MỘT số BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG bồi DƯỠNG học SINH GIỎI cấp TỈNH môn địa lí 11 ở TRƯỜNG THPT - Pdf 57

MỤC LỤC
Trang

I. MỞ ĐẦU……………………………………………………………………...2
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………..2
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………… 3
3. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………………...3
4. Phương pháp nghiên cứu ……….………………………………………….3
II. NỘI DUNG…………………………………………………………………...3
1. Cơ sở lý luận của vấn đề….……………………………………………………….3
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm…………………..5
3. Giải pháp thực hiện………………………………………………………………..6
3.1. Thành lập đội tuyển……………………………………………………………...6
3.1.1. Phát hiện, lựa chọn và tổ chức thành lập đội tuyển HSG môn Địa lí……………6
3.1.2. Giúp đỡ, động viên, khuyến khích các em trong đội tuyển thường xuyên, kịp
thời………………………………………………………………………………….7
3.2. Xây dựng kế hoạch, sử dụng phương pháp bồi dưỡng đội tuyển một cách khoa học,
đúng hướng và có hiệu quả………………………………………………………….7
3.2.1. Xây dựng chương trình ………………………………………………………7
3.2.2. Một số yêu cầu đối với học sinh trong quá trình ôn tập ………………………8
3.3. Rèn luyện kỹ năng tự học, đọc tài liệu, khai thác kiến thức …………………….9
3.4. Coi trọng khâu ra đề, đáp án và chấm chữa, rèn luyện kỹ năng làm bài cho HS ..10
3.4.1. Ra đề và đáp án ………………………………………………………….10
3.4.2. Chấm, chữa, sửa lỗi và rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh ……….12
3.5. Phân loại học sinh trong quá trình bồi dưỡng …………………………….13
3.6. Tăng cường trao đổi, giao lưu, lắng nghe ý kiến phản hồi từ học sinh …...14
3.7. Yêu cầu cao và giao nhiệm vụ cho học sinh ……………………………...14
3.8. Tranh thủ sự đồng thuận của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường .15
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHI ……………………………………..15
1. Kết luận …………………………………………………………………….…..15
2. Đề xuất, kiến nghị ………………………………………………………………16

còn những bất cập nhất định như: nội dung giảng dạy cho học sinh giỏi sơ sài hoặc
quá cồng kềnh, phương pháp giảng dạy còn chưa phù hợp, chưa tìm ra được hướng
đi cụ thể cho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh... Thêm nữa, công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ thường xuyên của giáo viên dạy địa lí ở nhiều
trường THPT hàng năm, nhưng chủ yếu mỗi giáo viên đều tự sưu tầm tài liệu, tự
soạn nội dung và định hướng cho mình phương pháp giảng dạy riêng chứ chưa có
các chuyên đề chuyên sâu về nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi. Từ
những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi ở một số trường chưa
đạt được kết quả như mong muốn, kết quả đạt được chưa bền vững.
2


Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí
lớp 11 ở cấp THPT? Làm thế nào để người giáo viên Địa lí có thể hoàn thành tốt
nhiệm vụ chính trị của mình, đồng thời góp phần giúp học sinh tham gia đội tuyển
thỏa mãn niềm đam mê của các em với môn học này?
Với những lý do như trên, tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh môn Địa lí 11 ở trường THPT”.
Đề tài vừa mang ý nghĩa về mặt lí luận đồng thời cũng có ý nghĩa thực tiến
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh môn Địa lí 11 ở trường THPT” tôi mong
muốn góp một tiếng nói giúp giáo viên, học sinh, phụ huynh thấy được tầm quan
trọng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lí
nói riêng.
Trong sáng kiến, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm, giải pháp của bản
thân trao đổi cùng quý thầy cô đồng nghiệp, mong được các thầy cô tham khảo,
nhận xét, góp ý, bổ sung để nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Địa lí 11 ở trường THPT hiện nay.

