Phần I: Mở đầu
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Đảng ta, dân tộc ta coi trọng sự nghiệp giáo dục - đào tạo là sự
nghiệp cách mạng cực kỳ quan trọng, Nghị quyết Trung ương II khoá
VIII đã khẳng định: "Giáo dục là quốc sách hàng đầu". Giáo dục làm
nhiệm vụ hết sự vẻ vang, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước. Những lớp người có đức, có tài, có sức
khoẻ để góp phần xây dựng nước nhà như lời Bác dạy trong thư gửi
học sinh nhân ngày khai trường năm 1945:
"Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc
Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay
không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu...".
Vì vậy giáo dục - đào tạo là một trong những nhân tố quyết định
thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Giáo dục phổ thông, trong đó giáo dục ở bậc THCS có một vị trí hết
sức quan trọng, bởi vì hết bậc tiểu học học sinh bước sang một giai
đoạn mới, có nhiều thay đổi về môi trường: Thầy, cô mới và được
nhiều thầy, cô dạy trong một buổi học. Phương pháp dạy cũng khác
hơn so với bậc tiểu học. Tâm lý của các em cũng có sự thay đổi, các
em đang tập làm người lớn, muốn bắt chước người lớn. Chính vì vậy
giáo viên phải nắm được tâm lý học sinh và có phương pháp giáo dục
phù hợp để vừa truyền thụ kiến thức cho các em, vừa có tác dụng giáo
dục hình thành nhân sách cho các em qua mỗi bài học, mỗi tiết dạy.
Nghị quyết TW II khoá VIII đã nêu "giáo viên là nhân tốt quyết định
chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh". Sản phẩm của giáo
dục là con người có đủ trình độ và năng lực để chinh phục và cải tạo
thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ con người và cải tạo xã hội
ý quan sát, nghiên cứu việc hình thành và phát triển nhân cách
học sinh ở vùng đồng bào dân tộc địa bàn xã Cưêbur.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
- Học sinh vùng dân tộc thiểu số trong trường THCS Hàm Nghi
- Nghiên cứu một số giải pháp trong việc xây dựng và hình thành nhân
sách cho học sinh THCS vùng đồng bào dân tộc.
2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
* Giả thiết khoa học và thực tiễn:
Việc giáo dục phát triển nhân sách cho con người cần phải có thời
gian thường xuyên và liên tục. Chính vì vậy việc hình thành nhân
cách cho học sinh vùng dân tộc cần phải được tiến hành liên tục
trong nhiều năm, theo kết quả khảo sát qua các khoá học tôi đã
đi sâu nghiên cứu đề tài này và đánh giá kết quả đạo đức học sinh ở
lớp chủ nhiệm và thời gian trực tiếp giảng dạy trên lớp trong những
năm học gần đây tại trường THCS Hàm Nghi, xã Cưêbur, thành phố
Buôn Ma Thuột.
III. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
1. MỤC ĐÍCH:
- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hình thành nhân cách
XHCN cho học sinh THCS vùng đồng bào dân tộc. Nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.
2. NHIỆM VỤ
Hơn nữa việc giáo dục học sinh thuộc vùng kinh tế khó khăn, vùng
đồng bào dân tộc tiểu số (với gần 50% HS dân tộc trong một lớp) có ý
thức về đạo đức lối sống và phương pháp học tập là việc cực kỳ khó
và gian nan. Tôi đã có nhiều suy nghĩ trăn trở, đặc biệt chú ý quan sát,
nghiên cứu việc hình thành và phát triển nhân sách học sinh ở vùng
đồng bào dân tộc địa bàn xã Cưêbur.
2. Phương pháp thực tiễn quá trình chủ nhiệm lớp:
Trong quá trình chủ nhiệm lớp tôi nhận thấy thời gian tiếp xúc
giữa thầy và trò đây là phương pháp có thể tìm hiểu và điều tra
học sinh một cách nhanh nhất. Vì đây là những nguyện vọng và
những yêu cầu của các em đối với sự phát triển và hình thành
nhân cách sống đẹp, sống có ích. Mặt khác cũng cần có mối
quan hệ phối hợp giữa chủ nhiệm với gia đình học sinh và nhà
trường cùng với các ban ngành và địa phương một cách thiết
thực có hiệu quả. Chúng ta phải dành thời gian để có những
buổi nói chuyện, tìm hiểu, nắm bắt tâm tư tình cảm, nguyện
vọng của các em. Mối quan hệ của các em với bạn bè cùng
trang lứa. Hơn ai hết GVCN là người gần gũi các em, các em
luôn tin tưởng và coi đó là người cha - mẹ mình cần tâm sự.
Thế nhưng trên thực tế cũng có một bộ phận chủ nhiệm chưa
thực sự quan tâm, gần gũi, không phải là điểm tựa tinh
thần cho các em.
3. So sánh kết quả:
Đây là phương pháp góp một phần nho nhỏ vào thực tế chất
lượng giáo dục, xây dựng và hình thành nhân cách cho học
sinh vùng dân tộc thiểu số trường THCS Hàm Nghi.
các ban ngành, các tổ chức chính trị xã hội của toàn xã hội. Năng lực
của đội ngũ, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học, các
trang thiết bị, đồ dùng dạy học. Chính là nhờ một phần lớn vào năng
lực, trình độ khoa học của những người giáo viên. Như triết học Mác
– Lê Nin đã khẳng định: "Vai trò to lớn của cá nhân trong tập thể".
Vì vậy xây dựng đội ngũ giáo viên trong giáo dục là cả vấn đề hết
sức quan trọng trong quá trình dạy học.
