1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn sáng kiến
Đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
“Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá” đất nước đòi hỏi những con người năng động,
sáng tạo, tự chủ, tự tin, có đầy đủ tri thức, dám nghĩ dám làm để làm chủ đất
nước. Chính vì thế, Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI)
đã đặt ra: "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế".
Giao tiếp là nhu cầu đặc biệt hằng ngày và rất quan trọng của mỗi con
người. Dù bạn ở trong hoàn cảnh nào, làm việc gì thì để đạt được mục tiêu của
mình đòi hỏi bạn phải có giao tiếp. Khả năng giao tiếp của bạn phụ thuộc vào các
kĩ năng sử dụng Tiếng Việt của chính bản thân bạn. Ở nước ta, Tiếng Việt là môn
học rất quan trọng của bậc Tiểu học, làm nền móng để học tốt các môn học khác
và là tiền đề tạo nên cơ sở vững chắc cho nền giáo dục của nước nhà. Nhận thức
rõ tầm quan trọng của môn Tiếng Việt đối với nền giáo dục của nước nhà nên
môn học Tiếng Việt Một được đổi mới cho phù hợp với xu thế phát triển của nền
giáo dục.
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm trong
công tác đổi mới giáo dục. Do vậy, kiểu dạy học thầy giảng - trò ghi nhớ trở nên
lạc hậu, không còn đáp ứng được nhu cầu của nền sản xuất và sự tiến bộ khoa
học công nghệ. Giáo dục đứng trước sức ép phải đổi mới, nhiều phương án dạy
học đã ra đời, như: dạy học chương trình hóa, nêu vấn đề, dạy học tình huống,…
Trong đó, công nghệ dạy học (CNDH) là một chiến lược dạy học đang dần xác
định và chiếm ưu thế. Dạy học theo chương trình Công nghệ giáo dục là kiểu dạy
mà trẻ em không phải là đối tượng chịu sự tác động của giáo dục một cách thụ
động, mà là một chủ thể hoạt động để tự sinh ra mình, trẻ em hoạt động để tự tạo
ra sản phẩm giáo dục, để trở thành cá thể người, một thành viên của xã hội có thể
sống và hoạt động có kết quả trong xã hội hiện đại. Cũng như các năm học trước,
năm học 2018 – 2019, việc dạy Tiếng Việt theo Công nghệ giáo dục được áp
CGD theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Đây là nội dung
mới được đưa vào dạy học trong năm học này nên tôi chỉ mạnh dạn nghiên cứu,
áp dụng tại lớp 1 nơi tôi đang công tác.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của của dạy học môn Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục
2.1.1 Thuận lợi
Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Quảng Ninh đã triển khai kịp thời các
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chương trình Tiếng Việt 1 - CGD đến các
trường tiểu học trong huyện. Đồng thời tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý và
giáo viên về phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 - CGD.
Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và giành nhiều
thời gian dự giờ, rút kinh nghiệm, giúp giáo viên tháo gỡ những vướng mắc trong
quá trình dạy học.
Cơ sở vật chất của nhà trường ngày một khang trang, đội ngũ giáo viên có
năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và có tinh thần trách nhiệm
cao.
2
Học sinh chăm ngoan, lễ phép và có ý thức học tập tốt. Đa số phụ huynh
luôn quan tâm đến việc học tập của con em và đồng thuận với các hoạt động dạy
học của nhà trường.
Sau 3 năm khi thực hiện chương trình tôi nhận thấy việc dạy học TV1
CGD giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc, viết; học sinh nắm được luật chính tả,
nhận biết và phân tích được cấu tạo của tiếng, từ, giúp học sinh khắc sâu kiến
thức ngữ âm. Bên cạnh đó chương trình còn tạo được sự chuyển biến khá tích cực
đối với giáo viên và học sinh. Với học sinh, các em nghe – hiểu được lệnh, hiểu
được lời nói của giáo viên, giúp học sinh tự tin hơn trong học tập, nâng cao kĩ
năng giao tiếp cho các em. Riêng với giáo viên dạy TV1 CGD không phải soạn
bài nên có nhiều thời gian để quan tâm đến học sinh hơn, có thời gian nghiên cứu
Phương pháp thực hiện chương trình
Phương pháp Mẫu: Lập mẫu, sử dụng mẫu
Phương pháp Việc làm là phương pháp dạy học hoàn toàn mới, xây dựng
trên cơ sở sự hợp tác mới giữa thầy và trò. Trong đó, thầy tổ chức việc học của
trò thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự
làm lấy.
