trợ giữa hai nhóm kỹ năng về Tiếng Việt và Văn học, bởi vì Văn học là nghệ
thuật ngôn từ, cho nên giỏi về Tiếng Việt, học sinh sẽ giỏi về kỹ năng cảm nhận
4
văn học và ngược lại. Đồng thời trên cơ sở hiểu về nghĩa của từ, cách tạo câu…
học sinh sẽ hứng thú và có kỹ năng về sử dụng Tiếng Việt, để từ đó nâng cao
%
SL
%
SL
%
34 HS
4
11.8 7
20.1 15
44.8 4
11.8 4
11.8
2.2.2.2. Với đối tượng hs lớp 7H, tôi nhận thâý sự tiếp thu của các em
còn chưa được tốt, một số em nhận thức chậm, ngại học do vậy kết quả ban đầu
cũng ít số lượng học sinh khá giỏi.
Không khí lớp học không thật sôi nổi, học sinh hầu như không tham gia
xây dựng bài... Tôi nhận thấy một phần do những nguyên nhân sau:
+ Học sinh không chuẩn bị bài mới, bởi vậy các em không hào hứng khi
học.
+ Một số câu hỏi chưa thực sự phát huy vai trò chủ động tích cực của học
sinh, chưa phù hợp từng đối tượng khá, giỏi, yếu kém.Vì thế, cần áp dụng
phương pháp tích cực vào tiết học để hoàn thiện vai trò “Cô thiết kế, trò thi
công” nhằm nâng cao chất lượng dạy và học đặc biệt là ở những lớp có chất
lượng không đồng đều.
2.3. Các giải pháp pháp
Trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy trên lớp, tôi đã thực hiện các
phươn pháp đặc trưng của phân môn:
2.3.1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Đây là phương pháp bắt đầu từ một ngữ liệu “tức là các căn cứ ngôn ngữ,
để tách ra các hiện tượng ngôn ngữ và từ đó giúp các em phân tích khái quát và
tinh tế chứ không phải nắm một mớ lý thuyết ngôn ngữ.
Vì phương pháp giảng dạy Tiếng Việt dựa trên lý thuyết- thực hành giao
tiếp, cho nên người giáo viên nên cố gắng giảm thiểu phương pháp dạyTiếng
Việt theo lối thuyết giảng: giáo viên trình bày, học sinh lắng nghe, ghi bài một
cách thụ động.
Khái niệm giao tiếp hóa giảng dạy có nghĩa là chuyển quá trình trình bày
của học sinh thành những cuộc đàm thoại dài ngắn khác nhau giữa giáo viên và
học sinh hoặc giữa học sinh và học sinh với nhau. Mặt khác, giao tiếp hóa đòi
hỏi khi giảng dạy trong phân môn Tiếng Việt giáo viên phải tạo ra môi trường
giao tiếp trong giờ dạy. Đặt nó vào ngữ cảnh, phát hiện ra mục đích, ý định và
cách thức trình bày nội dung, hình thức của bài học sao cho đạt mục đích mà
người nói, người viết đặt ra. Có nghĩa là giáo viên phải sử dụng phương pháp
đàm thoại, sử dụng các câu hỏi gợi mở, vấn đáp, hoặc tổ chức thảo luận nhóm…
Đặc biệt là phải tạo được tình huống có vấn đề.
6
Giáo viên phải tạo ra cuộc trao đổi trò chuyện (phương pháp đàm thoại).
Người thầy gợi ý, định hướng để học sinh tìm hiểu các ngữ liệu tìm con đường
dẫn đến kiến thức mới.
Phương pháp đàm thoại thường được tôi sử dụng ngay từ phần tìm hiểu
bài mới để tạo hứng thú cho học sinh ngay từ ban đầu.
VD: Khi dạy tiết câu rút gọn: Tôi vào bài bằng một câu hỏi rất tự nhiên
khi vào lớp:
- Hôm nay em nào trực nhật?
Một HS đứng dậy trả lời: Thưa cô, hôm nay em trực nhật ạ!
Tôi hỏi tiếp: Còn ai trực nhật cùng bạn?
HS khác: Thưa cô, em ạ!