Đội ngũ giáo viên trường THCS Hàm Nghi có trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ chuẩn, có năng lực sư phạm, có phẩm chất đạo đức, có
tác phong mẫu mực, thương yêu học sinh, tôn trọng học sinh và thân
thiện gần gũi với học sinh, tiếp nhận và phân tích các nguồn thông tin
để có phương pháp thích ứng, phù hợp khi xử lý tình huống. Có ý thức
tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao tay nghề và có uy tín với phụ huynh
học sinh trong quá trình giáo dục.
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
I. Thuận lợi:
-Về đội ngũ giáo viên trường THCS Hàm Nghi: luôn giữ tư cách tác
phong của nhà giáo, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên
môn đồng đều, trường lớp ngày một khang trang hơn, cơ sở vật chất
dạy và học ngày càng khá đầy đủ hơn so với những năm trước đây.
Nhìn chung về lĩnh vực giáo dục ngày càng được Cấp uỷ, chính
quyền quan tâm hơn.
Đại bộ phận cán bộ giáo viên trong trường có tuổi đời trẻ, một đội ngũ
có năng lực và có tinh thần nhiệt huyết cao. Đoàn kết nội bộ tốt, tỉ lệ
giáo viên trên chuẩn cao: đạt 53 %.
- Về phía bản thân được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của BGH và tổ
chuyên môn cùng các anh chị em đồng nghiệp. Trình độ chuyên môn
nghiệp vụ vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, chịu khó học hỏi
thì coi việc giáo dục con cái là của nhà trường, cứ nghĩ học sinh đến
trường, học những gì giáo viên giảng là đủ rồi mà còn chưa chú ý đến
vấn đề tự học của học sinh. Một số bộ phận học sinh thì cha mẹ đi làm
thuê, em phải làm công việc nhà, chăm sóc em nhỏ… hay làm một công
việc gì đó ở ngoài đồng mà đáng lí ra thời gian đó học sinh phải ngồi trên
lớp hoặc thảo luận với bạn bè trong những giờ học nhóm.
Hầu hết gia đình không có thời gian vì còn bận kiếm kế sinh nhai,
lo toan cuộc sống hàng ngày.Chưa quản lí chặt chẽ con cái ngoài giờ
học. Một bộ phận PHHS đồng bào dân tộc tại chỗ có truyền thống tôn
trọng con cái, họ cho rằng con cái “có học thức” và “nó lớn rồi nó tự lo
liệu tự vận động, mình không can thiệp nó đâu”. Dẫn đến các HS hư
hỏng rủ bè, kéo phái, tụ tập, kích bác, chửi bới thô tục, à dua để đánh
nhau, cúp tiết, bỏ giờ, nghỉ học vô lí do.
- Tuy nhiên đối với bản thân và đồng nghiệp: Năng lực để tiếp cận,
để thăm nắm tình hình, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của học sinh,
của nhân dân còn nhiều hạn chế, do bất đồng ngôn ngữ. Vì thế chưa
thể hiểu hết và hòa nhập được với văn hóa truyền thống dân tộc ở địa
phương. Cho nên, còn gặp khó khăn trong phát triển công tác giáo
dục. Mặt khác, bản thân và các giáo viên của trường đều cư trú xa địa
bàn công tác từ 5km đến 10km, nên điều kiện đi lại gặp nhiều khó
khăn.
- Công tác giáo dục: nhìn chung các cấp học, việc duy trì sĩ số
đang là một vấn đề trăn trở. Trong các giờ học hầu hết đều có học sinh
cúp tiết trốn bài, hay ngồi trong lớp nhưng chỉ là sự bắt buộc cuả gia
đình hay chỉ vì sợ giáo viên bộ môn đó, chứ không nghĩ là học để làm
gì cho tương lai.
giáo phải có phương pháp giáo dục phù hợp để các em có được
những hành động đúng đắn trong các hoạt động.
Nếu các thầy, cô giáo có phương pháp giáo dục phù hợp thì sẽ khơi
dậy ở các em được những phong cách sống đẹp – ý thức trách nhiệm
của bản thân và hình thành một nhân cách mạnh mẽ, một nhân cách
tốt hướng tới sự phát triển những nét đẹp trong từng cá nhân, tạo ra
một lớp người, một thế hệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã
hội.
Nhưng dù ở lứa tuổi nào, cấp học nào các thầy, cô giáo cũng đã và
đang có phương pháp giáo dục phù hợp để phát triển nhân cách cho các
em. Nhân cách của cá nhân không sinh ra cùng một lúc với sự ra đời
của cá nhân, mà nó được hình thành và phát triển dần dần từ nhỏ đến
lớn và cần được bồi đắp trong suốt cả cuộc đời.
" Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên"
Vậy là nhân cách đã từng bước phát triển cùng với bản thân mỗi cá thể.
Nó là kết quả của cả một quá trình giáo dục, không chỉ trong nhà
trường mà còn là của gia đình và xã hội.
Theo quan niệm phổ biến hiện nay các thành tố của nhân cách xây
dựng nên từ tổng hợp các tính chất, tinh thần, các quá trình nhận
thức, các thái độ xúc cảm, tình cảm và hành động.
Ta có thể so sánh nhiều học sinh đồng bào ngồi trong lớp chăm chú
nghe giảng và ghi chép bài, khi thầy giáo đặt câu hỏi thì cố gắng
suy nghĩ trả lời nhằm vươn tới những gì thuộc về xu hướng tiến bộ
của xã hội. Ví dụ: như em Kso H’ Yên, Y Khoa Êban, Hồ Thị Nga,
Phương Thảo Niê, Đinh Thị Thu Hoài .v.v...của các khóa 20072008 luôn đạt học sinh khá- giỏi từ lớp 6 đến lớp 9. Còn một bên là