Tích hợp kiến thức môn lịch sử để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy bài truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc việt nam - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
_____________________________________________

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP KIẾN THỨC MÔN LỊCH SỬ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KHI GIẢNG DẠY BÀI : TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ( GDQP – AN 10)

Người thực hiện: Trần Thị Hoa Lý
Chức vụ:

Tổ trưởng chuyên môn

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): GDQP - AN

THANH HOÁ NĂM 2019


MỤC LỤC
TT
I

Mục

Trang

MỞ ĐẦU


2.1

Cơ sở lí luận

3

2..2

Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm

5

2.3

Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

5

2.3.1

Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

5

2.3.2

Những yếu tố tác động đến nghệ thuật đánh giặc của
cha ông



19

3.2

Kiến nghị

20

II

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1


I. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.
Trong giáo dục phổ thông, các môn văn hóa nói chung, môn GDQP - AN nói riêng có
vai trò rất quan trọng trong hình thành nhân cách, bản lĩnh, năng lực, tư duy của con
người; Lịch sử dạy con người hiểu biết về nguồn cội, hun đúc lòng yêu nước, môn
GDQP – AN cũng phần nào rèn luyện cho học sinh lòng yêu nước, tác phong nhanh nhẹn,
hoạt bát, vượt khó khăn trong cuộc sống…
GDQP-AN là một môn học bao gồm nhiều kiến thức về khoa học xã hội, nhân văn,
khoa học tự nhiên lẫn khoa học kĩ thuật quân sự. Là một môn học không chỉ trang bị
những vấn đề cơ bản về đường lối quân sự của Đảng, tư duy về QPAN và kiến thức quân
sự cần thiết mà còn rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách sống con người CNXH. Tuy nhiên,
đây là một môn học nằm trong nhóm môn học có tỉ lệ lí thuyết chiếm trên 60% chương
trình môn học. Chính vì lí do đó, cùng với những nhận thức non nớt của học sinh, các em

một cách khách quan, sống động, về truyền thống đấu tranh bất khuất trong dựng nước và
giữ nước của dân tộc Việt Nam anh hùng. Do đó, nội dung giáo dục lòng yêu nước cho
học sinh ở bộ môn GDQP - AN hết sức phong phú, đa dạng. Qua mỗi bài học, mỗi sự
kiện lịch sử, trang bị cho học sinh niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng trên cơ sở
nhận thức đúng đắng sự phát triển khách quan, hợp quy luật của xã hội loài người. Giáo
dục cho học sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và
giữ nước. Từ đó, hình thành cho các em ý thức tình yêu với quê hương đất nước để ra sức
học tập, xây dựng, bảo vệ đất nước.
Để phát huy được vai trò của môn GDQP - AN trong công tác giáo dục, bồi dưỡng
lòng yêu nước cho học sinh, chúng ta cần coi trọng đúng mức việc giảng dạy môn
GDQP - AN cũng như vị trí và vai trò của môn học này trong giáo dục đạo đức truyền
thống cho học sinh; đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học môn GDQP
–AN là để phù hợp với sức học của học sinh, không nên quá dồn ép kiến thức tạo áp lực
trong việc học của học sinh…. Người giáo viên không đơn giản là người có tri thức, có
nghiệp vụ sư phạm vững vàng, mà còn phải là người có tác phong chuẩn mực, tư cách
đạo đức tốt. Trang thiết bị phục vụ cho môn học phải được trạng bị đầy đủ như: bản đồ,
tranh ảnh, phim tư liệu, phòng bộ môn…; cung cấp thông tin bằng nhiều kênh, đặc biệt là
kết hợp giữa việc cung cấp kiến thức với cho học sinh quan sát những hình ảnh, thước
phim… liên quan đến nội dung bài học. Qua đó, học sinh sẽ cảm thấy thích thú khi học
môn GDQP - AN, chủ động tìm tòi, say mê nghiên cứu.
Từ những lý do trên nên Tôi mạnh dạn chọn đề tài: Tích hợp kiến thức môn Lịch
sử để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy bài Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân
tộc Việt Nam ” GDQP - AN lớp 10 làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đề tài Giáo dục cho học sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong
quá trình dựng nước và giữ nước; từ đó học sinh sẽ quý trọng những gì mà cha ông đã
xây dựng nên.
- Giúp các em hình thành và phát huy khả năng tự học, tự tìm hiểu và giải quyết
vấn đề liên quan đến nội dung bài học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.