cách độc lập nhưng lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Chính vì vậy, người dạy và
học địa lí cần có phương pháp tư duy, phân tích, nhận xét các hiện tượng địa lí theo
quan điểm hệ thống ”.
Với quan điểm trên, chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Địa lí là những
học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng được
những hiểu biết, những kĩ năng địa lí để giải quyết những nội dung cơ bản theo yêu
cầu của đề bài, của thực tiễn cuộc sống và học sinh giỏi là những học sinh có năng
lực độc lập suy nghĩ, vận dụng tốt những kiến thức, kĩ năng chắc chắn về địa lí.
Về mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, có nhiều mục tiêu khác nhau tùy theo
quan điểm của mỗi giáo viên và tùy theo môn học nhưng dù quan niệm như thế nào
chung quy lại có những điểm tương đồng.
- Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi địa lí nói riêng nhằm phát
triển tư duy ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của học sinh.
- Bồi dưỡng sự lao động và làm việc một cách sáng tạo.
- Phát triển các phương pháp, kĩ năng và thái độ tự học suốt đời.
- Nâng cao ý thức và khát vọng của học sinh.
- Phát triển phẩm chất lãnh đạo.
- Có ý thức trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, giáo dục
tình yêu quê hương đất nước.
Với những mục tiêu đó, chúng ta cũng thấy rằng việc bồi dưỡng học sinh
giỏi hiện nay phần lớn giáo viên ít nhiều đã đáp ứng tương đối đầy đủ sáu mục tiêu
trên. Điều này đã được minh chứng qua kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo
4


viên và những em đạt giải học sinh giỏi là những em hội tụ đầy đủ các mục tiêu
trên.
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Địa lí nói riêng được các
trường chú trọng. Có sự chỉ đạo sát sao, tạo điều kiện về mặt thời gian, cơ sở vật

lên đáng kể.
5


Do đó, việc nghiên cứu và những đề xuất của sáng kiến kinh nghiệm “Một
số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh môn
Địa lí 11 ở trường THPT” là hiệu quả, thiết thực, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ
của ngành, của bản thân, của đồng nghiệp và học sinh yêu thích bộ môn Địa lí.
3. Giải pháp thực hiện
Trong quá trình thực hiện tôi chú trọng vào các giải pháp cơ bản sau đây:
3.1. Thành lập đội tuyển
3.1.1. Phát hiện, lựa chọn và tổ chức thành lập đội tuyển HSG môn Địa lí
Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi người thầy đóng vai trò quan trọng
nhưng học sinh là yếu tố quyết định sự thành công. Thông thường những em có tố
chất thông minh, học lực khá - giỏi bao giờ cũng đăng ký học khối A. Ngoài ra xu
thế hiện nay, học sinh học theo ban xã hội ngày càng ít và thậm chí không có. Vậy
làm thế nào để học sinh say mê, thích học môn Địa lí? Điểm xuất phát phải bắt đầu
từ người thầy. Thầy phải thực sự coi bộ môn mình dạy như cái nghiệp của mình để
chuyên tâm gắn bó và sáng tạo không ngừng. Ngoài năng lực truyền thụ tri thức lí
luận khoa học, thầy phải nhập vai là minh chứng sống động trong thực tiễn để học
sinh thấy được sự thú vị cũng như ý nghĩa của bộ môn có tính định hướng và tính
giáo dục cao. Niềm say mê ấy phải được bộc lộ qua từng bài giảng, trong từng câu
chuyện đời thường và giải quyết những tình huống xảy ra trong thực tế cuộc sống.
Vì thế tôi nhận thấy, giáo viên dạy đội tuyển môn Địa lí phải là người
truyền được “lửa” cho học sinh. Tức là phải khơi dậy ở các em sự yêu thích môn
học, niềm tin và lòng say mê để các em tự giác tham gia với động cơ đúng đắn và
có quyết tâm thi đạt kết quả cao. Có thể nói, đây là khâu quan trọng nhất tác động
đến tâm lý học sinh thực sự có hiệu quả vì nó quyết định việc các em sẽ học và thi
như thế nào. Để làm được điều này, theo tôi giáo viên vừa đóng vai trò là người
thầy đồng thời cũng là người bạn lớn của các em, để phân tích và chỉ ra cho các em

