1
1.1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục phổ thông là giai đoạn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc
phát triển tư duy, nhân cách học sinh. Đúng như Luật Giáo dục năm 2005 đã xác
định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân.” [7, điều 23].
Đáp ứng mục tiêu trên, môn Giáo dục công dân (GDCD) ở trường Trung
học Phổ thông (THPT) đã thể hiện ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc giáo
dục, đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước. Bởi lẽ, bộ môn không chỉ
trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho học sinh mà còn cung
cấp cho các em những kiến thức cơ bản nhất về Đạo đức, Pháp luật, các vấn đề
Chính trị - xã hội có tính thời sự cao. Đây là việc làm quan trọng và cần thiết
nhằm nâng cao chất lượng học tập, góp phần đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
cho xã hội, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn và xu thế hội nhập quốc tế của
nước ta hiện nay.
Đứng trước “sứ mệnh” to lớn như vậy thì vai trò của người giáo viên dạy
môn GDCD ngày càng được khẳng định. Dạy học được ví như là một “nghệ
thuật” và người giáo viên chính là một “nghệ sĩ”. Mỗi “nghệ sĩ” sẽ có những
cách thức khác nhau khi truyền tải kiến thức đến học sinh. Có người sẽ tạo được
hứng thú, hiệu quả học tập rất cao cho học sinh nhưng cũng không ít trường hợp
ngược lại. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có sử dụng các
kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong
học tập cho học sinh đang là vấn đề mà toàn ngành giáo dục và xã hội quan tâm.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều giáo viên dạy GDCD khi lên lớp với
một tâm thế hời hợt, dạy qua loa, chiếu lệ… Việc đổi mới phương pháp dạy học
còn chậm hoặc hình thức. Từ đó, làm cho học sinh không có hứng thú với bài
học. Đặc biệt, với những kiểu bài thuộc phạm trù Đạo đức, Pháp luật… có
biết cách tạo cảm hứng, làm học sinh chán học thì những quy phạm pháp luật ấy
sẽ chẳng thể nào truyền tải đến học sinh. Vì vậy, có thể nói chất lượng của quá
trình dạy học phụ thuộc rất lớn vào khả năng tổ chức hoạt động học của người
thầy.
Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ đạt được hai mục đích cơ bản:
+ Thứ nhất, góp phần nâng cao nhận thức về tác dụng của việc sử dụng
một số kĩ thuật dạy học tích cực khi dạy học quyền: “Bình đẳng trong Hôn nhân
và Gia đình” môn GDCD lớp 12.
+ Thứ hai, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hứng thú học tập
trong học sinh.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài, tôi tổng kết vấn đề sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích
cực nhằm nâng cao hiệu quả khi dạy học quyền: “Bình đẳng trong Hôn nhân và
Gia đình” môn GDCD lớp 12. Đối tượng cụ thể đó là các em học sinh lớp 12
trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đọc, phân tích, so sánh, tổng hợp,
khái quát hóa,… nhằm thu thập thông tin về lý luận.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: dự giờ, thăm lớp, thiết kế bài thực
nghiệm, trực tiếp lên lớp, phân tích các số liệu thống kê.
- Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn: xây dựng câu hỏi, bảng
biểu, xử lý số liệu nhằm tìm hiểu thực trạng của quá trình dạy học môn GDCD ở
trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Phương pháp thống kê toán học: xử lý kết quả thu được qua thực nghiệm
sư phạm nhằm đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình thực nghiệm.
3
nhằm khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ. Mặt khác,
coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với
đời sống xã hội.
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, trong đó sử dụng các kĩ thuật dạy
học tích cực, đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, nó phù
hợp với đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THPT là ưa thích hoạt động tìm tòi,
khám phá. Việc học đối với học sinh một khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ
giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo.
2.1.2 Lý luận về một số Kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng khi dạy
học quyền: “Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình” môn GDCD 12.