tinh thần yêu nước của tất cả mọi người được thực hành vào công việc yêu nước”2.
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ hơn bao giờ
hết, vấn đề xung đột tôn giáo, xung đột chủng tộc, khủng bố…, đang diễn ra gay gắt, gây
nên những tổn thất lớn. Điều đó làm cho chúng ta cần phải tăng cường giáo dục ý thức
dân tộc, bản sắc dân tộc, lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, chủ nghĩa đế quốc và
bọn phản động đang tìm mọi cách làm sói mòn tinh thần đoàn kết dân tộc, làm lung lay ý
chí của một bộ phận thanh niên, xa rời truyền thống yêu nước.
Hơn thế nữa, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nói chung, giáo dục truyền thống
yêu nước nói riêng là một trong những nhiệm vụ của môn GDQP - AN ở trường phổ
thông mà người giáo viên phải quán triệt và thực hiện, nhằm góp phần xây dựng con
người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.1.2. Thế nào là truyền thống yêu nước?
Theo từ điển tiếng Việt “truyền thống” là những đức tính, tập quán, tư tưởng, lối sống
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác5.
- Trong trang này, đoạn “Khi Tổ quốc…bắc ái” tác giả tham khảo TLTK số 5
- Đoạn: “Tinh thần…yêu nước”, tác giả tham khảo TLTK số 2

4


Lòng yêu nước được hình thành trong quá trình lao động và chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc. Yêu nước không chỉ là tình cảm nữa mà là nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của
mỗi người đối với quê hương, đất nước. Lòng yêu nước theo dòng lịch sử, được củng cố,
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, trở thành
truyền thống.
Trong mỗi thời đại, yêu nước được nhận thức một cách khác nhau do quan điểm
của nhân dân và của giai cấp thống trị trong thời đại đó; tư tưởng của giai cấp thống trị
chi phối quan niệm yêu nước, nhưng, lòng yêu nước của nhân dân là chủ đạo. Ở Việt
Nam lòng yêu nước đã được nâng lên thành tư tưởng yêu nước, và trở thành chủ nghĩa
yêu nước (mà ngày nay là chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa).


Thứ năm, kết hợp học tập với thực hành, bởi vì lòng yêu nước không chỉ dừng ở
lời nói, nhận thức mà phải biểu hiện ở hành động.
Thứ sáu, cần tiến hành nhiều hình thức giáo dục phong phú, sinh động thông qua
bài học nội khóa và các hoạt động ngoại khóa.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thuận lợi.
- Các cấp lãnh đạo, Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho công tác dạy và học môn GDQP -AN.
- Đội ngũ giáo viên môn GDQP -AN có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nhiệt
tình và tâm huyết với môn học.
- Nền nếp, kỷ cương của nhà trường đối với học sinh chặt chẽ qua từng cấp, từng
khâu nên đa phần các em chăm ngoan, có ý thức học tập tốt.
2.2.2. Khó khăn.
- Đối với giáo viên: Do nội dung kiến thức của bài cần truyền tải đến học sinh
nhiều, nên giáo viên chỉ chú trọng dạy cho học sinh kiến thức, nhớ được các sự kiện lịch
sử để đạt kết quả cao khi làm bài kiểm tra mà ít chú trọng đến giáo dục kĩ năng sống, giáo
dục cho các em lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của một người học sinh, một công
dân với tổ quốc.
- Đối với học sinh:
+ Theo đặc thù bộ môn, theo xu thế của xã hội, môn GDQP -AN đang bị mất dần
vị thế của nó, học sinh ít mặn mà với bộ môn GDQP -AN
+ Dưới tác động của nền kinh tế thị trường một số tệ nạn xã hội đã bắt đầu len lỏi
vào trong các nhà trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến các em học sinh, vì đây là lứa
tuổi rất dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài; các em dành nhiều thời gian cho mạng
xã hội, game…
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam
Lòng yêu nước được thử thách trải qua quá trình lao động sản xuất và chiến đấu,
bảo vệ tổ quốc và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành sợi chỉ đỏ bền