thường xuyên, không nhất thiết phải thi để vào các lớp bồi dưỡng mà ở các tiết học,
các môn học các em cần phải quan tâm, được uốn nắn và phát hiện.
3.1.2. Giúp đỡ, động viên khích lệ các em trong đội tuyển thường xuyên, kịp thời
Tham gia ôn luyện đội tuyển là quá trình nỗ lực bền bỉ và gắn bó giữa cô và
trò, vì thế trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên phải thực sự là người có “Tâm” với
học sinh đội tuyển của mình. Sự quan tâm đó không chỉ dừng lại ở thái độ, lời nói,
kiến thức, kinh nghiệm truyền đạt cho các em mà còn bằng tất cả tấm lòng, không
đơn thuần là tình thầy trò mà như một người thân thực sự của các em. Vì thế, các
em sẵn sàng chia sẻ với tôi về mọi vấn đề trong cuộc sống. Tôi thường đến thăm
gia đình học sinh trong đội tuyển vào các dịp nghỉ lễ, sinh nhật… đặc biệt hiện nay
giáo viên có thể trao đổi cởi mở với học sinh qua mạng xã hội để hiểu được tâm tư
nguyện vọng của các em. Nhờ vậy, nhiều học sinh, phụ huynh đã cảm nhận được
sự tận tâm của cô đối với học trò đã luôn động viên khích lệ các em để các em tập
trung học tập và thi đạt kết quả cao.
3.2. Xây dựng kế hoạch, sử dụng phương pháp bồi dưỡng đội tuyển một cách
khoa học, đúng hướng và có hiệu quả
3.2.1. Xây dựng chương trình:
Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường. Vì ở
lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá giỏi, trung bình và yếu
7


kém). Song dạy cho học sinh giỏi là ta dạy để đưa các em đi thi. Đối tượng dự thi
đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy, việc xây dựng nội dung
chương trình là hết sức cần thiết. Đây là công việc quan trọng sau khi thành lập đội
tuyển. Tôi xây dựng chương trình – kế hoạch bồi dưỡng theo từng chuyên đề cụ thể
như sau:
1. chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng thực hành
Tôi đặc biệt chú ý đến các kĩ năng biểu đồ. Trong chuyên đề này học sinh
cần nắm được kĩ năng lựa chọn biểu đồ, cách phân tích bảng số liệu thống kê, cách


- Phải nắm vững toàn bộ chương trình. Đây là yêu cầu đầu tiên và quan trọng
nhất, vì các đề thi học sinh giỏi chỉ xoay quanh chương trình địa lí phổ thông
(chương trình địa lí lớp 10 và 11).
- Nắm vững sách giáo khoa kết hợp với sách tham khảo và cập nhật các tin
tức thời sự. Trong đó, sách giáo khoa là tài liệu ôn tập chính, vì người ra đề thi
buộc phải bám sát chương trình bộ môn được thể hiện cụ thể qua nội dung sách
giáo khoa. Tuy nhiên, để ôn tập và làm bài thi đạt kết quả tốt, ngoài sách giáo khoa
cần tham khảo thêm các tài liệu khác. Có như vậy, bài thi mới thể hiện được kiến
thức mở rộng, biết liên hệ thực tế và đạt được kết quả cao. Song cần lưu ý, phải biết
chọn lọc tài liệu tham khảo và có phương pháp đọc khoa học, tránh tham lam, ôm
đồm, đọc nhiều, học nhiều, đưa nhiều kiến thức không trọng tâm làm bài thi trở nên
lan man, dàn trải.
- Không được học tủ (chỉ ôn những phần được cho là quan trọng, không ôn
những phần khác), vì học sinh học tủ sẽ không thể có cái nhìn khái quát, toàn diện
và hệ thống về các vấn địa lí; thêm nữa, đề thi có thể ra vào những phần không ôn
tập dẫn đến kết quả bài làm không cao.
- Nội dung ôn tập cần được sắp xếp theo từng vấn đề, từ khái quát đến cụ thể,
từ địa lí đại cương đến khu vực rồi mới đến quốc gia. Trong trình bày bài địa lí
cũng vậy, trình bày theo kiểu diễn dịch, khái quát trước, cụ thể sau. Nhất là phần
nhận xét biểu đồ bao giờ cũng phải đưa ra cách nhìn khái quat diễn biến chung của
bảng số liệu rồi mới cụ thể từng giai đoạn.
- Ngoài có kiến thức đúng, đủ, rộng, sâu, cần phải biết trình bày tốt. Một bài
thi tốt luôn phải đảm bảo cả về mặt nội dung và hình thức.
+ Về nội dung, cần đảm bảo đúng và đủ. Đúng là sự chính xác về kiến thức,
không nhầm lẫn giữa hiện tượng địa lí này với hiện tượng địa lí khác. Đủ là không
thừa, không sót kiến thức cơ bản. Đây là vấn đề có liên quan đến việc lựa chọn kiến
thức, tránh qua loa, đại khái, nhưng cũng tránh đi vào chi tiết, vụn vặt.
+ Về hình thức, thể hiện ở các ý được trình bày sao cho có trình tự hợp lý,
lôgíc, có trước, có sau, sử dụng câu từ dễ hiểu, đúng ngữ pháp, chữ phải dễ đọc, đủ

