MỤC LỤC
PHẦN
I
II
III
NỘI DUNG
MỞ ĐẦU
2
1. Lí do chọn đề tài
2
2.Mục đích nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
3
4. Phương pháp nghiên cứu
3
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
13
I. Mở đầu:
1. Lí do chọn đề tài:
1
TRANG
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách nhanh chóng như hiện
nay thì đô thị hóa là quá trình tất yếu của tất các các nước trên thế giới, trong đó
có Việt Nam. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra càng
nhanh. Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân
dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà nó mạng lại thì những ảnh hưởng
mà quá trình đô thị hóa gây ra cũng không phải là nhỏ; đặc biệt là sự thay đổi
trong hệ giá trị, trong lối sống của người dân vùng đô thị hóa, nhất là vùng nông
thôn và miền núi.
Huyện miền núi Ngọc lặc của tôi hiện tại cũng là một vùng đang được đô
thị hóa. Cuối năm 2016, huyện có quyết định lên đô thị loại IV. Khỏi phải nói
người dân khắp nơi vui mừng khôn xiết vì từ đây huyện sẽ được đầu tư thêm
nhiều cơ sở hạ tầng, nhiều công trình mới sẽ được mọc lên như trung tâm
thương mại, các khu đô thị mới…Cũng chính vì thế người nông dân bị mất đất
rất nhiều, cộng thêm đời sống ngày càng cao nên người nông dân dần từ bỏ
ruộng nương, đất đồi để đi làm ăn xa là tất yếu vì thực tế quỹ đất làm ruộng đã
giảm, chỉ dựa vào đồng ruộng không đủ để trang trải chi phí. Hầu hết những
4. Nhóm các phương pháp nghiên cứu:
a. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu lí luận.
- Phương pháp phân tích tổng quan các nguồn tài liệu đã thu thập được.
b. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát học sinh thông qua cá hoạt động học và hoạt
động tập thể
- Phương pháp điều tra: Xem học bạ, lí lịch, trò chuyện, trao đổi bộ môn, với
cha mẹ các em , với thầy cô giáo cũ hoặc qua trao đổi trực tiếp với học sinh, sử
dụng hình thức trắc nghiệm để hiểu rõ đặc điểm của từng em.
- Phương pháp thử nghiệm: Đưa ra một số giải pháp giáo dục và áp dụng vào
thực tế tại lớp 10a9- trường THPT Ngọc Lặc.
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
1. Cơ sở lí luận:
1.1.Vai trò của giáo dục đối với trẻ em tuổi vị thành niên.
Giáo dục ở mỗi cấp học, mỗi lứa tuổi đều có những khó khăn riêng. Đặc
biệt, đối với cấp trung học phổ thông, khi các em bắt đầu lứa tuổi “ tập làm
người lớn” thì việc giáo dục lại càng khó khăn và phức tạp. Ở lứa tuổi này, cùng
với sự phát triển về thể chất , đời sống tinh thần, tâm lí, tình cảm cũng trải qua
nhiều biến đổi sâu sắc. Đồng thời với sự biến đổi như vậy thì khi lên cấp 3, các
em còn chuyển sang một môi trường mới, thầy cô, bạn bè, môi trường sinh hoạt
mới. Mặc dù giai đoạn dậy thì có tầm quan trọng như vậy nhưng ít người có hiểu
bíết về kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến sức khỏe cùng nhu cầu hỗ trợ
xã hội của lứa tuổi này. Nói chung tuổi dậy thì là một thời kì phức tạp. Bản thân
các em và người lớn cũng chưa thật sự hiểu rõ ràng. Các hậu quả của sự thiếu
hiểu cần thiết không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến bản thân các em mà còn
gián tiếp ảnh hưởng đến nguồn lực xã hội, tới sự phát triển kinh tế - xã hội và
tương lai của đất nước. Chính vì vậy gia đình, nhà trường và đặc biệt là giáo
viên chủ nhiệm có vài trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục học sinh , giúp
các em nhận thức được những điều đúng đắn, có những suy nghĩ tích cực, xác
người. Đó là sự thay đổi về quan điểm sống, về cách nhìn nhận cũng như về đạo
đức của đa phần học sinh ở lứa tuổi cấp 3.
Theo thống kê của nhà trường, mấy năm gần đây, từ giữ học kì 1 đến cuối
năm lớp 10, số học sinh bỏ học, vi phạm nội quy tăng lên rất nhiều. Trong số đó
hơn một nửa là học sinh dân tộc ở các xã vùng sâu. Vậy nguyên nhân là do
đâu?
