Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học môn tin học lớp 10 - Pdf 57

MỤC LỤC
Nội dung
1.Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Phương pháp dạy học tích cực là gì
2.1.2. Đặc điểm của biện pháp dạy học tích cực
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
2.3. Các biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Biện pháp 1
2.3.2. Biện pháp 2
2.3.3. Biện pháp 3
2.3.4. Biện pháp 4
2.3.5. Biện pháp 5
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN mà tác giả đã được Hội đồng Cấp
phòng GD&ĐT, Cấp Sở GD&ĐT và các cấp cao hơn đánh giá đạt
từ loại C trở lên.

Trang
1

tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển nền kinh tế tri thức. Khoa
học – công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Và
chính sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung,
phương pháp giáo dục trong nhà trường ở nước ta hiện nay. Xu hướng toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế tạo cho nước ta nhiều cơ hội và thách thức. Cạnh tranh
kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi các nước phải đổi
mới công nghệ để tăng năng suất lao động, từ đó, đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ mới
cho giáo dục. Giáo dục phải đào tạo ra những con người có tri thức, có đạo đức,
có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng giải quyết vấn đề để làm việc hiệu quả
trong môi trường luôn biến đổi không ngừng. Vì vậy việc sử dụng các phương
pháp dạy học tích cực là vấn đề then chốt của việc đổi mới giáo dục Việt Nam
hiện nay.
Tin học là môn học mới được đưa vào trong chương trình THPT, nội dung
kiến thức có nhiều bài khó và trừu tượng, lại không phải là môn thi THPT quốc
gia nên học sinh ít hứng thú với việc học, chưa thật sự tích cực, chủ động trong
việc tiếp thu kiến thức. Làm thế nào để phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh? Làm thế nào để học sinh cảm thấy hứng thú với từng bài học? Đó vẫn là
điều trăn trở của không ít giáo viên dạy bộ môn Tin học. Để góp phần giải quyết
những vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm của mình về đề tài
“Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy
học môn Tin học lớp 10”.
1.2 .Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tôi khi nghiên cứu đề tài này là:
-Tạo được hứng thú học tập cho học sinh qua từng bài học, tiếp thu kiến thức
một cách tích cực, chủ động.
-Từ chỗ nắm vững kiến thức, học sinh sẽ áp dụng vào thực hành tốt hơn, có khả
năng giải quyết các vấn đề của thực tiễn đời sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài này nhằm nghiên cứu về “Một số biện pháp phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh trong chương trình tin học lớp 10”.

bàn luận về vấn đề đó.
Chú trọng đến phương pháp tự học
Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ chú trọng cho học sinh
cách thức rèn luyện và tự học, tự tìm ra phương pháp học tốt nhất để có thể tự
nắm bắt kiến thức mới. Tất nhiên, kiến thức mới sẽ được giáo viên kiểm định và
đảm bảo chắc chắn đấy là kiến thức chuẩn.
Nếu chủ động áp dụng phương pháp dạy và học tích cực thì giáo viên phải
loại bỏ hoàn toàn suy nghĩ cầm tay chỉ việc, đọc – chép… như những cách thức
giảng dạy thông thường khác.
Ưu tiên phương pháp học nhóm, tập thể
Với phương pháp học tích cực, giảng viên phải biết cách chia đội,nhóm và giúp
các học sinh phối hợp cùng với nhau để tìm ra phương pháp học tốt nhất.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sang kiến kinh nghiệm
Từ thực tế giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy, học sinh rất yêu thích
môn Tin học, vì qua đó, các em được tiếp xúc, làm quen với máy tính, làm quen
với việc lập trình…Thế nhưng bên cạnh yếu tố thuận lợi đó, việc dạy học môn
Tin còn gặp nhiều khó khăn. Đa số phụ huynh cho rằng Tin học là môn phụ nên
đồ dùng của học sinh còn thiếu thốn, chưa được đầu tư. Hầu hết học sinh không
có máy tính ở nhà để thực hành thêm nên kỹ năng của các em chưa thành thạo.
Ngoài ra, do cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn, tư liệu tham khảo hạn
chế… cũng ảnh hưởng phần nào đến chất lượng dạy học.
Nhiều giáo viên đã vượt lên khó khăn, cố gắng chuẩn bị tốt các khâu để
kích thích, động viên học sinh say sưa với môn học và thực tế cũng đã đạt được
những kết quả nhất định. Song, so với yêu cầu đổi mới giáo dục thì những kết
quả đó vẫn còn ít ỏi. Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh; tạo hứng thú
cho học sinh trong giờ học môn Tin học vẫn là việc làm cần thiết để nâng cao
2