nhất.
3.4. Coi trọng khâu ra đề, ra đáp án, chấm chữa và rèn luyện kỹ năng làm bài
cho học sinh
3.4.1. Ra đề và đáp án
Để rèn luyện kỹ năng làm bài cho HS, giáo viên cần hiểu đây là một công
việc không dễ, đòi hỏi nhiều thời gian công sức của cả thầy và trò mới đem lại kết
như mong muốn. Bởi đa số các em sau khi được chọn vào đôị tuyển thì điểm yếu
nhất đó chính là kỹ năng làm bài. Vì thế giáo viên chỉ nói hoặc nhắc nhở thôi thì
chưa hẳn các em đã hiểu và khắc phục được. Do đó cần phải có thời gian kiểm định
qua các bài kiểm tra viết mới thấy được sự tiến bộ rõ rệt của từng em.
Để việc luyện tập có hiệu quả và học sinh không thấy chán, tôi đã chuẩn bị
nguồn đề, như sau :
- Các đề thi học sinh giỏi tỉnh các năm trước.
- Đề thi học sinh giỏi các tỉnh khác sưu tầm qua đồng nghiệp hoặc truy cập
trên mạng.
- Nguồn đề Olimpic các năm.
10


- Đề tôi soạn cho các em từ các nguồn tư liệu và bám sát SGK, theo cấu trúc
đề thi HSG của Sở GD&ĐT - Sử dụng các câu hỏi khó trong tài liệu chuẩn kiến
thức kỹ năng, sách giáo khoa¸ sách bồi dưỡng, biên soạn các câu hỏi phải giải thích
suy luậnch… đòi hỏi học sinh phải hiểu vấn đề mới làm được.
- Muốn có nguồn tư liệu đó, trong nhiều năm qua tôi phải sưu tầm tài liệu,
bảo quản có hệ thống các đề thi, các kiến thức mới trong mỗi đề thi và các nội dung
khác mình thu thập được qua đồng nghiệp, qua các đợt tập huấn, đóng thành tập
lưu trữ để tạo nguồn tư liệu cho bản thân.
Trong quá trình thực hiện tôi luôn chú ý cách ra đề sao cho có hiệu quả và
gây được hứng thú cho học sinh. Mỗi đề thi đều phủ khắp kiến thức của chương
trình đã học và có cấu trúc như một đề thi chính thức.

Yêu cầu 3: Học sinh cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa để
giải thích được nơi nào mưa nhiều, nơi nào mưa ít.
Tóm lại, để rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh cần thực hiện tố t 3 bước
cơ bản sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh phải xác định được dạng đề bài và yêu cầu của từng câu
hỏi, kể cả các dạng câu hỏi ẩn thì học sinh phải biết phân tích đề để tránh lạc đề.
- Bước 2: Yêu cầu học sinh lập dàn ý sơ lược cho từng câu hỏi trong đề thi, tránh
thiếu ý khi làm bài.
- Bước 3: Yêu cầu học sinh lập dàn ý chi tiết cho đề thi và hướng dẫn cách viết cho
từng dạng câu hỏi, xây dựng bố cục toàn bài theo cách phổ biến nhất đó là phương
pháp diễn dịch hoặc theo kết cấu: tổng - phân - hợp để bài làm sâu sắc và phong
phú hơn.
* Một lưu ý nữa trong quá trình ra đề là trong mỗi đề kiểm tra, tôi luôn đảm
bảo cấu trúc 40% kiến thức từ những phần đã học, 40% kiến thức phải suy luận,
tổng hợp trên nền tảng kiến thức đã học và 20% nâng cao.
3.4.2. Chấm, chữa, sửa lỗi và rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh
Cách 1: Ngay sau khi làm bài kiểm tra, tôi yêu cầu các em về nhà phải làm
được đề cương đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết tới 0.25 điểm cho từng ý, từng
câu, từ đó tự chấm xem bài của mình sẽ được mấy điểm. Điều này sẽ giúp các em
cách xác định đáp án cũng như tiến trình trong bài kiểm tra để tránh lạc đề hoặc
thiếu ý.
Cách 2: Trước khi trả bài kiểm tra, tôi phát đáp án chuẩn đã làm và phân công
các em đóng vai trò là giáo viên để chấm bài cho bạn, tôi yêu cầu các em không
trao đổi thảo luận để đảm bảo tính khách quan, mỗi bài sẽ đựợc 2 em chấm độc lập,
có nhận xét chi tiết ưu, nhược điểm của từng bài. Qua đó, giúp các em tự rút kinh
nghiệm cho mình, ngoài ra có thể so sánh bài làm, cách chấm của mình với các
bạn. Cuối cùng tôi công bố điểm để các em tự đối chiếu.
Sau mỗi bài kiểm tra, kể cả các bài kiểm tra tại lớp từ 15 phút trở lên tôi đều
rất chú trọng và quan tâm đến các em trong đội tuyển để chấm và sửa lỗi cẩn thận
chi tiết cho các em, nhận xét vào bài của các em từ lỗi chính tả cho đến cách dùng