Người dân Âu Lạc bị bóc lột tàn tệ (đi lao dịch, làm nô lệ…), bị làm nhục cả thể
xác lẫn tinh thần. Trong quá trình đó, nhân dân Âu Lạc với tinh thần văn hóa Đông Sơn,
đã thể hiện rõ lòng yêu nước của mình bằng việc liên tục đứng lên đấu tranh vũ trang
chống lại ách đô hộ, nhằm giành lại độc lập, tự do, bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Để hiểu
rõ hơn về lòng yêu nước của nhân dân ta trong thời kì này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một
số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu.
Giáo viên chuyển ý qua phần 2 “Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu”, hướng dẫn
cho các em thảo luận nhóm, rồi cử đại diện nhóm lên trình bày từng cuộc khởi nghĩa. Sau
đó, giáo viên nhận xét, củng cố lại, đặc biệt là giáo dục lòng yêu nước cho các em thông
qua các cuộc khởi nghĩa.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40): Vì nợ nước, thù nhà, vào mùa Xuân năm 40
sau công nguyên, Hai Bà Trưng đã dựng cờ khởi nghĩa. Ngọn cờ nghĩa quân dấy lên ở đất
Hát Môn, lập tức các lực lượng nghĩa quân yêu nước ở khắp nơi từ Bắc Bộ tới Thanh Hóa
ngày nay, lần lượt đứng lên chung sức đánh giặc. Nghĩa quân của Hai Bà Trưng kéo đi
đánh chiếm được 65 thành. Khí thế yêu nước, đánh giặc của Hai Bà vang xa, ngay cả
người Choang ở Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) cũng hưởng ứng. Trong nghĩa
quân không chỉ có thanh niên trai tráng mà còn có cả phụ nữ và nhiều bô lão tham gia.
Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn, Hai Bà Trưng được suy tôn làm vua, đóng đô ở
Mê Linh. Chính quyền tự chủ của nhân dân ta được khôi phục sau hơn 150 năm bị đô hộ.
“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”5.
7


Rõ ràng họ ý thức được rằng, mất nước là nỗi nhục chung của mọi tầng lớp. Do
vậy, chống giặc, đòi lại độc lập, tự do không phải là công việc của một lớp người nào, mà
là nhiệm vụ của toàn dân. Tinh thần đó thể hiện ý thức dân tộc sâu sắc, mà ý thức dân tộc
là cội nguồn xâu xa của tinh thần đoàn kết, yêu nước chống giặc ngoại xâm.
Thế nhưng mùa hè năm 42, Mã Viện được cử đưa 2 vạn quân sang xâm lược Âu
Lạc. Nghĩa quân bị thất bại. Hai Bà Trưng chạy về phía sông Hát rồi nhảy xuống sông tự tử


Năm 783, Phùng Hưng (Hà Tây) nổi dậy khởi nghĩa đánh chiếm Tống Bình, xây
dựng nền tự chủ trong bảy năm thì qua đời. Con của Phùng Hưng là Phùng An lên
thay. Năm 791, nhà Đường cho quân sang đàn áp và Phùng An đầu hàng.

-

Trong trang này, đoạn “Đô kỳ…nước ta”, tác giả trích nguyên văn TLTK số 5

8


Năm 905, Khúc Thừa Dụ (Hải Dương) đánh chiếm lại Tống Bình, Tự xưng là
Tiết độ xứ. Nhà Đường buộc phải thừa nhận chính quyền của họ Khúc. Năm 930, quân
Nam Hán kéo sang xâm lược.
Năm 931, Dương Đình Nghệ kéo quân từ Ái Châu (Thanh Hóa) ra đánh, chiếm
thành Đại La, giành lại quyền tự chủ cho nước nhà.
Lợi dụng tình hình rối ren, Nam Hán lại kéo quân xâm lược lần thứ hai. Cuối năm
938, Ngô Quyền làm nên chiến thắng Bạch Đằng : Kết quả là sau hơn 10 thế kỷ bị chiếm
đóng và đồng hóa, Việt Nam không biến thành một tỉnh của Trung Quốc như bao quốc
gia, dân tộc cổ đại đã từng tồn tại trên lãnh thổ Trung Quốc, mà chúng ta vẫn là một quốc
gia dân tộc độc lập. Quốc gia, dân tộc Việt đã được tự tạo trong những cuộc nổi dậy và
chiến tranh của người Việt chống phong kiến Trung Quốc đô hộ. Khởi nghĩa Ngô Quyền
là cuộc nổi dậy cuối cùng, kết thúc hẳn một thời kỳ và mở đầu một thời kỳ mới.
Trước khi bị quân xâm lược Trung Quốc đô hộ trong hơn 1000 năm, quốc gia
người Việt đã xuất hiện, mặc dù còn non nớt và văn hóa Việt đã hình thành. Dù bị mất
nước, nhưng văn hóa dân tộc, ý thức dân tộc vẫn tồn tại phát triển; các cuộc khởi nghĩa
nổ ra liên tục không chỉ chống xâm lược mà còn chống đồng hóa, chống Hán hóa.
Chiến thắng Bạch Đằng 938 là chiến thắng của truyền thống yêu nước và mở ra
một thời đại mới, thời đại độc lập, tự chủ lâu dài trên đất nước ta.

