Một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức rèn luyện đạo đức và kĩ năng sống cho học sinh - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT MƯỜNG LÁT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO Ý THỨC
RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC VÀ KĨ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT MƯỜNG LÁT

Người thực hiện: Quách Thị Trang
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị công tác: trường THPT Mường Lát
SKKN thuộc lĩnh vực: chủ nhiệm

Mường Lát, tháng 5 năm 2019
1


MỤC LỤC
Trang
1.Mở đầu.................................................................................................. .
2
1.1.Lí do chọn đề tài...............................................................................2
1.2.Mục đích nghiên cứu........................................................................2
1.3.Đối tượng nghiên cứu.......................................................................3
1.4.Phương pháo nghiên cứu..................................................................3
2.Nội dung sáng kiến..................................................................................3
2.1.Cơ sở lí luận của đề tài..................................................................... 3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi nghiên cứu..........................................7
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giáo dục đạo đức, nâng cao kĩ năng
sống cho học sinh ở trường THPT Mường Lát..................................................8

thờ ơ, vô cảm đứng ngoài sự việc…
Đứng trước thực trạng trên, là một giáo viên chủ nhiệm nhiều năm, tôi
luôn mong muốn mỗi học sinh sau khi rời ghế nhà trường phải trở thành người
công dân tốt, một người có ích cho xã hội, vừa có tài nhưng phải vừa có đức. Vì
vậy, tôi chọn đề tài “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO Ý THỨC
RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC VÀ KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở
TRƯỜNG THPT MƯỜNG LÁT” làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đạo đức là một khái niệm cũ, kĩ năng sống là một khái niệm mới hơn.
Tuy nhiên trên thực tế hàng ngày mỗi người đã, đang đều hành động để thể hiện
nó. Nhưng để nhận thức đầy đủ về đạo đức, kĩ năng sống cần thiết thì không
phải ai cũng hiểu hết, đặc biệt là thế hệ trẻ lứa tuổi THPT, lứa tuổi đang có
những thay đổi quan trọng về tâm sinh lí, lứa tuổi của những “bộn bề” lo toan
3


chuẩn bị bước vào đời. Nghiên cứu vấn đề này, tôi mong muốn biết được những
nhận thức của học sinh về vấn đề đạo đức, đạo đức xã hội và kĩ năng sống hiện
nay, từ đó để có những biện pháp hướng dẫn, điều chỉnh những hành vi của các
em từ xa theo đúng chuẩn mực xã hội, phù hợp với lợi ích của cộng đồng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh lớp chủ nhiệm.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, xử lí thông tin.
Phương pháp điều tra.
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, xử lí thông tin.
Phương pháp thống kê.
2. Nội dung sáng kiến
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài.
2.1.1. Đạo đức xã hội là gì?

truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của
nhân loại. Đó là tinh thần cần cù, sáng tạo, yêu lao động; tình yêu quê hương,
đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sống và làm việc theo hiến pháp và pháp
luật, có lối sống văn minh, lành mạnh; có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc
tế cao cả.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội có cấu trúc phức tạp, bao gồm: ý thức
đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức.
Ý thức đạo đức: “Là ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực
hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại. Mặt khác, nó
còn bao hàm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người”. Với
tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận
thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống
chuẩn mực hành vi và những quy tắc đạo đức xã hội đặt ra; qua đó giúp con
người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện
những nghĩa vụ đạo đức. Về mặt cấu trúc, ý thức đạo đức gồm tình cảm đạo
đức, tri thức đạo đức, lý tưởng đạo đức, ý chí đạo đức. Trong đó, tình cảm thể
hiện cảm xúc của con người trước hiện tượng đạo đức, tri thức đạo đức giúp con
người lựa chọn cái gì nên làm và cái gì không nên làm; lý tưởng đạo đức quyết
định phương hướng, mục đích hoạt động của con người và ý thức đạo đức là
sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua khó khăn, trở ngại để thực hiện
hành vi đạo đức.[1]
Hành vi đạo đức: “Là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động
cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức” . Cụ thể hơn, hành vi đạo đức là những cử chỉ,
những việc làm của con người trong các mối quan hệ xã hội phù hợp với ý thức
đạo đức, với các chuẩn mực và các giá trị đạo đức.[1]

5


Để phân biệt một hành vi đạo đức hay phi đạo đức, không chỉ căn cứ vào

khích những chủ thể có đạo đức và hành vi tốt đẹp, đồng thời, phê phán, lên án
nghiêm khắc những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến người khác, đến cộng đồng;
6


