PHẦN MỞ ĐẦU.
I. Bối cảnh của đề tài.
Kết quả học tập bộ môn lịch sử THPT hiện nay thấp, điều đó đặt ra cho
chúng ta nhiều vấn đề cấn quan tâm giải quyết, nhất là những người trực tiếp
làm công tác giảng dạy . Thực tế cho thấy, ít có học sinh hứng thú với tất cả các
bộ môn mà thường chỉ say mê một số môn. Kinh nghiệm cũng cho thấy không
nên đánh giá cao biểu hiện hứng thú học tập và năng khiếu của các em để kết
luận thích môn này hay môn kia, nhất là trong việc tổ chức thi cử còn chưa thật
sự hoàn hảo, chập chờn giữa học và thi, quan niệm về vị trí của từng bộ môn còn
có chỗ lệch lạc, động cơ học tập chưa đúng, thì việc tạo hứng thú cho học sinh
trong quá trình giảng dạy có vị trí , ý nghĩa hết sức quan trọng để giúp các em có
động cơ học tập đúng đắn. Thiết nghĩ cũng cần nhắc lại rằng : Học sinh không
thích học lịch sử, không phải do môn lịch sử gây ra mà chính là do quan niệm và
phương pháp dạy học của chúng ta chưa thật sự phù hợp. Bởi Lịch sử là nguồn
cảm hứng mạnh mẽ đối với mọi người, vì qua lịch sử mà ta nhận thấy được
gương mặt của quá khứ, hình ảnh của hiện tại và bước phát triển của tương lai.
Không phải ngẫu nhiên mà F.Enghen - người bạn cảm động và hết sức vĩ đại của
Các Mác - đã khẳng định: “Đối với chúng ta, lịch sử là tất cả, lịch sử được
chúng ta đánh giá cao hơn bất cứ cái gì khác…” ( Các Mác, F.Enghen toàn tập,
tập I).
Như vậy , vấn đề phương pháp dạy học có vai trò to lớn, quyết định đến chất
lượng bộ môn. Điều mà chúng ta cần góp ý, luận bàn để ít nhất là cải thiện thái
độ học tập bộ môn của các em trong tình hình hiện nay tại Tỉnh ta.
II. Lí do chọn đề tài.
Trong một số năm trở lại đây, khi mà nền kinh tế thị trường phát triển, thì số
học sinh THPT sao nhãng việc học tập các bộ môn khoa học xã hội nói chung,
Lịch sử nói riêng càng bộc lộ rõ, tình trạng này không những ở các thành phố thị
xã mà học sinh ở vùng nông thôn, vùng sâu , vùng xa cũng có những biểu hiện
1
Thông qua thực tiễn cuộc sống và giảng dạy, trả lời được một số câu hỏi
thuộc phạm vi nghề nghiệp chuyên môn đặt ra:
1/ Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng học tập bộ môn sút kém .Trong
dó nguyên nhân nào là cơ bản.
2/ Có thể cải thiện được tình hình hay không? Giải pháp và nguồn lực nào?
3/ Đề xuất một số ý kiến với các cấp quản lí nhà nước và quản lí giáo dục.
Từ đó áp dụng vào việc giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào
tạo thế hệ trẻ những chủ nhân tương lai của đất nước, của từng địa phương,
những con người vừa hồng vừa chuyên, hiểu sâu sắc quá khứ để có suy nghĩ và
hành động trong hiện tại và tương lai.
3
PHẦN NỘI DUNG.
I.
Cơ sở lí luận của đề tài.