chất lượng môn học.

HS: Quan sát.

GV: Đây là "đơn xin học" được trình
bày dưới 2 dạng (mẫu 1, mẫu 2).
GV? Em hãy cho biết mẫu nào trình Trả lời: Mẫu 2
bày nhìn khoa học và có tính thẩm mĩ
HS: Để có được mẫu 2 ta phải tiến
hơn?
hành định dạng văn bản. ở mẫu 1
GV chốt lại: Định dạng văn bản là rất văn bản chưa được định dạng nên rất
quan trọng. Vậy định dạng văn bản là khó nhìn, không có tính khoa học,
như thế nào? Ta có thể lựa chọn nhiều không có tính thẩm mĩ hơn
kiểu định dạng không? Để giải đáp
thắc mắc này chúng ta cùng học bài
hôm nay.
Bài 16 Định dạng văn bản
3


4


Mẫu 1: Văn bản chưa định dạng.
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đơn xin nhập học
Kính gửi: Ông Hiệu trưởng trường THPT Hữu Nghị
Tôi tên là Nguyễn Văn Hùng, có con là cháu Nguyễn Văn Dũng nguyên là học
sinh trường THPT Đoàn Kết. Cháu Dũng vừa qua đã kết thúc học kì I Với hạnh
kiểm tốt và được xếp loại học tập loại khá.

tháng

năm

Kính đơn
(Kí tên)

5


Ví dụ 3: Hướng dẫn học sinh giải bài tập 1.45 SBT Tin học 10 trang 21.
Bài 1.45 (SBT Tin học 10 trang 21): Tính và hiển thị tổng các số dương trong
dãy số A = {A1, A2, . . . , AN} cho trước.
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
GV? Yêu cầu HS xác định Input,
Output?
HS trả lời:
Input: Số nguyên dương N và dãy
a1,a2,. . . ,aN gồm N số.
GV? Ai biết ý tưởng giải bài toán Output: Tổng các số dương trong dãy.
này?
HS: Ta sẽ kiểm tra từ đầu dãy đến
cuối dãy, khi gặp một phần tử dương
GV? Làm thế nào để lưu được tổng thì cộng.
của tất cả các số dương trong dãy?
HS: Ta dùng một biến gọi là Sum để
GV? Khi chưa xem xét các phần tử chứa tổng của các số dương trong
trong dãy thì tổng có giá trị bằng bao dãy.
nhiêu?

nhiêu?
GV: Chứng tỏ máy tính có rất nhiều
ưu điểm nhưng có một ưu điểm rất
quan trọng là tính toán rất nhanh,
nhiệm vụ của chúng ta là xây dựng
thuật toán cho những bài toán đó.
Qua ví dụ 2 và ví dụ 3 cho thấy, khi dẫn dắt học sinh vào 1 vấn đề nào đó,
hay hướng dẫn học sinh xây dựng thuật toán cho một bài toán. GV cho học
sinh thấy tầm quan trọng của vấn đề ta nghiên cứu, và ý nghĩa của nó đối với
thực tế.
2.3.2. Biện pháp 2: Nội dung dạy học phải mới, những cái mới ở đây không
phải quá xa lạ với học sinh, cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ. Kiến thức
phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thoả mãn
nhu cầu nhận thức của các em.
Ví dụ 1: Hướng dẫn học sinh giải bài tập 1.35 sách BT Tin học 10.
Bài 1.35. Thuật toán tìm kiếm nhị phân được mô tả bằng cách liệt kê dưới đây
có điểm nào khác cách mô tả trong sách giáo khoa?
Bước 1: Nhập N, các giá trị a1, a2, . . . , aN và k;
Bước 2: Dau 1, Cuối  N
Bước 3: Nếu Dau > Cuoi thì thông báo dãy A không có số hạng nào
có giá trị bằng k rồi kết thúc;
 Dau  Cuoi 
 ;
2