Năm 2016, tôi được Ban giám hiệu nhà trường giao chủ nhiệm lớp 10A9
lớp có tổng số 47 học sinh, chỉ có 3 học sinh là người kinh ở gần trường, còn lại
là các em người dân tộc thiểu số, nhà cách trường từ 10km trở lên và có đến 30
em nữ đều là dân tộc. Hầu hết các em sống với ông bà, họ hàng, thậm chí ở nhà
một mình, một vài em ở trọ do nhà quá xa, đường khó…Nói chung ở lớp tôi có
rất nhiều vần đề phức tạp, việc giáo dục kiến thức cho các em là quan trọng
nhưng với đặc thù của lớp học như vậy thì việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho
học sinh là điều quan trọng hơn, nhất là với học sinh nữ ở vùng dân tộc trong
giai đoạn phát triển đặc biệt này.
Về thuận lợi: Hầu hết các em nữ đều các em có sức khỏe tốt, thật thà, lễ phép.
Nhiều em có phương tiện đi lại như xe đạp điện nên ít phải lo lắng về quãng
đường đi của các em như trước đây. Đa số bố mẹ các em đều có điện thoại nên
việc trao đổi về viêc học tập và rèn luyện của các em cũng dễ dàng hơn.
Về khó khăn:
Thứ nhất :Đa số các em là người dân tộc thiểu số trình độ nhận thức còn gặp
nhiều hạn chế. Mặt khác, lần đầu tiên các em xa nhà, tiếp xúc với một môi
trường hoàn toàn mới, thấy nhiều bạn nữ ở phố mặc quần áo đẹp,” môi son má
phấn”, thậm chí có “người yêu” nên cũng rất dễ nảy sinh tử tưởng “học đòi” .
Vào tháng thứ 2 sau khi tôi nhận lớp thì đã xuất hiện 4-5 em từ chỗ ăn mặc giản
dị, giờ đã bắt đầu biết diện quần áo đẹp, tô son đỏ chót ( L.Anh, Dung,
H.Quỳnh, Nguyệt…), hỏi lấy tiền ở đâu mua son, các em chỉ cười bẽn lẽn; có
vài em thường nghỉ học không có lí do, tôi điện đến thì phụ huynh bảo rằng em
không đi học vì không có xe đạp điện, “giờ các bạn đều đi xe đạp điện hoặc xe
4
đã được vào. Do đó chất lượng đầu vào yếu, học sinh có lực học rất yếu. Đồng
thời khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào các đối tượng là con em
dân tộc thiểu số thì hầu như không có hiệu quả bởi đặc điểm của học sinh vùng
khó ngại giao tiếp, e dè, thậm chí tiếng Kinh các em nói còn ngọng ngịu khiến
các em học không tiếp thu được bài học. Và có lẽ cũng do chương trình sách
giáo khoa chưa phù hợp đối với học sinh vùng khó, vùng đặc biệt khó khăn nên
các em cảm thấy áp lực trong việc học tập. Cộng thêm không có bố mẹ ở bên
đôn đốc, nhắc nhở nên hầu như việc học cũ ở nhà rất ít, lại do không tiếp thu
được bài nên tình trạng không ghi bài hoặc ghi bài đối phó, ngủ trong lớp hay sử
dụng điện thoại trong lớp cung diễn ra.
Thứ sáu: Những năm gần đây, các anh chị sinh viên mà các em quan biết ra
trường thất nghiệp nhiều, phải đi làm ăn xa, về quê buôn bán hoặc đi làm công
nhân; mà “làm công nhân rất nhanh có tiền, lại mua được điện thoại nhanh
hơn, lương còn cao hơn cả cô giáo ấy chứ!”- nhiều em đã phát biểu như vậy.
Chính vì thế các em chỉ xác định đi học cấp 3 “cho vui”, rồi may mắn thì “lấy
cái bằng” về đi làm. Khổ nỗi, lại chả bao giờ chịu học bài.
5
Thứ bảy: Một vài em nữ đã biết yêu nên biết làm dáng, thậm chí thi thoảng còn
trốn học đi chơi như em Phạm Thị Giang, em Phạm Thị Hằng…
Trên đây là những thực trạng còn tồn tại trong lớp. Tất nhiên không phải
tất cả các em đều có biểu hiện tiêu cực như vậy, hiện tại vẫn có nhiều em giản
dị, chăm chỉ học bài, chấp hành tốt nội quy lớp học. Đây không phải là lần đầu
tôi nhận một lớp toàn học sinh vùng dân tộc nhưng là lần đầu tiên tôi tiếp nhận
đối tượng học sinh dân tộc hoàn toàn khác xa với những em tôi đã từng chủ
nhiệm. Học trò dân tộc những năm trước các em chỉ chậm tiến bộ, học lực yếu
còn nhừng điều tồn tại như hiện nay là hoàn toàn rất ít phổ biến.