4
Công nghệ giáo dục cũng dung nạp một số phương pháp truyền thống như:
Nêu vấn đề, trực quan, vấn đáp...coi đó như những hình thức, thủ pháp dạy học
nằm trong hệ thống của mình.
Quy trình dạy học gồm 3 loại:
Loại 1 : Tiết Lập mẫu: Gồm 4 việc
Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm (chiếm lĩnh đối tượng)
Việc 2: Viết
Việc 3: Đọc
Việc 4: Viết chính tả
Loại 2: Tiết Dùng mẫu
Quy trình tiết Dùng mẫu giống quy trình của tiết Lập mẫu. Chủ yếu là tổ
chức cho học sinh luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết Lập
mẫu. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với giáo viên là phải nắm chắc quy trình tiết Lập
mẫu, chủ động, linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao cho phù hợp với
từng đối tượng học sinh.
Loại 3: Tiết Luyện tập tổng hợp
Quy trình 4 việc ở tiết Luyện tập tổng hợp được sắp xếp lại nhằm tập trung
vào 2 kĩ năng đọc và viết:
Việc 1: Ngữ âm
Việc 2: Đọc
- Bước 1: Chuẩn bị
Trong hệ thống kiến thức ngữ âm, tôi đã lưu ý đến cấu tạo về cách phát
âm, đặc điểm, các vị trí của mô hình của âm tiết tiếng Việt. Phân loại âm tiết
tiếng Việt và sự biến hóa ngữ âm.
Nắm chắc hệ thống ngữ âm tiếng Việt: Hệ thống phụ âm đầu, hệ thống
âm đệm; hệ thống âm chính; hệ thống âm cuối; thanh điệu, ngữ điệu.
Trong đó mối qua hệ giữa âm và chữ được đặc biệt chú ý. Từ âm sang
chữ gọi là viết, từ chữ sang âm gọi là đọc. Mỗi một chữ chỉ có một âm. Nhưng
một âm có thể có 1/2/3/4 chữ (cách viết).
- Âm /gờ/ được viết bằng hai cách: g/gh
- Âm /iê/ được viết bằng bốn cách: iê/yê/ia/ya
- Âm /ngờ/ được viết bằng hai cách: ng/ngh
- Âm /uô/ được viết bằng hai cách: uô/ua
- Âm /cờ/ được viết bằng ba cách: c/k/q
- Âm /ươ/ được viết bằng hai cách: ươ/ưa
Luật chính tả là một phần kiến thức cơ bản trong chương Tiếng Việt 1Công nghệ giáo dục, góp phần xử lí triệt để mối quan hệ giữa âm và chữ. Do vậy,
tôi đã đi sâu nghiên cứu luật chính chính tả e/ê/i; luật chính tả về âm đệm; luật
chính tả về nguyên âm đôi /ia/, /ua/, /ưa/; luật ghi dấu thanh.
2.2.3 Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
Chương trình Tiếng Việt 1 - CGD là sự kết hợp giữa phương pháp dạy học
hiện đại và phương pháp dạy học truyền thống. Chương trình đã tiếp cận cao đến
yêu cầu tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh chuyển từ thiết kế bài học
theo 5 bước lên lớp truyền thống sang 4 việc, dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo
viên, học sinh tự chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện kỹ năng một cách tối đa nhất.
Bởi vậy trong quá trình dạy học, tôi đã vận dụng những ưu điểm của
phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới, đồng thời kết hợp với quy
trình 4 việc theo các dạng bài. Trong các tiết học, tôi thường vận dụng các
phương pháp: phương pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp
hỏi đáp, phương pháp trực quan. Đồng thời kết hợp các hình thức dạy học như
học theo lớp, theo tổ, theo nhóm, theo cá nhân.
khả năng nhận thức của học sinh Tiểu học đang hình thành và phát triển theo từng
giai đoạn có quy luật riêng, người giáo viên tiểu học cần phải hiểu trẻ em với đầy
đủ nghĩa của nó, mới có thể tiến hành dạy phần âm đạt hiệu quả được.
Để đạt được mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh cần có sự vào cuộc, phối
hợp của người dạy và chính bản thân người học. Bởi vậy trong quá trình dạy học
tôi luôn chú ý tăng cường các hình thức tự học, dạy học nhóm, nhằm giúp học
sinh trao đổi thảo luận, nêu lên chính kiến của mình... luôn kích thích khơi gợi
hứng thú học tập cho các em thông qua tất cả các giai đoạn của tiết lên lớp như
đặt vấn đề vào bài, tổ chức lĩnh hội tri thức mới, củng cố hướng dẫn hoạt động
7
nối tiếp. Ngoài ra tôi thường tổ chức các hoạt động vui chơi lồng ghép trong quá
trình dạy học. Qua hoạt động vừa chơi vừa học các em biết chia sẻ với nhau kinh
nghiệm học tập, các em biết tự mình kiểm tra kết quả học tập của mình và giúp
nhau cùng tiến bộ. Các em không những ham thích đến trường mà còn dần yêu
thích môn học này.