Bước 4: Giua  

Bước 5: Nếu aGiua = k thì thông báo chỉ số Giua rồi kết thúc;
Bước 6: Nếu aGiua > k thì đặt Cuoi Dau - 1 rồi quay lại bước 3;


Bước 6 + bước 8 thành
bước 7

Trả lời:
Bảng phụ 1: Điều kiện Dau > Cuoi
được kiểm tra sau.
GV: Bản chất của sự thay đổi này là Bảng phụ 2: Điều kiện Dau > Cuoi
trong SGK nếu Dau > Cuoi được được kiểm tra trước.
kiểm tra sau sau. Tức là nếu điều kiện
còn sai thì còn thực hiện lặp, nếu
đúng Dau > Cuoi thì dừng lặp.
(GV chia lớp làm 2 nhóm và đưa ra
yêu cầu, nhóm 1 sử dụng thuật toán Nhóm 1 và nhóm 2 cùng lên mô
SGK, nhóm 2 sử dụng thuật toán phỏng thuật toán.
SBT)
Các nhóm cùng theo dõi và so sánh
GV: Cho dãy số: 2, 4, 5, 6, 9, 21, 22, kết quả
30, 31, 33. Hãy sử dụng hai thuật toán
đã trình bày ở trên minh họa cho
trường hợp k =21.
GV? Sau khi mô phỏng việc thực HS nhận xét: Hai thuật toán này cho
hiện hai thuật toán trên bằng 1 ví dụ cùng một kết quả.
em có kết luận gì?
GV: Ta thấy, cùng một Input được sử
dụng hai thuật toán khác nhau thì kết
quả vẫn cho ra một Output.
GV: Mỗi công việc có thể có các
phương án khác nhau, nhưng tùy vào
điều kiện cụ thể mà ta sử dụng

Nếu kết quả cho thấy đó vẫn là một
tam giác thì chương trình là sai.
GV? Thông qua một ví dụ ta có thể Ngược lại là đúng.
đưa ra kết luận gì về chương trình?
GV gợi ý: Nếu ví dụ đó chương trình
chạy đúng, nếu ví dụ đó chương trình
chạy sai.
HS: Nếu 1 ví dụ mà chương trình
chạy sai thì kết luận là chương trình
sai, nhưng nếu 1 ví dụ mà chương
GV? Ta nên sử dụng những bộ số như trình chạy đúng thì không thể đưa ra
thế nào để kiểm tra?
kết luận gì mà phải tiếp tục kiểm tra.
GV? Nếu trong bộ số kiểm tra có một HS: Bộ số vi phạm điều kiện (*)
số thực mà kết quả cho thấy đây vẫn
là 3 cạnh của tam giác thì chương
trình trên có đúng hay không? Tại
sao?
HS: Chương trình sai. Vì đầu bài yêu
cầu nhập và từ bài phím 3 số nguyên
GV? Một bộ số khác mà ta có thể sử dương.
dụng để kiểm tra là gì?
GV? Tóm lại, ta nên sử dụng những HS: Bộ số có chứa số thực.
bộ số như thế nào để test thử chương
trình trên.
HS:
- Bộ số vi phạm một trong 3 điều
GV: Chúng ta có thể sử dụng bất kỳ kiện (*);
bộ số nào mà thỏa mãn điều kiện trên,
- Bộ số có chứa số thực.