Vài tuần đầu nhận lớp mọi việc không có gì đáng lo vì phần lớn các em
nữ đều tương đối thuần. Tôi chỉ chú ý nhiều đến một số em nam nghịch ngợm.
tôi chủ động giáo tiếp với các em bằng tiếng dân tộc. Ngoài ra các giờ lao động,
tôi chủ động “ nói chuyện phiếm”, chuyện cười, kể chuyện hài hước cho các em
nghe. Trong giờ học thể dục, những giờ bóng chuyền hay đá cầu, tôi thường xin
6
phép giáo viên để chơi cùng với các em, nếu không biêt tôi chủ động nhờ các
em hướng dẫn vì những em ở các làng, xã thường chơi bóng chuyền rất giỏi. Từ
những câu chuyện đơn giản, để các em cảm thấy gần gũi , có thể rút ngăn
khoảng cách cô- tṛ, các em sẽ cảm thấy tin tưởng và có thể gửi gắm những tâm
sự thầm kín của mình vì trên thực tế học sinh dân tộc về bản chất vẫn còn rất rụt
dè, nhút nhát, ngại bộc lộ những tâm tư, tình cảm của mình.
Ngoài ra, tôi cũng chủ động cùng với các em trong ban cán sự lớp tranh
thủ thời gian đến thăm nhà học sinh. Trước hết là những em ở xa trường nhất,
những em có hoàn cảnh khó khăn vì tôi hiểu rõ ở vùng đồng bào dân tộc, khi
được cô giáo đến chơi nhà, đồng bào rất quý và trân trọng.
3.2 Giải pháp thứ hai:
Sâu sát, tìm hiểu đối từng tượng học sinh để từ đó đưa ra phương
pháp giáo dục phù hợp. Tôi dựa trên nguyên tắc : Muốn giáo dục một con
người phải hiểu rõ con người đó.
Có rất nhiều cách để tìm hiểu các em. Trước hết bằng sự quan sát của cá
nhân; vì là giáo viên chủ nhiệm nên tôi có nhiều thời gian để tiếp cận với các
em. Mặc dù một tuần chỉ có 2 tiết trên lớp nhưng những thòi gian rảnh dỗi tôi
thường đi kiểm tra xem ý thức học của các em trong các giờ học khác thế nào,
có em nào có biểu hiện khác thường hay không. Ngoài ra thông qua học bạ, qua
các thầy cô giáo bộ môn, hay gặp gỡ, trao đổi trực tiếp, gọi điện thoại với bố mẹ,
ông bà, với người giám hộ các em, những bạn bè thân thiết hay thông qua cán bộ
lớp để hiểu rõ hơn về tính cách, tâm lí của học sinh.
Một cách tìm hiếu phổ biến mà tôi hay sử dụng đó là dành thời gian cho
các em làm một bài trắc nghiệm . Ở đây tôi chủ yếu sử dụng câu dạng câu hỏi vì
D. Tìm hiểu về một số môn học.
Câu 4: Hiện nay em thích học nhất môn nào? ……..Sợ nhất môn nào? ………….
( ghi cụ thể môn học em thích, không thích). Lí do…………………..
Câu 5:Hiện tại mục tiêu hoặc điều em mong muốn là gì:
A. Được sống cùng bố mẹ.
B. Được đi chơi thoái mái, làm điều mình thích.
C. Cố gắng học thật tốt.
D. Làm việc có ý nghĩa như làm từ thiện…
+) Trong tiết sinh hoạt cuối tuần của tháng đầu tiên của năm học và ở cuối Học
kì I, mỗi em sẽ về nhà viết vào một tờ giấy : 10 điều em càm thấy hài lòng về
cồ, 10 điều chưa hài lòng. Những gì các em viết ra sẽ được bí mật.
Từ những cách thức như trên tôi có thể hiểu rõ cuộc sống, suy nghĩ,
những việc làm của các em, hiểu được điều các em mong muốn. Từ đó điều
chỉnh bản thân và có phương pháp giáo dục phù hợp.
3.3. Giải pháp thứ ba: Tạo ra những diễn đàn chung, hướng các em vào
sinh hoạt tập thể, giúp các em có những kĩ năng nhất định, phát huy được
năng lực ,tự tin về bản thân, xác định được đúng định hướng- mục tiêu của
cuộc sống.