không phân thắng bại, kết cục sông Gianh trở thành giới tuyến chia đôi đất nước.
Mục tiêu độc lập dân tộc không tách rời với thống nhất đất nước cũng là truyền thống
của dân tộc Việt Nam. Yêu cầu thống nhất quốc gia trở nên vô cùng bức xúc, phong trào
nông dân Tây Sơn bùng nổ mãnh liệt ở Bình Định (1771). Sau khi dẹp xong thế lực cát
cứ họ Nguyễn Đàng Trong (1783), nghĩa quân Tây Sơn đã vươn lên làm nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, thống nhất quốc gia. Thất bại thảm hại, Nguyễn ánh rước quân Xiêm vào
giày mả tổ. Nghĩa quân Tây Sơn với truyền thống giữ nước oanh liệt đã lập nên chiến
công ở Rạch Gầm - Xoài Mút, đuổi 5 vạn quân Xiêm ra khỏi bờ cõi nước ta.
Năm 1788, tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống đã "cõng rắn cắn gà nhà" rước 20 vạn quân
Thanh vào xâm lược nước ta. ý chí độc lập dân tộc và truyền thống chống giặc giữ nước
thôi thúc, nghĩa quân Tây Sơn lại "thần tốc" tiến công ra Bắc lập nên những chiến công ở
Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng, Gò Đống Đa với sức mạnh kỳ diệu, quét sạch 20
vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước ta.
Đây là một trong những chiến công hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại
xâm của dân tộc. Truyền thống giữ nước Việt Nam một lần nữa được viết tiếp một trang
oai hùng mới.
Sau khi đại phá quân Thanh, Tây Sơn thống nhất quốc gia, những tiền đề quan trọng
nhất cho việc thiết lập một quốc gia độc lập tự chủ, thống nhất và hùng mạnh được hình
thành. Quang Trung có đề ra một số chính sách tích cực. Nhưng đáng tiếc ông mất sớm,
và sau đó đến thời kỳ Quang Toản thì cuộc đấu tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã
chuyển hóa, có lợi cho tập đoàn Nguyễn Ánh. Kết quả là Nguyễn Ánh đã lên ngôi Hoàng
đế và triều Nguyễn thành lập (1802).
Triều Nguyễn xuất hiện có những mặt hạn chế của nó phải phê phán, song cũng có
những mặt tích cực cần được khẳng định. Tuy nhiên, so với yêu cầu của lịch sử, nhà
Nguyễn ngày càng trở nên bất cập, thậm chí nhà Nguyễn lại không chấp nhận xu hướng
cải cách và những đề án của Đặng Huy Trứ, của Nguyễn Lộ Trạch, của Nguyễn Trường
Tộ..., những đề án canh tân đất nước rất có hệ thống và tiến bộ. Lúc ấy muốn giữ nước,
giữ vững nền độc lập thì phải cải cách, đổi mới đất nước và mở rộng giao lưu với bên
ngoài, khép kín là tự sát. Song nhà Nguyễn lại không chấp nhận cải cách ở bên trong, bế
quan tỏa cảng với bên ngoài, làm hủy hoại các tiềm lực bên trong, dẫn tới trì trệ, khủng