nhân việc bưu điện chuyển thư đến đúng địa chỉ người nhận. Trong mạng máy
tính cũng vậy, để một gói tin đến được đúng máy nhận thì máy đó phải có một
địa chỉ duy nhất được gọi là địa chỉ IP.
Mục đích của việc chuyển địa chỉ IP từ dạng số sang dạng kí tự là gì?
Internet là mạng của hàng trăm, hàng triệu máy tính nên việc nhớ hàng
trăm hàng triệu con số như vậy là không thể, và ta cũng rất dễ nhầm lẫn khi thao
tác với những con số đó. Cho nên người ta chuyển địa chỉ IP từ dạng số sang
dạng ký tự để thuật tiện cho người sử dụng.
Ta thấy khi học nội dung này, học sinh được học những khái niệm mới
(giao thức TCP/IP) dựa trên những cái đã biết (khái niệm giao thức). Để trả lời
được những câu hỏi mà giáo viên đưa ra thì học sinh phải liên hệ với thực tế, với
những công việc thường ngày hay gặp hay chính bản thân đã làm.
.
2.3.3. Biện pháp 3: Phải dùng các phương pháp đa dạng: Nêu vấn đề, thí
nghiệm, thực hành, so sánh, làm việc độc lập và phối hợp chúng với nhau. Kiến
thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau.
Những vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra một cách đột
ngột, bất ngờ.
Ví dụ 1: Giáo viên đưa ra bài tập
Bước 1: Nhập đoạn văn bản sau (chưa chỉnh sửa);

10


"5. Soạn thảo, in ấn, lưu trữ, văn phòng
Với sự trợ giúp của các chương trình soạn thảo và xử lí văn bản, xử lí ảnh, các
phương tiện in gắn với máy tính, Tin học đã tạo cho việc biên soạn các văn bản
hành chính, lập kế hoạch công tác, luân chuyển văn thư, công nghiệp in ấn,...
một bộ mặt hoàn toàn mới. Các khái niệm mới như Văn phòng điện tử, Xuất bản
điện tử,... ngày càng trở nên quen thuộc."

toán?
GV chia lớp làm 4 nhóm và đưa ra
yêu cầu
Nhóm 1: Tìm hiểu thuật toán biểu
diễn bằng phương pháp liệt kê
Nhóm 2: Tìm hiểu thuật toán biểu
diễn băng sơ đồ khối
Nhóm 3: Mô phỏng thuật toán
Nhóm 4: đưa ra kết luận
(Sử dụng 2 bảng phụ trình bày thuật
toán sắp xếp bằng tráo đổi được mô
tả bằng cách liệt kê các bước và sơ
đồ khối)
Bảng phụ 1: Thuật toán (SGK Tin học
10- Trang 43).
Bảng phụ 2: Thuật toán SBT Tin học
- Trang 18.
GV: Treo bảng phụ.

Hoạt động của học sinh
HS: Đọc đề bài.

HS: Quan sát, so sánh, vận dụng kiến
thức đã học để giải quyết bài toán.
HS nhóm 1
Bước 3: Kiểm tra điều kiện M = 1
Bước 4: Khởi tạo i có giá trị là 2;
Bước 5: Kiểm tra điều kiện M = M +1
Bước 7: Bước 5 + bước 8;


Muốn giải được bài tập này HS phải quan sát, đối chiếu và vận dụng kiến
thức đã học (thuật toán sắp xếp bằng tráo đổi) để thấy được sự khác nhau giữa
hai thuật toán.
Ví dụ 3: Dạy nội dung Các thao tác đối với bảng (Bài 19. Tạo và làm việc với
bảng).
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
.........
b. Tách một ô thành nhiều ô
Trong khi thao tác với bảng, tuỳ
từng công việc khác nhau mà ta phải
tách hay gộp các ô của bảng.
Để tách một ô thành nhiều ô, cần
thực hiện theo các bước sau:
Ghi bài.
Viết bảng.
Bước 1: Chọn ô cần tách
Bước 2: Sử dụng lệnh: Table->Split
cells, hoặc nút lệnh
trên thanh
công cụ Tables and Borders. Xuất hiện
hộp thoại
Treo bảng phụ 2 và giải thích.
Bước 3: Nhập số cột cần tách vào ô
Number of columns và số hàng cần
tách vào ô Number of rows.