Hai là, bản thân chủ thể đạo đức phải tự nguyện, tự giác điều chỉnh hành vi của
mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức của xã hội.[1]
- Chức năng nhận thức: Chức năng nhận thức của đạo đức bao gồm nhận
thức và tự nhận thức, bởi nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng nội vừa
hướng ngoại. Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống đạo đức
xã hội làm đối tượng, là quá trình cá nhân đánh giá, tiếp thu hệ thống những
nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tự nhận thức là quá trình tự đánh
giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi đạo đức của mình với
chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng. Bằng hai quá trình nhận thức ấy con
người đi đến sự nhận biết, phân biệt những giá trị: đúng - sai, tốt - xấu, thiện ác... hướng tới giá trị bao quát chân, thiện, mỹ. Từ nhận thức này, chủ thể hình
thành và phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống của mình.[1]
Ba chức năng của đạo đức có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự vận hành của
chức năng này là tiền đề, điều kiện của sự vận hành chức năng khác. Từ đó, con
người mới có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã
hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân để điều
chỉnh hành vi theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội.[1]
Lịch sử xã hội loài người đã khẳng định tầm quan trọng của đạo đức
trong quá trình tổ chức thiết lập, duy trì trật tự, ổn định và phát triển xã hội. Tùy
theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà sự tác động của đạo đức đến cá nhân
và xã hội có khác nhau. Vai trò của đạo đức được thể hiện như sau:[1]
- Đạo đức là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi
con người, một sự điều chỉnh hoàn toàn tự nguyện, tự giác, không vụ lợi trong
một phạm vi rộng lớn.
- Đạo đức góp phần nhân đạo hóa con người và xã hội loài người, giúp
con người sống thiện, sống có ích.

giá trị này được truyền lại nhằm giáo dục giúp cho con người sống có chuẩn
mực và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội. Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển
cá nhân, cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống và giúp cho con người xây
dựng một xã hội có văn hóa. Các kỹ năng sống có được thông qua rèn luyện. Kỹ
năng sống chỉ được hình thành thông qua giáo dục, đào tạo và rèn luyện. Các kỹ
năng sống có liên quan và hỗ trợ cho nhau. Ví dụ: kỹ năng tư duy sáng tạo giúp
cho con người tăng khả năng giải quyết vấn đề và đưa ra các quyết định.Giáo
dục kỹ năng sống là rất quan trọng và cần thiết cho trẻ nhỏ. Giáo dục kỹ năng
sống giúp cho trẻ phát triển nhân cách, thể chất, tình cảm, giao tiếp, ngôn ngữ,
tư duy một cách toàn diện, là nền tảng để trẻ tự tin bước vào giai đoạn tiểu học.
[4]
– Về thể chất: giáo dục kỹ năng sống giúp cho học sinh tăng cường thể
chất, sự kiên trì, bền bỉ, tháo vát… thông qua các bài học và các hoạt động vận
động trong quá trình dạy kỹ năng sống. học sinh sẽ được rèn luyện sự dẻo dai,
khéo léo, kiên trì, giúp cho các em nhanh thích ứng với các điều kiện sống thay
8


đổi.
– Về tình cảm: giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh biết lắng nghe, chia
sẻ, sống có trách nhiệm, biết yêu thương, biết ơn công lao của cha mẹ.
– Về giao tiếp - ngôn ngữ: giáo dục kỹ năng sống cho học sinh giúp học
sinh tự tin, giao tiếp hiệu quả, đặc biệt rèn luyện cho các em biết lắng nghe, nói
chuyện lễ phép, hòa nhã.
– Về nhận thức: giáo dục kỹ năng sống giúp cho học sinh có một nền
tảng kiến thức, ham mê hiểu biết, khám phá, xây dựng cho học sinh niềm ham
mê học tập suốt đời.
Giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh có bước đệm chuẩn bị sẵn sàng cho
giai đoạn trưởng thành bước vào môi trường học tập hoặc làm việc mới.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi nghiên cứu