Tôi nói: Cả 2 câu trả lời của các em có thể chấp nhận được không? Vì
VD: Khi dạy bài "Câu đặc biệt", sau khi học sinh hiểu thế nào là câu đặc
biệt, tôi liền đặt tiếp câu hỏi vấn đáp: Câu đặc biệt khác với câu rút gọn ở điểm
nào?
Vậy khi nào ta sử dụng câu đặc biệt?
Trên cơ sở HS trả lời những câu hỏi đó, các em đã có thể hiểu sâu hơn về
kiến thức câu đặc biệt và câu rút gọn…
2.3.6. Phương pháp thảo luận nhóm
Dạy - học theo phương pháp mới không thể thiếu được phương pháp thảo
luận nhóm. Đó là một trong số những phương pháp hay được sử dụng trong hệ
thống các phương pháp dạy học tích cực hiện nay. Trong quá trình học tập,
người học phải đứng trước vấn đề, phải tự tìm kiếm cách giải quyết vấn đề, lập
luận, thuyết minh làm sáng tỏ vấn đề. Biết hợp tác, chia sẻ là một cách tối ưu để
tìm đến kiến thức, để tìm đến chân lý khoa học tốt nhất.
Vai trò của giáo viên trong quá trình HS thảo luận rất quan trọng.Trong
khi các em thảo luận, tôi luôn là người tổ chức, tạo điều kiện lắng nghe và hỗ trợ
khi cần. Tuy nhiên, chúng ta không nên can thiệp quá sâu vào nội dung thảo
luận của các em, cần để cho các em chủ động làm việc, thể hiện quan điểm của
mình. Tránh để cho cuộc thảo luận tẻ nhạt, chỉ tập trung vào một số học sinh khá
giỏi; cũng tránh để một vài ý kiến của một vài em nào đó lấn át ý kiến của các
em khác.
Cuộc thảo luận sôi nổi, bình đẳng giữa mọi thành viên trong lớp sẽ giúp
cho mỗi cá nhân tự tin, thoải mái hơn khi học tập, các em được phát biểu ý kiến
của mình một cách hiệu quả nhất. Kết quả cuộc thảo luận được khẳng định bằng
cách ghi lại (Giấy hoặc bảng con), trên cơ sở đó giáo viên sẽ nhận xét và đánh
giá.
2.3.7. Muốn giao tiếp tốt, phát huy được tính tích cưc của học sinh
phải tạo được tình huống có vấn đề để học sinh chiếm lĩnh kiến thức và vận
dụng kiến thức:
và học sinh trong tiết học Tiếng Việt. Với giáo viên, bảng phụ được sử dụng khi
GV trình bày những VD để hướng các em đến hệ thống kiến thức cần ghi nhớ
hoặc các bài tập cần giải quyết khi có thảo luận nhóm. Những ngữ liệu được
trình bày trên bảng phụ giúp các em nhìn nhận vấn đề rành mạch hơn, dễ nhớ
hơn. Bản thân tôi sử dụng bảng phụ cho hầu hết các phần của bài học. Từ kiểm
tra bài cũ đến phân tích ngữ liệu, làm bài tập bổ sung, hỗ trợ…
Ưu điểm của việc sử dụng bảng phụ là giáo viên có thời gian chuẩn bị
trước, không cần phải ghi chép lên bảng, nên có thời gian nhiều hơn cho việc
giải quyết bài tập, truyền đạt kiến thức mới. Nhược điểm của nó là phải mang
nhiều tấm bảng phụ cho mỗi tiết học. Nếu có hệ thống máy chiếu thì sẽ tiện hơn
rất nhiều.
Còn với HS, các em có thể sử dụng bảng phụ để trình bày những bài tập
nhỏ theo nhóm. Theo đó, kết quả thảo luận được nhóm trưởng ghi vào bảng phụ
và trình bày cho giáo viên xem. Ưu điểm của bảng này là dễ trình bày, xóa đi
khi cần. Nhưng nhược điểm đôi khi các em không tận dụng kết quả tìm được
theo nhóm mà lại nhân lúc này để nói chuyện... Giáo viên cần tránh tình trạng
này khi dạy.
b. Tranh minh họa
- Đây là công cụ hỗ trợ đắc lực trong tiết dạy Tiếng Việt mà không phải
giáo viên nào cũng thực hiện được. Bởi lẽ, bản thân giáo viên không có năng
khiếu hội họa mà thuê họa sĩ vẽ thì rất tốn kém. Tranh minh hoạ sẽ giúp cho
giáo viên rất nhiều trong việc so sánh đối chiếu và hình thành khái niệm ở học
sinh và đặc biệt lôi cuốn sự chú ý, tập trung của học sinh vào bài học.