Học sinh dân tộc tuy khá thật thà nhưng lại rất bảo thủ và khó tiến bộ, để
làm thay đổi nếp sinh hoạt, nếp nghĩ hay tư tưởng là một việc khá khó khăn và
cần có nhiều thời gian. Chính vì vậy, cứ hai tuần một lần vào tiết sinh hoạt hoặc
có thể vào sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tôi tổ chức giáo dục về các vấn đề tình yêu,
tình bạn ở lưá tuổi học trò, lối sống hiện nay của giới trẻ, các kĩ năng sống cơ
bản, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản. Tôi chú trọng nhiều đến vấn đề yêu
sớm, sức khỏe - giới tính, kĩ năng bộ lộ bản thân, kĩ năng thoát khỏi sự cám dỗ
vì học sinh dân tộc thường yêu sớm, khả năng ngôn ngữ khá chậm, dễ tin
người..
Với mỗi vấn đề tôi thường đưa ra nhiều phương pháp khác nhau để các
em có thể tiếp cận một cách dễ dàng.
Ví dụ 1:
bình hoặc yếu, cũng có những kiến thức các em bị “mất gốc” từ cấp hai nên tâm
lí các em rất ngại học. Mỗi tiết học trên lớp đều trải qua khá nặng nề do thường
xuyên không học bài cũ bị thầy cô phạt, không tiếp cận được với phương pháp
học tập kiểu mới. Nhất là môn Hóa của tôi là “ môn khủng khiếp số một”. Vì
vậy nên tôi chủ động chỉ dạy thật đơn giản, dạy những kiến thức cơ bản nhất, có
kết hợp với hình ảnh hay thí nghiệm. Cuối tiết học, tôi cho các em dựa vào sách
giáo khoa và những gì thể hiện trên bảng, giao cụ thể câu hỏi kiểm tra bài cũ về
nhà. Vì đã giao về trước nên ai không học sẽ bị phạt tưới cây hoặc mang phân
bón cho cây; tuy nhiên những em nào có lực học yếu chỉ yêu cầu mức điểm 5 trở
lên, với học sinh trung bình cần mức điểm 7. Tiết sinh hoạt cuối tuần, ba bạn
được cộng điểm cao nhất sẽ trở thành “gương mặt tiêu biểu của tuần” và được
thưởng. Bên cạnh đó tôi hướng dẫn mỗi học sinh tự lập cho mình 1 bảng mức độ
kiến thức từ dẽ đến khó và mục tiêu học tập cần đạt được phù hợp với bản thân
theo tháng ( vì các em tiếp thu khá chậm nên tháng đầu tiên của năm học tôi sẽ
hỗ trợ cho các em, những tháng sau các em tự lập).
Ví dụ: với môn Hóa học
Tháng 9
Mục tiêu
Tuần 1
Tuần 2
Tuần 3
Tuần 4
Kiến thức
Nắmđược
Nhớ hóa trị ……
……….
tên,kí
hiệu của
các
hóa học của 1 nguyên tố phổ
Với những hoạt động tập thể thường xuyên như vậy, học sinh sẽ học được
cách biết yêu thương, biết chia sẻ, cùng đoàn kết trong học tập, rèn luyện cũng
như trong cuộc sống.
3.6. Giải pháp thứ 6: Tạo cầu nối chặt chẽ với phụ huynh. Trao đổi, tư vân
để giáo dục học sinh một cách có hiệu quả.
Đây là một giải pháp không có ǵ mới nhưng là một giải pháp vô cùng
quan trọng vì để giáo dục học sinh một cách có hiệu quả thì cần có sự phối hợp
của cả gia đình và nhà trường, vì gia đình chính là nền tảng để các em phất triển
nhân cách tốt nhất. Tuy nhiên, đặc điểm của đồng bào dân tộc là đa phần trình
độ dân trí còn thấp, nhận thức còn hạn chế, nhiều cha mẹ còn nghe theo hay quá
tin tưởng con cái. Mặt khác cũng có ưu điểm là rất thật thà, tin tưởng thầy cô
nên bản thân tôi chủ động thường xuyên lien lạc qua điện thoại, gặp gỡ trực tiếp
tại trường, thậm chí tại nhà riêng của phụ huynh để trao đổi về tình hình học tập
và rèn luyện. Ngoài ra còn có có thể trở thành người tư vấn để phụ huynh có thể
dạy cho con mình những kiến thức cơ bản về giới tính, về những đặc điểm tâm
sinh lí của con mình ở lứa tuổi này.