2.1.2.1 Kĩ thuật động não không công khai.
4
* Giới thiệu:
Động não không công khai là một hình thức biến đổi của thảo luận viết,
mỗi thành viên của nhóm viết ra ý nghĩ của mình để giải quyết vấn đề. Tuy
nhiên, không công khai và không tham khảo người khác, sau đó nhóm mới tiến
hành thảo luận chung.
* Dụng cụ:
Giấy, bút cho các thành viên trong nhóm.
* Thực hiện:
- Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho nhóm, quy định thời gian làm
việc cá nhân để giải quyết vấn đề trước khi thảo luận nhóm.
- Sau khi hoàn tất việc làm cá nhân, lần lượt từng người trình bày ý kiến.
- Bắt đầu thảo luận khi tất cả thành viên đã trình bày xong ý kiến.
* Lưu ý:
Trong quá trình động não, cá nhân không được tham khảo ý kiến của các
thành viên khác trong nhóm.
* Ưu điểm:
Tên học sinh/nhóm học sinh: ………………………………..
Lớp: …………. Trường: …………………………………….
K
(Know – Điều đã biết)
-
W
(Want to know –
Điều muốn biết)
-
L
(Learned –
Điều đã học được)
-
+ Yêu cầu học sinh viết vào cột K những gì các em đã biết liên quan đến
bài học/chủ đề.
+ Sau đó viết vào cột W những gì các em muốn biết về nội dung bài
học/chủ đề.
- Bước 4: Sau khi kết thúc bài học/chủ đề học sinh điền vào cột L của
phiếu những gì vừa học được. Lúc này, học sinh xác nhận về những điều các em
đã học được qua bài học rồi đối chiếu với điều muốn biết, đã biết để đánh giá kết
quả học tập, sự tiến bộ của mình qua giờ học.
* Lưu ý:
- Khi sử dụng kĩ thuật KWL đối với nhóm học sinh thì trước khi học sinh
điền thông tin vào cột K, Giáo viên phải yêu cầu học sinh trao đổi, thống nhất ý
kiến trong nhóm.
- Khi mới áp dụng kĩ thuật KWL, có thể dùng các câu hỏi gợi ý để học
sinh có thể viết những gì các em đã biết, muốn biết và đã học được vào các cột
- Phù hợp với tâm lý học sinh, dễ hiểu, dễ ghi nhớ.
- Rất thích hợp với kiểu bài ôn tập, tổng kết, liên kết lý thuyết với thực tế.
* Hạn chế:
Sơ đồ giấy thường khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa, tốn kém chi phí.
2.1.3 Một số yêu cầu khi dạy học quyền: “Bình đẳng trong Hôn nhân
và Gia đình” môn GDCD 12.
Môn GDCD ở trường THPT là một hệ thống các kiến thức liên quan đến
nhiều lĩnh vực, trong đó có kiến thức về Pháp luật (GDCD lớp 12). Toàn bộ nội
dung chương trình GDCD lớp 12 tập trung phân tích bản chất, vai trò của pháp
luật đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi cá nhân, nhà nước và xã hội. Đồng
thời, cũng chỉ ra một số quyền, nghĩa vụ cơ bản của mỗi công dân. Trong đó,
việc trang bị cho học sinh những kiến thức về quyền và nghĩa vụ của công dân
trong lĩnh vực Hôn nhân và Gia đình là vô cùng cần thiết. Những tri thức này
góp phần tích cực vào việc giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi của người
công dân, hình thành và phát triển ở các em những phẩm chắt và năng lực cần
thiết của người công dân trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xuất
phát từ ý nghĩa to lớn đó mà việc giảng dạy hiệu quả kiến thức ở vấn đề này
càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với mỗi người giáo viên. Tuy nhiên, để làm
tốt điều này không phải là một việc đơn giản, đòi hỏi giáo viên cần phải thực
hiện được một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, giáo viên phải thực sự nắm vững các kiến thức Pháp luật về
Hôn nhân và Gia đình. Để có kiến thức rộng, sâu giáo viên cần phải có sự đầu
tư, luôn trau dồi kiến thức, học tập, nghiên cứu nhiều tài liệu liên quan đến Pháp
luật như: Luật Hôn nhân và Gia đình; Bộ luật Hình sự; Bộ luật dân sự…vv
7
Mặc dù yêu cầu cần có kiến thức sâu rộng nhưng trong quá trình giảng
dạy người giáo viên cũng không nên ôm đồm kiến thức. Điều này sẽ dễ đẫn đến
tiết dạy, thay đổi cách học, phương pháp học, tạo sự hứng thú, kích thích sự tìm
tòi, khám phá của học sinh. Đồng thời, giúp các em phát huy được tính chủ
động, sáng tạo trong học tập.