Nam chủ trương về sau này.
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng lao động Việt Nam (2-1951) Hồ Chí
Minh đã khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống
quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi,
nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó
khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"(1). Chính nhờ kế thừa và phát
huy truyền thống yêu nước trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tinh hoa của
triết học và văn hóa phương Đông và phương Tây mà Nguyễn ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã
ra đi tìm đường cứu nước (1911) và đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin (1920). Con đường
cứu nước đúng đắn đã được tìm thấy. Đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Con đường cứu nước bắt đúng xu thế của lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp được sức mạnh của dân tộc và của thời đại.
Ngay sau khi ra đời (1930), Đảng ta đã tuyên truyền, giác ngộ, xây dựng lực lượng cho
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Qua các phong trào 1930-1931, 19361939, Đảng ta đã tập hợp quần chúng, tôi luyện họ trong cuộc đấu tranh cách mạng, phát
triển lực lượng mọi mặt của nhân dân ta, chuẩn bị đón thời cơ giành lại độc lập tự do cho
Tổ quốc.
Với đường lối chiến lược đúng đắn, với những chính sách kịp thời và linh hoạt, nhất là
từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5-1941), cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm
1945 đã thành công. Cách mạng tháng Tám (1945) ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công
nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba
Đình (Hà Nội), khai sinh ra nước Cộng hòa dân chủ Việt Nam. Người trịnh trọng tuyên
bố: "Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước
Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế
độ dân chủ cộng hòa".
"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc
lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của
cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

lịch sử Điện Biên Phủ được ghi vào lịch sử dân tộc ta và đi vào lịch sử thế giới như một
chiến công chói lọi.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1946-1954), Đảng
lãnh đạo nhân dân ta thực hiện chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng nhà
nước dân chủ tiến bộ, dần dần xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến; hoàn thiện
từng bước nhà nước của dân, do dân và vì dân bằng cách phát huy hiệu lực của Hiến pháp
1946; xây dựng dần đời sống kinh tế văn hóa, phát triển khoa học kỹ thuật, tạo cơ sở vật
chất kỹ thuật cho một xã hội tiến bộ.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đế quốc Mỹ đưa bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm, thay
chân thực dân Pháp về miền Nam lập ra chính phủ tay sai, rồi chính thức xâm lược nước
ta. Dưới ngọn cờ của Đảng, nhân dân ta đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước bất
khuất, đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và bè lũ tay sai.
Sức mạnh Việt Nam là kết quả tổng hợp của sự hy sinh phấn đấu trực tiếp của đồng bào
miền Nam, cộng với sự hy sinh phấn đấu của nhân dân miền Bắc trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện mọi mặt cho cuộc đấu tranh anh dũng của
đồng bào miền Nam. Dưới ngọn cờ của Đảng hơn bao giờ hết truyền thống chống ngoại
xâm của dân tộc từng bước được bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử nay càng được phát
huy mạnh mẽ, phong phú và sáng tạo, đã lập được những kỳ tích vĩ đại, vẻ vang vào bậc
nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
2.3.2. Những yếu tố tác động đến việc hình thành nghệ thuật đánh giặc
- Về địa lí
12


Nhà nước Văn Lang trước kia, nhà nước Việt Nam ngày nay có vị trí chiến lược
quan trọng ở khu vực Đông Nam á và biển Đông, có hệ thống giao thông đường bộ,
đường biển, đường sông, đường không, bảo đảm giao lưu trong khu vực Châu á và thế
giới thuận lợi. Đã từ lâu, nhiều kẻ thù luôn nhòm ngó, đe doạ và tiến công xâm lược. Để
bảo vệ đất nước, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc, cha ông ta đã đoàn kết và phát huy tối
đa ưu thế của địa hình để lập thế trận đánh giặc.

triều đại phong kiến trong chiến tranh giữ nước. Do đó, cha ông ta luôn nắm vững tư
tưởng tiến công, coi đó như một quy luật để giành thắng lợi trong suốt quá trình chiến
tranh. Thực hiện tiến công liên tục mọi lúc, mọi nơi, từ cục bộ đến toàn bộ, để quét sạch
quân thù ra khỏi bờ cõi. Tư tưởng tiến công được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong
quá trình chuẩn bị và thực hành chiến tranh giữ nước. Tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong
đánh giá đúng kẻ thù, chủ động đề ra kế sách đánh, phòng, khẩn trương chuẩn bị lực
lượng kháng chiến, tìm mọi biện pháp làm cho địch suy yếu, tạo ra thế và thời cơ có lợi
để tiến hành phản công, tiến công.
13