Ví dụ: Khi dạy bài: Âm / x/, tôi sử dụng trò chơi “ Chèo thuyền” để giúp
học sinh tìm thêm tiếng mới với các nguyên âm đã học như: xa, xe, xê, xi, xo, xô,
xơ, xu, xư.
Học sinh hào hứng khi khởi động tiết học
2.2.4. Xây dựng nề nếp học tập cho học sinh
Chương trình TV1 CGD có thiết kế 2 tuần 0 để giáo viên dạy học sinh làm
quen với môi trường học tập mới, hướng dẫn học sinh biết cách nhận lệnh, thực
hiện và báo cáo kết quả (sản phẩm). Hai tuần này dù học sinh không được học
một chữ nào nhưng được đánh giá là có giá trị định hướng cho mọi việc về sau.
Làm tốt tuần 0 thì sẽ dễ làm tốt các tiết học về sau. Song, không phải giáo viên
với học sinh, đồng thời nó giúp các hoạt động của lớp học diễn ra nhịp nhàng, trật
tự và nhanh gọn hơn. Ví dụ:
- Hiệu lệnh chuẩn bị - hiệu lệnh bắt đầu thực hiện - hiệu lệnh kết thúc:
1 tiếng gõ thước nhẹ - 2 tiếng gõ thước nhẹ - 1 tiếng gõ thước nhẹ hoặc tiếng gõ
thứ nhất - tiếng gõ thứ 2 - tiếng gõ thứ 3.
- Các kí hiệu sử dụng đồ dùng học tập: S/16 (sách giáo khoa, trang 16); B
(bảng con); V (vở trắng - viết chính tả); TV/24 (tập viết, trang 24),… Khi viết các
kí hiệu ấy vào một góc riêng trên bảng lớp, học sinh nhìn thấy sẽ tự động thực
hiện yêu cầu (lấy sách giáo khoa - mở ra trang 16; chuẩn bị bảng con - phấn - giẻ
lau hay lấy vở tập viết - mở ra trang 24,…), khi xóa kí hiệu ấy đi thì học sinh sẽ
tự biết là kết thúc hoạt động và cất những vật dụng đó vào.
Giáo viên giữ vai trò chủ chốt trong việc chọn lựa những kí hiệu, hiệu lệnh
quy ước với học sinh, sao cho những kí hiệu phải đơn giản, dễ nhận biết. Sau khi
đã thống nhất, giáo viên dành thời gian tổ chức huấn luyện cho học sinh thực hiện
theo những kí hiệu đã được quy ước ấy (kết hợp hướng dẫn thực hiện trong các
tiết chuẩn bị của tuần 0).
2.2.5. Rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh
Hướng dẫn học sinh phát âm là việc làm quan trọng hàng đầu, đòi hỏi
giáo viên phải có những hiểu biết, kinh nghiệm và cả kĩ năng hướng dẫn tốt. Khi
9
hướng dẫn học sinh phát âm, cần dùng lời nói mạch lạc, đơn giản để học sinh dễ
hiểu và có thể tự mình phát âm đúng. Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn,
tôi thường so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (môi, răng, lưỡi, đường dẫn
hơi, điểm thoát hơi) Với những học sinh vẫn chưa phát âm được, giáo viên đến
cần đến gần, phát âm mẫu để các em nhìn thấy được vị trí cụ thể của các bộ phận
phát âm. Sau đó yêu cầu các em phát âm lại.
*Ví dụ: Học sinh sai lẫn ở những âm đầu vần và cuối vần “ac” đọc thành
“at” giáo viên hướng dẫn:
- Giáo viên phải nắm chắc kiến thức, viết đúng, viết đẹp mẫu chữ quy định
để dạy học sinh. Khi hướng dẫn phải cụ thể, tỉ mỉ, ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu.
Mặt khác, cần tìm hiểu kỹ đặc điểm của từng HS để nắm được năng lực của các
em để có biện pháp cụ thể, phù hợp.
- Hướng dẫn học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ
cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các
chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh, thao tác đưa bút
đúng quy trình.