Thứ năm, như đã đề cập ở trên, quyền “Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia
đình” môn GDCD lớp 12 là những kiến thức hàm chứa tri thức về Pháp luật lẫn
Đạo đức. Những tri thức này ít nhiều học sinh đã được tiếp cận, làm quen ở lớp
học, cấp học dưới. Vì thế, khi giảng dạy ngay từ hoạt động khởi động yêu cầu
giáo viên phải làm sao để thu hút sự chú ý, tạo hứng thú cho học sinh tiếp cận tri
thức bài học. Trong các hoạt động học tập tiếp theo, giáo viên phải để học sinh
thấy được cái mới, cái hay, cái thực tế của nội dung bài học. Tránh việc học sinh
8
nhìn nhận đây là những kiến thức đã học rồi, biết rồi, không cần học nữa. Khi
dạy học nội dung này, nếu giáo viên không sử dụng phương pháp phù hợp sẽ rất
dễ làm cho học sinh thấy sáo rỗng, khô khan (đúng như cách đánh giá của nhiều
người về bản chất của Đạo đức và Pháp luật). Từ đó, các em sẽ thấy bài học
nhàm chán và không có hứng thú hoạt động học tập.
Tóm lại, kiến thức phần: “Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình” có vị
trí quan trọng trong toàn bộ nội dung chương trình GDCD lớp 12. Vì thế, khi
giảng dạy người giáo viên cần phải thực hiện tốt các yêu cầu trên. Điều đó giúp
giáo viên truyền thụ tri thức cho học sinh một cách hiệu quả. Đồng thời, giúp
học sinh củng cố được ý thức và hành vi của mình, định hướng phát triển và
hoàn thiện nhân cách, góp phần tích cực vào việc giáo dục học sinh thành những
công dân mới phát triển toàn diện.
2.2 Thực trạng việc sử dụng các Kĩ thuật dạy học tích cực và vấn đề
dạy học quyền “Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình” môn GDCD lớp 12.
Như chúng ta đã biết, môn GDCD có vai trò giáo dục và giáo dưỡng. Nó
bao gồm một hệ thống các tri thức khoa học phù hợp với từng đối tượng nhận
thức. Nếu như kiến thức của các môn khoa học cơ bản khác cung cấp cho học
Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Song, có thể phân tích cụ
thể một số nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, xuất phát từ nội dung chương trinh môn GDCD lớp 12. Toàn bộ
nội dung là những kiến thức về Pháp luật. Đặc thù của Pháp luật là hàn lâm, khô
khan và chính xác tuyệt đối. Để hiểu sâu rộng vấn đề đặt ra yêu cầu học sinh
phải nhớ Luật. Các chương, điều, khoản, mục… của Pháp luật nói chung sẽ
khiến học sinh mệt mỏi, khó nhớ. Từ đó, ảnh hưởng đến việc tiếp thu có hiệu
quả tri thức này. Mặt khác, nhiều bài, nhiều mục nội dung kiến thức quá rộng so
với khả năng nhận thức của học sinh. Một khi không đủ trình độ tiếp nhận kiến
thức ở mức độ cao sẽ sinh ra tâm trạng chán nản, không thich học.