2.3. Các biện pháp đã sự dụng để giáo dục đạo đức, nâng cao kĩ năng
sống cho học sinh trong lớp
2.3.1. GVCN chủ động làm “bạn”, chia sẻ với học sinh trong lớp
GVCN là người thường xuyên theo sát lớp chủ nhiệm trên mọi hoạt động,
đồng thời phải nắm rõ tâm lí lứa tuổi của tuổi THPT: lứa tuổi muốn thể hiện
mình là người lớn nhưn tâm sinh lí chưa hoàn thiện, chưa được người lớn công
nhận nên hay gọi là cái tuổi “dở ông dở thằng”. GVCN phải nhạy bén trong việc
nắm bắt tâm lí học sinh bằng việc thường xuyên bám lớp, theo dõi các hoạt
động của học sinh, nắm bắt những thay đổi nhỏ nhất trọng tâm lí của mỗi học
sinh từ đó có biện pháp giúp các em có thể mở lòng tâm sự để có hướng khắc
phục, giải quyết một cách tích cực nhất. Bởi ở lứa tuổi này, các em rất dễ bị tổn
thương tâm lí khi áp lực học hành, áp lực từ cuộc sống mưu sinh, đặc biệt khi
mà học sinh ở trường THPT Mường Lát cũng như học sinh lớp tôi chủ nhiệm
nhiều em đã là trụ cột gia đình. Chẳng hạn như có trường hợp một học sinh
trong lớp ngày thường lúc nào cũng tươi cười, năng động, nhưng có một thời
gian em ít nói hẳn, đến lớp chỉ ngồi một góc, đôi mắt tỏ vẻ buồn và lo lắng.
Quan sát thấy trong nhiều ngày liên tục, tôi nhận thấy có điều không ổn, vì vậy
tôi đã gặp riêng em và hỏi chuyện. Lúc đầu em chỉ trả lời không có gì, nhưng
sau vài câu hỏi thăm, động viên, em đã khóc và kể lại chuyện gia đình. Khi đã
có được thông tin, tôi đã cố gắng trấn an em rồi động viên em để em hiểu được
rằng đó là chuyện người lớn, và cuộc sống này những chuyện như vậy với
người lớn là rất bình thường, rồi nó sẽ qua đi vì họ còn có em, họ sẽ không để
em phải lo lắng. Không biết cô bé hiểu được bao nhiêu nhưng ngay ngày hôm
sao em trở lại là chính em, hồn nhiên và vui vẻ. Còn nhớ có một học sinh nữ khi
học được hơn một học kì thì em làm đơn gửi đến GVCN xin chuyển lớp, lí do là
thường xuyên bị một nhóm bạn nam chọc ghẹo vì hoàn cảnh gia đình. Sau khi
tìm hiểu sự việc, GVCN đã gặp riêng học sinh nữ, rồi gặp riêng nhóm học sinh
nam, phân tích cho các em hiểu mỗi gia đình một hoàn cảnh, không ai hoàn hảo
10


kì tích rồi”. Cũng sau những chuyến đi ấy, các em có những hoạt động chung,
đôi khi chỉ là giúp nhau vượt qua con dốc hay dạy nhau cách làm một món ăn…
mà các em trở nên gần gũi nhau hơn. Từ chỗ chơi theo nhóm hay phân biệt này
kia thì giờ là bạn, ai cũng có thể nói chuyện được với nhau, chia sẻ với nhau, có
vấn đề gì khúc mắc là tìm ngay đến GVCN. Những điều tưởng như đơn giản đã
làm thay đổi lớn sự suy nghĩ của nhiều học sinh. Nằm ở vùng kinh tế đặc biệt
11


khó khăn, hàng năm học sinh nhà trường nhận được sự quan tâm rất lớn của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt là những suất học bổng, suất quà cho học
sinh nghèo vượt khó. Trước đây, mỗi khi có những sự kiện này, các học sinh
người Kinh hoặc một số học sinh gần thị trấn thường hỏi GVCN “sao chỉ các
bạn ấy được còn chúng em thì không trong khi lực học như nhau”. Nhưng từ
sau những chuyến đi thì câu hỏi này không còn được nhắc lại nữa mà thay vào
đó mỗi lần được hỏi “lớp xét cho cô một số bạn nhận học bổng hoặc quà đợt
này” thì ngay lập tức nhóm học sinh này giới thiệu các bạn mình và đồng ý tối
đa, cũng có khi có những học sinh nằm trong diện được xét học bổng nhưng từ
chối nhận nhường cho bạn khác điểm thấp hơn một chút với lí do bạn đã rất cố
gắng và gia đình bạn cũng còn nhiều khó khăn.
Tinh thần đoàn kết phải được xây dựng bên cạnh tính kỉ luật là tình yêu
thương, sự cảm thông, chia sẻ thực sự. Để làm được điều này GVCN cần là
người định hướng bằng nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực.
2.3.3. Chia tổ nhóm với các hoạt động chung
Việc thường xuyên chia nhóm trong các hoạt động giúp các em có cơ hội
tiếp xúc nhiều hơn với bạn bè trong lớp. Chia nhóm ở đây không cố định giống
như chia tổ theo sơ đồ lớp. Phụ thuộc vào mỗi hoạt động, GVCN có thể chia
nhóm cho phù hợp. Ví dụ chia nhóm theo dân tộc khi sinh hoạt về chủ đề những
hiểu biết về các dân tộc bạn đang sinh sống ở Mường Lát; chia nhóm theo giới
khi sinh hoạt về chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên; chia nhóm