c. Gộp nhiều ô thành một ô
Trong lúc làm việc với bảng nhiều
khi ta phải gộp các ô với nhau. Khi ta

3055
1780
2100

Số ngày
mưa trung
bình năm
(ngày)
170
150
99
195

2.3.4. Biện pháp 4: Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt ở các lớp nhỏ,
dụng cụ trực quan có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú của học sinh.
Ví dụ 1: Khi dạy chương 3. Soạn thảo văn bản.
Giáo viên nên sử dụng máy chiếu khi dạy chương này. Những thao tác đối
với văn bản (định dạng kí tự, định dạng đoạn văn bản, định dạng trang - Bài 16
Định dạng văn bản) giáo viên nên thực hành ngay sau khi cho học sinh ghi lý
thuyết. Hoặc khi dạy hết một nội dung (dạy hết các thao tác đối với bảng - Bài
19 Tạo và làm việc với bảng) giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng thực hành lại
các thao tác vừa được học.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 3 Giới thiệu về máy tính hoặc bài 20 Mạng máy tính.
Giáo viên sử dụng những thiết bị như: RAM, ROM, đĩa cứng, đĩa mềm,
thiết bị nhớ flash (USB), chuột, bàn phím, loa, máy chiếu, máy in, vỉ mạng, cáp
mạng, giắc cắm. . . để giới thiệu cho học sinh
2.3.5. Biện pháp 5: Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau : cá
nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong vườn trường, trong phòng thí
nghiệm …
Ví dụ: Giáo viên chia lớp thành các nhóm, học sinh làm việc với phiếu học tập,

Chức năng
a. thực hiện các phép toán số học và lôgic.
b. để đưa thông tin ra.
c. điều khiển hoạt động đồng bộ của các bộ
phận trong máy tính và các thiết bị ngoại vi
liên quan.
4. Bộ điều khiển
d. lưu trữ thông tin cần thiết để máy tính hoạt
động và dữ liệu trong quá trình xử lý.
5. Bộ số học/lôgic e. dùng để nhập thông tin vào.
6. Thiết vị ra
f. lưu trữ thông tin lâu dài.
Phiếu học tập số 2: (Sử dụng ở bài 3. Giới thiệu về máy tính)
Hãy đánh dấu vào cột tương ứng để phân loại thiết bị trong bảng sau:
Thiết bị
Thiết bị vào
Thiết bị ra
Chuột
Màn hình
Máy quét
Máy in
Môđem
Máy chiếu
Loa
2.4. Hiệu quả của sang kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Đề tài này được thực hiện giảng dạy khi tôi tham gia dạy lớp 10 từ năm
2007 -> 2019. Trong quá trính vận dụng các biện pháp nêu trong sáng kiến kinh
nghiệm tôi nhận thấy học sinh tiếp thu bài tốt hơn, có hứng thú trong việc học
môn tin học, đồng thời biết vận dụng các kiến thức học được vào phục vụ các

(%)

Điểm 9, 10
(%)

5,7%
0

64,2%
28,3%
1,8%
32%
62%
6%
Hình 3.1
Bảng kết quả học tập môn tin học năm học 2018 – 2019
Kết quả học tập cả năm
Lớp Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Số HS %
Số HS %
Số HS %
Số HS %
10A5 41
6
14,6% 24
58,5% 8

của bản thân. Tuy nhiên, khi áp dụng những biện pháp này, bản thân tôi và đồng
nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn. Khó khăn nhất là cơ sở vật chất, trang thiết bị
của nhà trường còn thiếu thốn; tài liệu tham khảo còn hạn chế. Vì thế, để các
biện pháp trên được áp dụng một cách hiệu quả, thiết nghĩ cần tăng thêm các
trang thiết bị, tài liệu cần thiết cho học sinh trong giờ học môn Tin học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
17


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2019

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Huyền

18


1.
2.
3.
4.
5.

Tài liệu tham khảo
Sách giáo khoa tin học lớp 10 – NXB giáo dục

hứng thú học tập cho
học sinh

Ngành GD
Cấp tỉnh

B

Năm học
đánh giá
xếp loại
2014-2015

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status