Thứ hai, vấn đề tiếp theo nằm ở phương pháp dạy học. Có thể nói, với
mỗi môn học, học sinh tiếp thu kiến thức như thế nào, có thích học môn học đó
hay không phụ thuộc rất lớn vào phương pháp giảng dạy của giáo viên. Để dạy
tốt kiến thức về Pháp luật nói chung và Pháp luật về Hôn nhân và Gia đình nói
riêng đòi hỏi người giáo viên không những phải vững vàng về trình độ chuyên
môn, mà còn biết đổi mới phương pháp dạy học. Biết biến cái khô, cái khó, cái
phức tạp thành cái đơn giản, biết khơi dậy niềm hứng thú, ham học hỏi và nắm
bắt kiến thức của học sinh. Thế nhưng, đa số giáo viên dạy môn GDCD ở trường
THPT chưa đầu tư xứng đáng cho môn học, không ít giáo viên trình độ còn hạn
chế, không chịu trau dồi, học hỏi thêm kiến thức về Pháp luật. Nhiều giáo viên
khi giảng dạy chỉ tập trung nhắc lại các kiến thức trong sách giáo khoa, vẫn còn
chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình, giảng giải, không phát huy
được tính tích cực, chủ động, phát triển tư duy cho học sinh. [5]
Thứ ba, đó là việc đầu tư cơ sở vật chất phục vụ bộ môn. Với tâm lý là bộ
môn không có nhiều trường Đại học, Cao đẳng chọn làm tổ hợp xét tuyển nên kể
cả các cấp lãnh đạo, quản lý cũng coi nhẹ việc đầu tư trang thiết bị dạy học cho
bộ môn này. Lâu nay, khi giáo viên giảng dạy bộ môn muốn có những công cụ,
thiết bị để hỗ trợ quá trình dạy học thì thường phải tự tìm tòi, tự thiết kế, rất tốn
thời gian, công sức và tiền bạc. Phòng lưu trữ phương tiện, thiết bị dạy học phục
vụ bộ môn GDCD của các trường THPT nói chung thường rất “nghèo nàn”.
* Cách tiến hành:
Giáo viên chia lớp thành 6 - 8 nhóm (tùy vào số lượng học sinh trong lớp
và cách để vị trí bàn ghế), sau đó phát những mẩu giấy nhỏ (tờ giấy A4 cắt làm
4) cho từng học sinh của các nhóm đó. Yêu cầu từng học sinh ở mỗi nhóm giải
quyết nhiệm vụ mà giáo viên giao. Quy định thời gian làm việc cá nhân là 3
phút.
Trong mỗi mẩu giấy giáo viên in sẵn các câu hỏi cần giải quyết: E hiểu thế
nào là bình đẳng? Hôn nhân là gì? Gia đình là gì? Gia đình bao gồm những
thành viên nào? Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình được hiểu như thế nào?.
Mỗi học sinh động não để viết ra ý kiến của mình để giải quyết vấn đề mà
giáo viên giao. Tuy nhiên, không công khai và không tham khảo ý kiến người
khác.
Hết thời gian quy định, giáo viên yêu cầu một vài cá nhân ở mỗi nhóm
trình bày ý kiến của mình (càng nhiều học sinh trình bày càng tốt nhưng nếu
trùng ý kiến thì không cần trình bày để đảm bảo về mặt thời gian). Lúc này giáo
viên có thể nhận xét và bổ sung luôn cho ý kiến cá nhân.
11
Hình ảnh minh họa
Khi các ý kiến cá nhân hoàn tất, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận
chung theo các nhóm đã chia ban đầu. Lúc này nhiệm vụ đặt vào một câu hỏi
duy nhất là: “Thế nào là bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình” ?. Thời gian
thảo luận chung là 2 phút. Quá trình học sinh thảo luận chung, giáo viên quan
sát, phát hiện khó khăn và kịp thời giúp đỡ.
Hình ảnh minh họa
12
(Learned –
Điều đã học được)
-
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh điền vào phiếu học tập.