Sử sách còn ghi lại, thời nhà Lí đã chủ động đánh bại kẻ thù ở phía Nam (quân
Chiêm Thành), phá tan âm mưu liên kết của nhà Tống với Chiêm Thành. Trước nguy cơ
xâm lược của nhà Tống, Lí Thường Kiệt đã sử dụng biện pháp "tiên phát chế nhân" chủ
động tiến công trước để đẩy kẻ thù vào thế bị động. Ông đã tận dụng thế "thiên hiểm" của
địa hình, xây dựng tuyến phòng thủ sông Như Nguyệt, thực hiện trận quyết chiến chiến
lược, chủ động chặn và đánh địch từ xa để bảo vệ Thăng Long.
Vào thế kỷ XIII, các quốc gia châu Âu, châu á đang run sợ trước vó ngựa của giặc
Nguyên Mông, thì cả ba lần tiến quân xâm lược Đại Việt vào các năm 1258, 1285, 1288,
giặc Nguyên đều thảm bại, mặc dù có số quân lớn hơn nhiều lần quân đội nhà Trần. Có
được thắng lợi đó là do ta đã thực hiện toàn dân đánh giặc, "cả nước chung sức, trăm họ
là binh", trong đó, tích cực chủ động tiến công giặc là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong
các cuộc chiến tranh.
Trước đối tượng tác chiến là giặc Nguyên Mông có sức mạnh lớn hơn, ông cha ta đã
kịp thời thay đổi phương thức tác chiến, tránh quyết chiến với địch khi chúng còn rất
mạnh, chủ động rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng và tạo thế, thời cơ để phản công.
Rút lui chiến lược, tạm nhường Thăng Long cho giặc trong một thời gian nhất định, là để
bảo toàn lực lượng và đó là một nét độc đáo trong nghệ thuật tác chiến, chứ không phải là
tư tưởng rút lui. Quân địch tạm chiếm được Thăng Long mà không chiếm được "Thủ đô"
của kháng chiến, bởi vì chỉ chiếm được "thành không, nhà trống". Trong khoảng thời gian

công quân sự với binh vận, ngoại giao, tạo thế mạnh cho ta, biết phá thế mạnh của giặc,
trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định. Lê Lợi, Nguyễn Trãi không những
giỏi trong bày mưu, lập kế để đánh thắng giặc trên chiến trường, mà còn thực hiện "mưu
phạt công tâm", đánh vào lòng người. Sau khi đánh tan đạo quân viện binh do Liễu
Thăng chỉ huy, đã vây chặt thành Đông Quan, buộc Vương Thông phải đầu hàng vô điều
kiện, nhưng các ông đã cấp thuyền, ngựa và lương thảo cho hàng binh nhà Minh về nước
trong danh dự, để muôn đời dập tắt chiến tranh.
Ông cha ta đã phát triển mưu, kế đánh giặc, biến cả nước thành một chiến trường,
tạo ra một "thiên la, địa võng" để diệt địch. Làm cho "địch đông mà hoá ít, địch mạnh mà
hoá yếu", đi đến đâu cũng bị đánh, luôn bị tập kích, phục kích, lực lượng bị tiêu hao, tiêu
diệt, rơi vào trạng thái "tiến thoái lưỡng nan". Trong tác chiến, ông cha ta đã triệt để
khoét sâu điểm yếu của địch là tác chiến ở chiến trường xa, tiếp tế khó khăn, nên đã tập
trung triệt phá lương thảo, hậu cần của địch. Ngoài thực hiện kế "thanh dã", làm cho kẻ
thù rơi vào trạng thái "người không có lương ăn, ngựa không có nước uống", quân đội
nhà Trần tổ chức lực lượng đón đánh các lực lượng vận chuyển lương thực, hậu cần và
đánh phá kho tàng của địch. Điển hình như đội quân của Trần Khánh Dư đã tiêu diệt toàn
bộ đoàn thuyền lương của giặc do Trương Văn Hổ chỉ huy ở bến Vân Đồn, làm cho giặc
Nguyên ở Thăng Long vô cùng hoảng loạn.
- Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc
Thực hiện toàn dân đánh giặc là một trong những nét độc đáo trong nghệ thuật quân
sự của tổ tiên ta, được thể hiện cả trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng. Nét độc
đáo đó xuất phát từ lòng yêu nước thương nòi của nhân dân ta, từ tính chất tự vệ, chính
nghĩa của các cuộc kháng chiến. Hễ kẻ thù đụng đến nước ta, thì "vua tôi đồng lòng, anh
em hoà mục, cả nước chung sức, trăm họ là binh", giữ vững quê hương, bảo vệ xã tắc.
Từ lời thề của hai Bà Trưng và nghĩa quân: "Một xin rửa sạch nước thù; Hai xin đem
lại nghiệp xưa họ Hùng; Ba kẻo oan ức lòng chồng; Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này",
đến Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, nghệ thuật "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí
nhân thay cường bạo", nghệ thuật quân sự Việt Nam đã liên tục phát triển dựa trên nền
tảng của chiến tranh nhân dân, thực hiện tốt đổi yếu thành mạnh, kết hợp lực, thế, thời,
mưu, để đạt mục đích là cùng giành lại và giữ vững chủ quyền đất nước với tư tưởng