nhược điểm lớn đó là chữ viết xấu, nhưng tư duy nhanh, lôgic và đặc biệt là khả
năng nhớ và vận dụng rất tốt nên tôi đã quyết định cho em vào danh sách dự thi.
Tôi giao nhiệm vụ cho em từng bước phải cải thiện chữ viết và cách trình bày bài
của mình qua mỗi bài kiểm tra ở lớp cũng như ở nhà, tôi còn kiểm tra vở ghi trên
lớp thường xuyên để nhắc nhở em sửa lỗi. dần dần em đã khắc phục được nhược
điểm mặc dù chữ không đẹp nhưng trình bày sạch sẽ, gọn gang, kết quả em đạt 15
điểm trong kì thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh và đạt giải 3.
Từ thực tế đó tôi nhận thấy, phát hiện chính xác khả năng và phân loại
đúng học sinh càng sớm càng tốt. Phân loại học sinh chủ yếu dựa vào khả năng
quan sát, tiếp cận trong quá trình bồi dưỡng và giảng dạy trên lớp của giáo viên.
Ngoài ra, qua hệ thống trả lời câu hỏi vấn đáp trực tiếp hoặc bài kiểm tra viết. Đối
với những em có khả năng nhớ chậm, khái quát vấn đề còn hạn chế, giáo viên cần
13


khoanh vùng kiến thức và nhắc trước cho các em có sự chuẩn bị để các em có thể
tự tin trong quá trình học. Đối với học sinh có khả năng tư duy tốt, tôi sẽ đưa ra yêu
cầu cao hơn. Để đánh giá, theo dõi mức độ tiến bộ của các em, sau mỗi lần kiểm
tra, tôi căn cứ vào điểm để chia các em theo nhóm, thông thường là 3 đến 4 nhóm.
Chẳng hạn nhóm 1 là những em có số điểm cao nhất, ít nhược điểm. Nhóm 2, 3, 4
tương tự như vậy xét theo điểm từ cao xuống thấp. Đồng thời lập bảng thống kê ghi
rõ ưu, nhược điểm của từng em qua bài kiểm tra. Qua việc lập bảng theo dõi như
trên, giáo viên sẽ rút ra được một số lỗi phổ biến thường gặp ở tất cả các em. Ngoài
ra, qua đó các em sẽ biết được mình đang ở vị trí nào để nỗ lực cố gắng nhiều hơn.
Tất nhiên, chỗ đứng của các em sẽ liên tục thay đổi qua các bài kiểm tra. Điều này
sẽ tạo được không khí thi đua lẫn nhau trong đội tuyển, đối với những em được xếp
ở tốp đầu phải thường xuyên cố gắng thì mới giữ được thứ hạng cao mà mình đã
có, còn một số em xếp cuối chắc chắn phải phấn đấu vươn lên.
3.6. Tăng cường trao đổi, giao lưu, lắng nghe ý kiến phản hồi từ học sinh
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn tạo nhiều cơ hội cho học sinh được bày