- Để thực hành luyện viết đạt kết quả tốt, học sinh cần có ý thức chuẩn bị
và sử dụng có hiệu quả một số đồ dùng học tập thiết yếu: Bảng con, phấn trắng
(hoặc bút dạ), khăn lau, bút, vở...
Giáo viên cũng cần chú ý đến tư thế ngồi viết; cách cầm và điều khiển viên
phấn; cách cầm bút; cách để vở, xê dịch vở khi viết; cách trình bày bài. Tư thế
đứng phát biểu: đứng thẳng, mắt nhìn thẳng vào cô giáo hoặc người cần trả lời
(tuyệt đối không vòng tay trước ngực khi trả lời). Khoảng cách và kĩ thuật cầm
bút: Cầm bút cao từ 2 - 2,5 cm; cầm bút bằng 3 ngón tay; dứt khoát phải kiểm
soát được kĩ thuật và khoảng cách cầm bút của học sinh trước và trong khi các
em viết chữ (điều này cần có thủ thuật). Để học sinh có thói quen cầm bút đúng
khoảng cách và viết nhẹ tay, giai đoạn đầu dứt khoát phải yêu cầu học sinh sử
dụng bút chì do chính cô giáo gọt.
Khi đọc chính tả, trong quá trình học sinh viết giáo viên có thể hỏi học sinh
xem viết đúng chưa? Nếu sai bạn bên cạnh nhắc và viết lại, không tẩy xóa chỉ gạch
chữ sai ở dưới chân và viết ra bên cạnh, giáo viên cần quan sát học sinh liên tục. Khi
học sinh không viết được thì giáo viên cho học sinh phân tích lại để viết, yêu cầu tùy
theo đối tượng học sinh trong lớp để giáo viên giao bài viết cho phù hợp.
Ví dụ: khi dạy chữ thì cần chú ý bộ nét, cơ bản là dạy đặt bút, chấm tọa
độ, kéo viết, kết thúc, tên nét phải nắm và thuộc, học sinh quên giáo viên cho học
sinh nhắc lại để nhớ, củng cố cho học sinh viết các nét và thuộc các nét.
kịp thời hỗ trợ không để các em chán nản, mất hứng thú trong học tập.
Tự đánh giá là một khâu rất quan trọng trong đánh đánh giá thường xuyên.
Một tiết học diễn ra nếu thiếu sự tương tác giữa học sinh với học sinh thì tiết học
sẽ trở nên đơn điệu, không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh,
đồng thời bầu không khí lớp học sẽ thiếu sự nhẹ nhàng, tự nhiên; Nên trong quá
trình dạy học, tôi luôn đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa học sinh
với học sinh. Tạo cơ hội cho các em có kĩ năng nghe - chia sẻ ý kiến - sửa sai
giúp bạn và tự sửa sai cho mình. Các em sử dụng các kĩ năng ấy thường xuyên
trong các tiết học trở thành một thói quen, tạo nề nếp học tập tốt. Qua quá trình
nghe để nhận xét, sửa sai giúp bạn, sẽ giúp học sinh tự điều chỉnh, sửa sai cho
mình. Đồng thời còn rèn luyện cho các em tác phong mạnh dạn, tự tin trong góp
ý, trao đổi, trình bày ý kiến, góp phần hình thành nhân cách toàn diện. Thực hiện
thường xuyên như thế sẽ tạo được bầu không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện,
đảm bảo được mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực.
2.2.7. Xây dựng môi trường học tập thân thiện
Phần lớn học sinh ở vùng khó thường có đặc tính rụt rè, nhút nhát, các em
thường ít chủ động tham gia vào các hoạt động học tập. Sự rụt rè, nhút nhát ấy cũng do
12
một phần các em chưa có sự chuẩn bị cho một môi trường mới, nơi có bạn bè, thầy cô
và các hoạt động học tập đặc trưng.
Trong môi trường học tập thân thiện, tích cực học sinh sẽ được phát huy
năng lực học tập của mình ở trạng thái tốt nhất. Do vậy, việc tạo một môi trường
học tập thân thiện là rất cần thiết để giúp các em mạnh dạn, tự tin, hứng thú tham
gia các hoạt động học tập, yêu thích đến lớp, đến trường.
Giáo viên cần nắm được hoàn cảnh gia đình và đặc điểm tâm sinh lí của
mỗi học sinh, mặt mạnh và mặt còn hạn chế của các em, nên ghi nhận những
thông tin ấy vào trong sổ tay riêng. Để biết được tính cách học sinh, giáo viên có
2.2.8 Làm tốt công tác tuyên truyền giúp phụ huynh học sinh hiểu về
phương pháp dạy Tiếng Việt 1 - CGD:
Cha mẹ học sinh là một trong những lực lượng gián tiếp tác động đến chất
lượng học tập TV1 CGD. Cha mẹ cần quan tâm, nhắc nhở con em trong học tập.