làm được, nhất là với con trai. Hay như hình ảnh mà tôi đã nhìn thấy trong một
lần đưa con đi học. Đó là một ông cụ mắc bệnh tâm thần. Hàng ngày ông lang
thang khắp thị trấn nhưng không hại ai bao giờ. Rồi hôm đó như bao hôm khác,
ông đang lang thang trên con đường quen thuộc, rồi ông bỗng dừng lại trước
một ngôi nhà, tôi thấy ông cúi xuống rồi ông nhặt một cái áo bị rơi xuống đất và
phơi lại ngay ngắn cho một gia đình. Một việc làm nhỏ nhưng của một người
tâm thần để các em tự suy ngẫm.
Tôi muốn học sinh rèn luyện ý thức từ những điều nhỏ nhất là sự quan
tâm với những người ruột thịt trong gia đình. Chẳng hạn như việc nhận trợ cấp
(phần lớn các em có hỗ trợ của nhà nước khi đi học vì khoảng cách đến trường
xa, đường sá đi lại khó khăn), ngoài việc chi phí cho ăn ở, học tập các em có thể
tiết kiệm để hỗ trợ gia đình vì dù sao các em vẫn còn nhiều may mắn và còn
thuận lợi hơn nhiều bạn học sinh khác ở vùng cao Hà Giang mà các em đã được
xem qua TV… Tôi muốn các em thần tượng chính những người đã cho các em
cuộc sống, đã vì các em mà hi sinh, đó là bố mẹ, gia đình và những người thân.
2.3.5. Thường xuyên động viên học sinh tham gia các hoạt động tình
nguyện, thiện nguyện
Là một trường học nằm trên địa bàn kinh tế đặc biệt khó khăn của tỉnh
nên luôn nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền, các tổ chức, cá nhân.
Học sinh đi học phần lớn nhận được trợ cấp tiền, gạo của nhà nước (60%). Bên
cạnh đó, vào các dịp lễ tết, nhiều tổ chức, cá nhân cũng hỗ trợ học sinh những
phần quà, những suất học bổng có giá trị. Cùng với sự phát triển kinh tế của
của địa phương, học sinh cũng bớt đi phần khó khăn.

13


Mặc dù vẫn còn khó khăn, song so với 10 năm trước, khi tôi mới bước
chân lên Mường Lát, thì điều kiện học tập của các em học sinh giờ đã khá hơn
nhiều. Do đó, bên cạnh việc “nhận” tôi cũng khuyến khích, động viên các em

năm học 2016-2017, có 7/35 học sinh xếp loại hạnh kiểm khá, đến cuối năm
học 2017-2018 không có học sinh nào bị xếp loại hạnh kiểm khá.
14


3. Kết luận và kiến nghị
Đạo đức, kĩ năng sống không phải là cái gì đó rất xa xôi nhưng cũng
không phải vấn đề tầm thường để chúng ta coi nhẹ. Đạo đức nó đơn giản chỉ là
cách ứng xử giữa con người với con người theo những quy tắc, chuẩn mực xã
hội, nó hướng con người đến những hành động phù hợp với lợi ích của cộng
đồng, xã hội. Giai đoạn hiện nay, khi mà sự bùng nổ của công nghệ thông tin
ảnh hưởng không nhỏ đến tính cách, giá trị của một con người thì việc giáo dục
đạo đức, kĩ năng sống cho thế hệ trẻ là rất quan trọng, nhất là khi mạng xã hội
đang là trào lưu để thế hệ trẻ thể hiện thái độ, suy nghĩ của mình.
Việc giáo dục đạo đức và kĩ năng sống cho học sinh lứa tuổi THPT là rất
cần thiết, vì như Bác Hồ đã từng nói “Có tài mà không có đức là kẻ vô dụng”.
Hiện nay, trong các nhà trường, bên cạnh những kiến thức giáo dục về đạo đức
mang tính lí thuyết thì nên có những hoạt động cụ thể cho các em trải nghiệm
để các em biết được những điều giản dị nhất như tình yêu thương, sự chia sẻ,
đồng cảm với người thân, với bạn bè và xã hội; biết được cách ứng xử với các
hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội phù hợp với chuẩn mực xã hội.

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Mường Lát, ngày 10 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

QUÁCH THỊ TRANG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status