Chiến tranh là sự thử thách toàn diện đối với mỗi quốc gia trong tham chiến. Trong
chống giặc ngoại xâm, ông cha ta đã biết kết hợp chặt chẽ các mặt trận nhằm tạo ra sức
mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù. Mỗi mặt trận có vị trí, tác dụng khác nhau, nhưng
cùng thống nhất ở mục đích tạo ra sức mạnh để giành thắng lợi trong chiến tranh.
Mặt trận chính trị nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân, quy tụ sức mạnh đại
đoàn kết dân tộc, là cơ sở để tạo ra sức mạnh quân sự.
Mặt trận quân sự là mặt trận quyết liệt nhất, thực hiện tiêu diệt sinh lực, phá huỷ
phương tiện chiến tranh của địch, quyết định thắng lợi trực tiếp của chiến tranh, tạo đà,
tạo thế cho các mặt trận khác phát triển.
Mặt trận ngoại giao có vị trí rất quan trọng, đề cao tính chính nghĩa của nhân dân ta,
phân hoá, cô lập kẻ thù, tạo thế có lợi cho cuộc chiến. Mặt khác, mặt trận ngoại giao kết
hợp với mặt trận quân sự, chính trị tạo ra thế có lợi để kết thúc chiến tranh càng sớm càng
tốt. Điển hình: Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã mở "Hội thề Đông Quan", cấp ngựa, thuyền,
lương thảo cho hàng binh nhà Minh về nước trong danh dự, để muôn đời dập tắc chiến
tranh.
Mặt trận binh vận để vận động làm tan dã hàng ngũ của giặc, góp phần quan trọng
để hạn chế thấp nhất tổn thất của nhân dân ta trong chiến tranh.
- Về nghệ thuật tổ chức và thực hành các trận đánh lớn
Trong các triều đại phong kiến, ông cha ta đã tổ chức và thực hành các trận đánh
lớn để giải phóng đất nước, kết thúc chiến tranh. Thời nhà Lí có phòng ngự sông Cầu
(Như Nguyệt), đây là một điển hình về kết hợp chặt chẽ hai hình thức tác chiến phòng
ngự và phản công trên cả quy mô chiến lược, chiến thuật.
Thời nhà Trần, lần chống giặc Nguyên thứ 2, Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một cuộc
rút lui chiến lược, làm thất bại kế hoạch hợp vây của địch. Trong cuộc truy đuổi, giặc
Nguyên không thực hiện được những đòn quyết chiến với chủ lực ta, trái lại, chúng vấp
phải một cuộc chiến tranh của toàn dân Đại Việt. Do vậy, quân Nguyên đã sa vào tình
trạng muốn đánh mà không đánh được, "lực càng yếu, thế càng suy", điều đó đã tạo ra
thời cơ phản công cho quân ta.
Thời nhà hậu Lê, sau 10 năm bền bỉ, gian khổ, ngoan cường, cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang giải phóng dân tộc, giải phóng