4. Hiệu quả của sáng kiến:
Đối với hoạt độnggiáo dục học sinh:
Đầu năm theo thu thập thông tin từ nhiều hướng và bằng quan sát tôi đã
lập bảng theo dõi từng học sinh trong lớp theo đặc điểm tính cách, hoàn cảnh,
điểm mạnh, điểm yếu. Qua một quá trình áp dụng sang kiến, tính đến hết học kì
một tôi đã thu được một số kết quả nhất định, tiêu biểu như:
1. Một số em yêu sớm như em Phạm Thị Giang A, Quách Linh Anh, Phạm
Thị Hằng thường bỏ học đi chơi với bạn trai, sau buổi tư vấn về tình yêu ở
lứa tuổi học trò đã không còn tình trạng bỏ học, có nhiều cố gắng trong
học tập.
10
Em Phạm Thị Giang B dù hoàn cảnh không được khá giả, nhưng đầu năm
nhiều; đồng thời trong một lớp cũng xuất hiện nhiều đối tượng rất khác nhau.
Vậy làm thế nào để giáo dục các em phát triển theo chiều hướng tích cực, làm
tiền đề cho sự phát triển sau này? Tôi đã trải qua nhiều ngày suy nghĩ là tìm ra
những biện pháp thích hợp với đối tượng học sinh của lớp.
Trong quá trình thực hiện, tôi đã rút ra được nhiều bài học cho bản thân
cũng học được cách điều chỉnh bản thân vì muốn thay đổi được người khác
trước hết bản thân mình phải thay đổi, mỗi học sinh là một đối tượng giáo dục
khác nhau, phải hiểu rõ đối tượng mình cần giáo dục đề từ đó có những phương
pháp giáo dục phù hợp thì mới mang lại hiệu quả.
Cùng với những sự tin tưởng của học trò, đó chính là động lực, là niềm tin
giúp tôi thêm yêu nghề, yêu cuộc sống.
Đối với đồng nghiệp: Từ bài học của bản thân lần đầu và sự thành công về sau
tôi đã giúp cho một số đồng nghiệp trong trường trong công tác chủ nhiệm khi
11
gặp đối tượng học sinh như trên chúng tôi cùng đưa ra thảo luận và áp dụng khá
hiệu quả với nhiều lớp có đối tượng học sinh tương tự.
III. Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận:
Giáo dục trẻ vị thành niên ở bất kì hoàn cảnh nào cũng chưa bao
giờ là dễ dàng. Nhất là trong thời điểm hiện tại, ngay cả trẻ em dân tộc miền núi
cũng “ bị đô thị hóa” thì việc giáo dục lại càng khó khăn hơn nhưng không phải
là không thể làm được. Nhận thức và xác định đúng đắn vai trò và tầm quan
trọng của lứa tuổi vị thành niên trong sự phát triển của cuộc đời mỗi học sinh
nói riêng và của xã hội nói chung giúp cho việc giáo dục toàn diện và đầy đủ
hơn. Đối với việc giáo dục học đường mà đối tượng học sinh là người dân tộc
thiểu số càng cần một tấm lòng yêu nghề, nhiệt huyết, sự kiên trì và phải hiểu rõ
tâm lí học sinh dân tộc thiểu số đổi mới phương pháp giảng dạy để lôi cuốn học
sinh, có phương pháp giáo dục phù hợp với từng em chắc chắn sẽ tạo được hiệu
tôi viết, không sao chép nội dung của
người khác.
( Ký và ghi rõ họ tên)
Lê Thị Thu Hà
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tâm lý học đường – một số vấn đề lý luận và thực tiễn ( PGS. TS Lê Khanh)
2. Tổ chức học tập cho học sinh dân tộc, miền núi ( Nhà xuất bản Đại học sư
phạm - Phạm Hồng Quang)
3. Tài liệu tập huấn giáo viên chủ nhiệm và công tác tư vấn tâm lý – giáo dục
cho học sinh trung học ( Bộ giáo dục và đào tạo – chương trình phát triển giáo
dục phổ thông)
4. Kĩ năng và các tình huống ứng xử sư phạm ( Trần văn Tính NXB ĐHQG Hà
Nội)
6. UNICEF VIỆT NAM, 2007 tập huấn kỹ năng cơ bản trong tham vấn. Hà nội
7. Phát triển kỹ năng sống cho học sinh trung học ( NXB ĐHQG Hà Nội – Đinh
Thị Kim Thoa)
13