Giáo viên yêu cầu học sinh viết vào cột K những gì học sinh đã biết liên
quan đến nội dung bài học. Sau đó viết vào cột W những gì các em muốn biết về
nội dung bài học.
13
Hình ảnh minh họa
Bước 3: Học sinh điền thông tin vào phiếu học tập theo sự hướng dẫn của
giáo viên.
Tên bài học/chủ đề: Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình.
Tên học sinh: Nguyễn Văn X.
Lớp: 12B2.
Trường: THPT Nguyễn Xuân Nguyên.
K
(Những điều đã biết)
W
(Những điều muốn biết)
L
(Những điều đã học được)
- Vợ chồng yêu thương,
tôn trọng nhau là tiền đề
14
chuyện về việc con hành phạm, ngược đãi các con hạ, xúc phạm cha mẹ.
của cha mẹ và hành vi ngược đãi cha mẹ của các
con bị xử lý như thế nào?
- Có người ông người bà - Nghĩa vụ của ông bà chỉ coi trọng cháu trai, với các cháu và ngược lại cháu “đích tôn”.
nghĩa vụ của các cháu với ông bà thể hiện như thế
nào trong Luật Hôn nhân
và gia đình?
- Anh, chị em trong gia
đình bất hòa, tranh chấp
tài sản với nhau.
- Bình đẳng giữa anh chị, em với nhau được biểu hiện như thế nào?
-
Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận, làm rõ những câu hỏi trong cột
W. Giáo viên định hướng, giúp đỡ học sinh làm sáng tỏ vấn đề mà các em muốn
biết.
Bước 4: Sau khi kết thúc bài học, học sinh điền vào cột L của phiếu học
tập những gì vừa học được. Lúc này, học sinh xác nhận về những điều các em đã
học được qua bài học, đối chiếu với điều muốn biết, đã biết để đánh giá kết quả
học tập, sự tiến bộ của mình qua giờ học.
K
(Những điều đã biết)
W
(Những điều muốn biết)
quyền ngang nhau về mọi
mặt trong gia đình. Điều
này thể hiện trong quan hệ
nhân thân và tài sản.
+ Trong quan hệ nhân
thân: Vợ chồng có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau
trong việc lựa chọn nơi cư
trú; tôn trọng và giữ gìn
danh dự, nhân phẩm, uy
tín của nhau; tôn trọng
quyền tự do tôn giáo, tín
15
- Có nhiều câu chuyện về
việc cha mẹ ngược đãi,
đánh đập con và cũng
không ít những câu
chuyện về việc con hành
hạ, xúc phạm cha mẹ.
- Để bảo vệ quyền lợi của
trẻ em pháp luật có những
quy định gì?
- Những hành vi xúc
phạm, ngược đãi các con
của cha mẹ và hành vi
ngược đãi cha mẹ của các
con bị xử lý như thế nào?
đối xử giữa các con, ngược
đãi, hành hạ, xúc phạm
con; không lạm dụng sức
lao động của con chưa
thành niên; không xúi giục,
ép con làm việc trái pháp
luật, trái đạo đức xã hội.
- Con có bổn phận yêu
quý, kính trọng, chăm sóc
nuôidưỡng cha mẹ. Không
được có hành vi ngược đãi,
hành hạ, xúc phạm cha mẹ.
* Bình đẳng giữa ông bà
và cháu.
- Ông bà nội, ngoại có
nghĩa vụ và quyền chăm
sóc, giáo dục, nêu gương
tốt cho các cháu.
- Các cháu có bổn phận
kính trọng, chăm sóc,
phụng dưỡng ông bà nội,
ngoại.
16
- Anh, chị em trong gia
đình bất hòa, tranh chấp
tài sản với nhau.