hội nhập, chúng ta dễ dàng nhìn thấy bức tranh toàn cảnh của cả thế giới, mức độ cập
nhật thông tin là tức thời, sự xâm nhập lẫn nhau về tư tưởng, lối sống giữa các quốc gia là
rất lớn. Trước tình hình đó đã có nhiều người tự thấy trách nhiệm của mình đối với đất
nước, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc được đánh thức bởi “trông mình lại nghĩ đến
ta" và mong muốn làm được một cái gì đó có ích cho dân tộc mình, đất nước mình.
Rõ ràng, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tinh thần yêu nước truyền thống
phải được kế thừa và phát huy một cách cao độ hơn bao giờ hết, nhưng tinh thần đó cũng
cần phải được bổ sung những nội dung và hình thức mới cho phù hợp. Nếu như trước
đây, tinh thần yêu nước truyền thống lấy độc lập dân tộc làm mục tiêu cao nhất với
phương châm "tất cả cho tiền tuyến", thì ngày nay, yêu nước phải là gắn độc lập dân tộc
với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc là nấc thang để tiến tới mục tiêu cao hơn là mang lại
tự do, hạnh phúc cho nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Nếu nước độc
lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay cần được diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực và mọi đối tượng. Có như vậy
mới có thể phát huy tối đa tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức xã
hội vào sự nghiệp đấu tranh chung vì những mục tiêu cao đẹp của chủ nghĩa xã hội.
Đối với mỗi người dân Việt Nam ngày nay, yêu nước là luôn có ý thức xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Trước tiên, phải có lòng tự hào dân tộc, có ý thức tôn trọng, giữ gìn và phát huy
những giá tri vật chất cũng như tinh thần mà dân tộc ta đã tạo dựng được từ bao đời nay.
Mặt khác phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó và góp phần làm thất
18


bại mọi âm mưu đen tối nhằm chống phá chế độ ta của các thế lực thù địch trong và
ngoài nước. Hơn nữa, mỗi người cũng cần thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự để bảo vệ vững
chắc vùng trời, vùng biển thân yêu của Tồ quốc. Trong xây dựng kinh tế, yêu nước chính
là cố gắng phấn đấu học tập, tu dưỡng, rèn luyện, lao động để làm ra ngày càng nhiều của
cải vật chất cho xã hội. Lớp trẻ ngày nay cần mạnh dạn xông pha nơi trận tuyến kinh tế


5->8

8 trở
lên

13

10A4

07

36

6

Ghi chú

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

3.1. Kết luận
3.1.1. Ý nghĩa của đề tài.
Trong giai đoạn hiện nay, có nhiều người cho rằng: Vấn đề phát triển kinh tế quan
trọng hơn truyền thống, việc của ngày hôm nay cần thiết hơn việc của ngày hôm qua…
Tư tưởng này rất nguy hiểm, nếu không chấn chỉnh kịp thời sẽ khiến cho một thế hệ
người Việt quên mất cội nguồn, đánh mất bản sắc. Vì vậy việc giáo dục lòng yêu nước
cho học sinh - thế hệ tương lai của đất nước là rất quan trọng, bởi vũ khí lòng yêu nước
còn có sức mạnh gấp bội những phươgn tiện quân sự hiện đại, bởi đây là sức mạnh của
dân tộc Việt mang trên mình lịch sử 4000 năm.
Giáo dục cho học sinh: yêu nước trong bối cảnh hiện nay đặc biệt phải gắn liền với

+ Tổ chức cho học sinh tham gia các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử như: “Em yêu lịch
sử xứ Thanh”…
- Với những kết quả ban đầu thu được sau một thời gian áp dụng sáng kiến kinh
nhiệm Tích hợp kiến thức môn Lịch sử để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy bài Truyền
thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam. Rất mong nhà trường tổ chức khảo
nghiệm và có ý kiến góp ý, chỉ đạo để tôi tiếp tục hoàn chỉnh đề tài, góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn GDQP - AN nói riêng và chất lượng học tập toàn trường nói
chung.
Tôi hy vọng sẽ nhận được những đóng góp thiết thực và quý báu của các nhà quản
lý, đồng nghiệp, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học môn giáo dục GDQP AN ở các trường THPT nói chung và trường THPT Nguyễn Trãi nói riêng nhằm thực
hiện tốt mục tiêu đào tạo chung.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hoá, ngày 21 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác

Trần Thị Hoa Lý

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa GDQP - AN lớp 10 .Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia - 2000
3. Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam từ 1945 - 1975, Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân 1995
4. Lịch sử kỹ thuật quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân năm 2002
5. Chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ( 1954
– 1975) , Nhà xuất bản Quân đội nhân dân năm 1996


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status