trường
Trong thực tế có người cho rằng, bồi dưỡng học sinh giỏi là trách nhiệm của
đồng chí giáo viên được nhà trường phân công. Điều đó chỉ đúng một phần nhất
định. Vì để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả cao phải có sự hỗ trợ đắc
lực của các đồng chí giáo viên trong tổ chuyên môn, sự chỉ đạo sát sao của Ban
giám hiệu, sự quan tâm đồng tình, động viên khích lệ của phụ huynh học sinh và
các giáo viên trong trường tạo điều kiện giúp đỡ.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THPT Hậu Lộc 3 trong những
năm gần đây liên tục đạt kết quả cao, trước hết là có đường lối chỉ đạo đúng đắn
của BGH nhà trường, sự quan tâm, tạo điều kiện thực sự cho giáo viên dạy đội
tuyển. Đội tuyển không phải do một cá nhân phụ trách mà giao trách nhiệm cho tổ
trưởng chuyên môn và các giáo viên khác cùng cộng đồng trách nhiệm, phối hợp
dạy hỗ trợ lẫn nhau. Để có sự đồng thuận và nhất trí giữa nhà trường và gia đình,
sau khi học sinh làm đơn xin tham gia đội tuyển chính thức, nhà trường tổ chức họp
phụ huynh các đội tuyển để trao đổi, từ đó sự quan tâm của phụ huynh được tăng
lên. Đến ngày chuẩn bị đi thi, nhà trường tổ chức gặp mặt các đội tuyển vừa để căn
dặn vừa động viên giao nhiệm vụ cho các em. Trong các buổi trao phần thưởng học
sinh giỏi hàng năm, một thành phần không thể thiếu trong buổi lễ đó là các bậc
phụ huynh trong đội tuyển. Tất cả những việc làm đó đều thể hiện rằng: Để có chất
lượng học sinh giỏi thực sự vững bền trước hết cần có sự đồng tâm của tập thể sư
phạm nhà trường, sự nỗ lực của thầy và trò, sự đồng thuận của phụ huynh học sinh.
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
1. Kết Luận
Với những việc đã làm như trên đối chứng với cách làm trước đây, tôi đã thu
đựơc những kết quả rất khích lệ, đựơc lãnh đạo Sở, lãnh đạo nhà trường, đồng
nghiệp và các trường bạn ghi nhận. Góp một phần vào thành tích chung của nhà
trường trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều năm nay.
Có thể nói, sự kiên trì tận tâm và lòng nhiệt tình trong chuyên môn của bản
thân cùng với sự miệt mài chăm chỉ, nỗ lực của các em học sinh đã được đền đáp.
15

1
4
0

Từ thực tiễn quá trình trực tiếp ôn tập và giảng dạy cho các em học sinh giỏi
môn Địa lí của trường THPT Hậu Lộc 3 tôi thấy:
- Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một mặt trận hết sức khó khăn, gian
truân, vất vả, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của cả giáo viên và học sinh trong suốt
quá trình ôn luyện. Giáo viên và học sinh phải dồn tối đa thời gian, công sức, trí
tuệ, lựa chọn đúng, đủ nội dung, có các phương pháp dạy và học phù hợp thì mới
đạt hiệu quả.
- Đặc biệt, giáo viên phải luôn làm trọn trách nhiệm của một người “chỉ
đường” và phải truyền được nhiệt huyết của mình tới học sinh để biến quá trình
giáo dục thành quá trình “tự giáo dục”, tích cực, chủ động, tìm hiểu kiến thức của
các em.
- Muốn làm được điều đó, giáo viên phải có sự chuẩn bị thật công phu, kỹ
lưỡng cho mỗi giờ dạy, một cách toàn diện nội dung, phương pháp, các phương tiện
dạy học để đạt hiệu quả cao. Việc chuẩn bị bài học là công việc thường xuyên của
giáo viên, không thể xây dựng một giáo án để thực hiện trong suốt cuộc đời dạy
học mà không tính đến những điều kiện cụ thể của công tác giáo dục, đối tượng của
việc dạy học, sự phát triển của khoa học và những yêu cầu mới của đất nước trong
các giai đoạn khác nhau.
Mặc dù trong quá trình thực hiện tôi đã áp dụng 8 giải pháp trên nhưng chắc
chắn vẫn còn nhiều thiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các
bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
2. Đề xuất, kiến nghị

16




Bùi Thị Lan
17


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Bùi Thị Lan
Chức vụ và đơn vị công tác: Tổ phó chuyên môn
Trường THPT Hậu Lộc 3

TT
1.

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh
Kết quả
giá xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở, loại (A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

2.

Sử dụng Atlats địa lí Việt Nam Cấp Sở
trong kiểm tra bài cũ địa lí 12
THPT

2016- 2017

nhằm nâng cao hiệu quả dạy và
4.

học địa lí 12 THPT
“Sử dụng kĩ thuật “Mảnh ghép”
nhằm nâng cao hiệu quả dạy và
học bài đất nước nhiều đồi núi

(tiết 4,5) địa lí 12 THPT”
* Liệt kê tên đề tài theo thứ tự năm học, kể từ khi tác giả được tuyển dụng vào
Ngành cho đến thời điểm hiện tại.
----------------------------------------------------

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status