- Bình đẳng giữa anh chị, * Bình đẳng giữa các anh
Giáo viên nhận xét, đánh giá sản phẩm của các nhóm và kết luận bằng
một sơ đồ kiến thức của mình (Giáo viên có thể chuẩn bị sẵn trên giấy Ao hoặc
thiết kế trên Powerpoint để trình chiếu)
Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình
Khái niệm
Bình đẳng giữa
vợ và chồng
Quan hệ
nhân thân
Nội dung
Bình đẳng giữa
cha mẹ và con
Quan hệ
tài sản
Cha mẹ
với con
Bình đẳng giữa
ông bà và cháu
Con với
qua, tôi cũng đã vận dụng các Kĩ thuật dạy học tích cực trên khi dạy học quyền
“Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia đình” môn GDCD 12. Trong tiết học đó, học
sinh hoạt động rất tích cực, các em tiếp thu bài rất nhanh. Còn đối với bản thân,
tôi đã được Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa công nhận là Giáo viên giỏi cấp
Tỉnh. Với kết quả như vậy, tôi nhận thấy đó là tiết học thành công cho cả thầy và
trò.
Sau đây là các bảng số liệu tổng hợp kết quả điều tra, thăm dò ý kiến học
sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên.
Bảng 1 : Kết quả thăm dò ý kiến học sinh khi chưa vận dụng các Kĩ
thuật dạy học tích cực vào dạy quyền “Bình đẳng trong Hôn nhân và Gia
đình” môn GDCD lớp 12. (Lớp đối chứng)
Lớp
Sĩ số
Rất hứng thú
Hứng thú
Bình thường
Không
hứng thú
12BTN
12B1
12B4
12B6
12B2
12B3
12B5
12B7
Sĩ số
Rất hứng thú
Hứng thú
Bình thường
Không
hứng thú
38
45
42
40
52,6%
48,9%
40,5%
32,5%
36,8%
33,3%
26,2%
47,5%
sinh. Từ đó, sẽ là động lực để thúc đẩy hoạt động dạy và học có hiệu quả hơn.
* Bài học kinh nghiệm:
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, kiểm nghiệm kết quả, tôi đã đúc rút
được những kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, để giảng dạy có hiệu quả kiến thức về Pháp luật không phải là
vấn đề đơn giản. Tuy nhiên, phần kiến thức này lại vô cùng quan trọng đối với
học sinh lớp 12 vì nó giúp các em nhận thức rõ bản thân mình có quyền lợi gì và
nghĩa vụ như thế nào khi các em chuẩn bị bước vào cuộc sống của một công dân
trưởng thành.
Thứ hai, nếu giáo viên biết sử dụng tốt các phương pháp mới, các Kĩ thuật
dạy học tích cực khi giảng dạy các kiến thức về Pháp luật sẽ làm cho học sinh
yêu thích môn học, hứng thú với giờ học và tham gia tích cực vào các hoạt động
học tập do giáo viên tổ chức.
Thứ ba, nên sử dụng đa dạng các phương pháp, kĩ thuật trong một tiết dạy
để tạo nên hiệu quả học tập cho học sinh. Tuy nhiên, cũng cần phải đảm bảo tính
khoa học, tính thực tiễn và tính vừa sức đối với học sinh. Đặc biệt, phải chú ý
đến đối tượng học sinh khác nhau ở các lớp khác nhau mà áp dụng cho phù hợp.
Thứ tư, dạy học theo phương pháp mới, có sử dụng các kĩ thuật dạy học
tích cực như trên không tốn kém về tiền bạc, sẽ phù hợp với điều kiện cơ sở vật
chất của các trường THPT trên địa bàn huyện Quảng Xương nói riêng và tỉnh
Thanh Hóa nói chung, đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.
3.2 Kiến nghị
- Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo:
+ Cần tiếp tục thực hiện và nâng cao chất lượng các đợt tập huấn chuyên
môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên GDCD trong tỉnh. Đặc biệt, cần tăng
cường tập huấn cho giáo viên những kiến thức về Pháp luật.
20
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là Sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép nội dung của người khác.
Người thực hiện đề tài
Phùng Thanh Loan.
21
22
23