Không bắt các em nghỉ học phụ việc gia đình, cho các em học trước chương trình
hay dạy không đúng cách đều có tác động xấu đến các em. Vì vậy, nhà trường, giáo
viên và cha mẹ học sinh cần tăng cường sự hợp tác chặt chẽ với nhau.
Bởi vậy, Ngay từ lần họp phụ huynh đầu năm học tôi đã chia sẻ, giải thích
về phương pháp dạy học mới, về điểm ưu việt cái hay, cái khoa học của Tiếng
Việt 1 - CGD để phụ huynh học sinh hiểu và yên tâm về chương trình nhằm tạo
được sự đồng thuận trong quá trình thực hiện. Tuyên truyền trong phụ huynh và
các lực lượng xã hội làm cho phụ huynh vững tin vào CGD, không nóng vội. Yêu
cầu phụ huynh tuyệt đối không tự dạy đọc viết ở nhà khi không có sự kiểm soát
hoặc yêu cầu của giáo viên.
Tôi đã tư vấn cho phụ huynh một số kĩ thuật dạy học Công nghệ giáo dục,
cách phát âm, cách đọc và cách hướng dẫn con em học tập ở nhà.
Ngoài ra, tôi đã mời phụ huynh vào dự giờ xem cách dạy của giáo viên để
biết được phương pháp dạy Tiếng Việt 1 - CGD và hiệu quả của chương trình này.
Phụ huynh tham gia dự giờ tiết học tiếng Việt 1 CGD
2.3. Kết quả đạt được:
Từ quá trình thực hiện những giải pháp trên đã đem lại những kết quả đáng
khích lệ sau:
14
- Phụ huynh đồng thuận, nhất trí cao về việc thực hiện chương trình TV1CGD. Qua các tiết dự giờ phụ huynh đã hiểu được tính ưu việt và hiệu quả cũng
CGD hiểu rõ hơn về mục tiêu và nội dung của môn TV1 CGD và đưa ra được các
giải pháp để họ có thể tham khảo và vận dụng vào thực tiễn giảng dạy của mình
nhằm nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy. Góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo
dục.
Để thực hiện tốt mục tiêu của giáo dục đòi hỏi mỗi người giáo viên phải
nghiên cứu kĩ các giải pháp và áp dụng thực hiện tốt các giải pháp đó. Trước hết
cần xác định rõ mục tiêu, nội dung dạy học TV1 CGD. Xác định rõ mục tiêu sẽ là
cơ sở để chúng ta thực hiện tốt nhiệm vụ đặt ra. Đồng thời đổi mới phương pháp
dạy học nhằm tích cự hóa hoạt động của học sinh.Giải pháp này không chỉ cho
học sinh mà còn có giá trị như một giải pháp đổi mới phương pháp giáo dục và
phương pháp quản lý cho giáo viên. Với học sinh, kết quả học tập không chỉ là
Tiếng Việt, mà còn là phương pháp tư duy ngôn ngữ và các quan hệ học tập hiện
15
đại. Ngoài ra, để dạy học TV1 CGD có hiệu quả chúng ta cần chú ý đến nhóm
biện pháp hỗ trợ. Nếu thực hiện tốt nhóm hỗ trợ xem như chúng ta đã thành công
được một nửa trong dạy học TV1 CGD.
Mỗi biện pháp có ý nghĩa và chức năng khác nhau nhưng giữa chúng có sự
liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.Vì thế, cần phải thực hiện các biện pháp trên
một cách đồng bộ. Đồng thời, để thực hiện được các biện pháp này cần có sự chỉ
đạo, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp; sự nỗ lực của bản thân giáo viên các trường
tham gia dạy học TV1 CGD nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học này.
3.2. Kiến nghị, đề xuất:
Về phía Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán
bộ quản lý và giáo viên dạy Công nghệ giáo dục vào dịp bồi dưỡng hè, đảm bảo
100% giáo viên tham gia giảng dạy và 100% các trường áp dụng có cán bộ quản
lý và giáo viên được tập huấn phương pháp dạy học Công nghệ giáo dục.
Về phía nhà trường: Tiếp tục thực hiện tốt việc bố trí giáo viên giảng dạy
lớp 1 là những giáo viên vừa có kiến thức, kinh nghiệm, vừa nhiệt tình trong công