VD: khi dạy bài "Từ đồng âm" tôi đã sử dụng 3 tranh mới với 3 nội dung
khác nhau nhưng chúng đều minh hoạ cho từ “Lồng”. Từ đó, tôi đã phân tích
từ loại, nghĩa của chúng để các em so sánh, đối chiếu và cuối cùng đi đến khái
niệm “Từ đồng âm” .
9
học sôi nổi. Các em hào hứng học tập, vận dụng làm các dạng bài tập tốt.
Ngay từ lúc bước vào bài mới với câu hỏi tình huống như vậy các em đã
thực sự bị cuốn hút vào bài học trong tâm trạng hứng khởi. Các em hào hứng và
thích thú khi nhận ra những cách hiểu khác nhau như vậy.Và trong tình huống
đó các em thật sự hào hứng suốt cả tiết học. Trong giờ học, các em đã giơ tay
xung phong làm bài tập nhiều hơn. Đặc biệt một số em nam lớp 7H thường ngày
không chịu ghi chép bài cũng chăm chú hơn. Đối chiếu với kết quả kiểm tra
nhanh ngay sau tiết học tôi đã ghi nhận một phần nào đó sự đi lên của các em,
cụ thể như sau:
Kết quả xếp loại bài kiểm tra
Lớp 7H
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
34 HS
8
23.5 13
38.2 11
học...
Người thầy chú trọng đến phương pháp dạy theo quan điểm giao tiếp.
Biết tạo ra hứng thú học tập bằng những tình huống có vấn đề. Ở bất cứ bài nào
về mặt nguyên tắc đều có thể nêu ra các tình huống giao tiếp giả định - Những
tình huống đó phải hết sức sát thực với cuộc sống thực. Có như vậy học sinh
mới tìm tòi vấn đề và đề xuất ý kiến riêng. Đây chính là quá trình học sinh học
tập cách giao tiếp, cách bộc lộ tư tưởng, tình cảm, nêu ý kiến riêng để bảo vệ ý
kiến của mình. đồng thời rèn cho các em những kĩ năng dùng từ, đặt câu, nói và
viết trong giao tiếp.
Muốn vậy người thầy cần nâng cao kiến thức tay nghề để linh hoạt, sáng
tạo hướng dẫn học sinh giải quyết các tình huống.
Người thầy có cần phải chuẩn bị chu đáo về phương tiện dạy học vì:
Những phương tiện giạy học sẽ góp phần rất quan trọng cho sự hình thành kiến
thức của mỗi học sinh. Nếu thầy chuẩn bị bài tốt bị cuốn hút ngay từ đầu. Muốn
làm được điều này người thầy phải chú tâm có tinh thần trách nhiệm cao trong
công việc.
Điều tiếp theo, Hệ thống câu hỏi trong giờ học phải đạt hiệu quả tối ưu
nhất. Những câu hỏi phải hướng các em tới việc tìm hiểu và giải quyết vấn đề
đặt ra trong giờ dạy. Các em không chỉ tìm hiểu kiến thức được đưa ra trong
sách giáo khoa mà còn cần phải hiểu: khi nào sử dụng chúng và sử dụng như thế
nào là tốt nhất? Bởi lẽ học Tiếng Việt là để giao tiếp và vận dụng khi tìm hiểu
văn bản, tạo lập văn bản nên người giáo viên cần đặc biệt chú trọng vấn đề này.
Nếu có điều kiện GV nên chú ý đến hệ thống kênh hình trong quá trình
dạy Tiếng Việt- Sử dụng máy chiếu trong khi dạy vừa tiết kiệm thời gian ghi
13
chép vừa tác động cụ thể đến thị giác của HS, giúp các em nhìn nhận vấn đề một
cách hiệu quả nhất. Những hình ảnh sinh động, thú vị trên máy chiếu sẽ kích
thích hoạt động học tập của các em. Các em sẽ cảm thấy tiết học không còn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Thanh hóa, ngày 10 tháng 3 năm 2019
14
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết SKKN
Lê Thị Yên
15