Đổi mới toàn diện, sâu sắc trên mọi lĩnh vực, từ lâu đã trở thành mệnh lệnh;
chủ trương của Đảng, sự phát triển đi lên của đất nước,đòi hỏi mỗi ngành, mỗi
đơn vị , cá nhân đều phải đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm cho phù hợp với
xu thế chung, đặc biệt đối với Giáo dục, được Đảng ta xác định phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu,cần phải nhanh chóng “chấn hưng nền giáo dục Việt
Nam” (Nghị quyết Đại hội X), để tạo ra nguồn lực con người- yếu tố cơ bản
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế. Yêu cầu đối với giáo dục phổ thông “ bồi
dưỡng cho thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về văn hóa, phát huy tư duy khoa học
và phát huy năng khiếu,có óc thẩm mĩ” ( Nghị quyết Bộ Chính trị về cải cách
giáo dục). Vì vậy, cần tập trung sức lực, tài lực, trí tuệ để “ nâng cao chất lượng
đáp ứng yêu cầu và là chủ nhân của xã hội hiện đại. Như vậy, DẠY – HỌC như
thế nào là điều hết sức quan trọng.Góp phần giải quyết câu hỏi số một ở phần
trên. Điều này có thể chung cho tất cả các bộ môn, riêng với lịch sử, trong hoàn
cảnh hiện nay, khi mà sự hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sôi động, nền
kinh tế tri thức còn non trẻ của chúng ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thách
thức đan xen, sự nghiệt ngã của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt,
chuẩn đánh giá chất lượng và giá trị cuộc sống nhiều lúc, nhiều nơi phiến diện,
nghiêng về thu nhập tài chính, thì việc dạy đạo đức,truyền thống, dạy Người hơn
lúc nào hết cần được chú trọng đúng mức và tăng cường, để hòa nhập nhưng
không hòa tan, phải giữ được truyền thống quý báu ngàn năm văn vật của Đất
Việt người Nam, yếu tố tạo nên sức mạnh vĩ đại để dân tộc ta trường tồn và đi
lên cùng nhân loại tiến bộ. Việc tìm hiểu quá trình phát triển của lịch sử loại và
dân tộc, đặc biệt là lịch sử dân tộc, như lời Bác đã dạy “ dân ta phải biết sử ta;
cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Đây vừa là ý nghĩa vừa là nhiệm vụ
của những người nghiên cứu, giảng dạy- học tập bộ môn lịch sử. Để đạt được
mục tiêu đó,chúng ta phải tiến hành hàng loạt giải pháp kết hợp, mà trước hết
cần phải thu hút và gây hứng thú cho các em, bởi chỉ có hứng thú thì mới tự
giác , tích cực học tập, bởi “tư tưởng không thông thì cầm bình tông cũng không
nổi”.Phải khách quan mà nói rằng: Lịch sử hay lắm, hấp dẫn lắm, nhưng không
phải vì vậy mà chúng ta chủ quan, lạm dụng, trong giảng dạy bộ môn lịch sử cứ
5
“ bê nguyên xi” sách giáo khoa vào bài giảng với hàng loạt sự kiện khô khan, rời
rạc, thì coi như chúng ta đã biết trước được kết quả: Thủ tiêu niềm ham thích,
hứng thú học tập bộ môn, biến một tiết dạy lịch sử thành một bài chính trị giáo
điều, khó tiếp nhận, học sinh lười học là tất yếu. Bởi theo I.F. Kharlamop “ hứng
thú – đó là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc cảm đi trước giai đoạn gây động cơ và
làm cho hoạt động con người có tính hấp dẫn” Như vậy, hứng thú là một trạng
thái tâm lí, sinh lí biểu hiện bằng cảm giác thích thú, say sưa, phấn khởi do một
vật chất, phương tiện dạy bộ môn của nhà trường còn nghèo nàn, thiếu thốn;
người thầy giáo còn gặp quá nhiều khó khăn trong cuộc sống đời thường, liên
tục phải đối phó với tình trạng thu nhập thấp giá sinh hoạt cao, lấy nghề phụ
nuôi nghề chính, tình trạng chân ngoài dài hơn chân trong đã ảnh hưởng tới chất
lượng, hiệu quả lao động sư phạm.
Trên tinh thần cùng chi sẻ, chúng tôi xin nêu ra đây một số kinh nghiệm
mà trong thực tiễn đã gặt gái được chút ít thành công để đồng nghiệp tham khảo,
ứng dụng vào công tác giảng dạy của bản thân nếu chấp nhận được.
III.
Các biện pháp đã tiến hành.
Khi tham dự hội thảo do Sở GD& ĐT tổ chức, chúng tôi nhận thấy, bên
cạnh màu sắc ảm đạm các bản tham luận nêu ra tới ngàn lẽ một nguyên nhân
dẫn đến tình trạng học sinh không chịu học bộ môn lịch sử, song bên cạnh đó
còn thấy màu hồng rõ nét, nhiều đơn vị số học sinh có kết quả học môn sử cao
thông qua kết quả thi tốt nghiệp phổ thông trung học, Đại học, Học sinh giỏi
Tỉnh, khu vực v.v là một ví dụ điển hình, cùng với qua thực tiễn giảng dạy, bản
thân nhận thấy: số lượng học sinh thích học môn sử không phải là ít, thể hiện
qua thái độ các em ngồi học, những câu hỏi các em đặt ra trong giờ học, ngoài
giờ lên lớp, kết quả học tập thông qua các bài kiểm tra, rõ ràng dây là những tín
hiệu lạc quan, không để các em thất vọng, bản thân tôi trân trọng thái độ của các
em, từ đó có ý thức cố gắng hơn trong công tác dạy Người – dạy chữ của mình
bằng những việc làm cụ thể, xin được trình bày ra đây:
1/ Một số hoạt động khơi dậy ý thức “dân ta phải biết sử ta”
7
- Chúng tôi tranh thủ ý kiến lãnh đạo nhà trường đầu tư kinh phí làm một số Pa
– nô, treo ở những vị trí trực quan trong trường về các anh hùng dân tộc, danh
đúng. Bởi lẽ:
- Nếu bài giảng thoát ly hoàn toàn nội dung SGK học sinh sẽ khó khăn trong
việc tiếp thu trên lớp và tự học ở nhà. Vì vậy không nắm được kiến thức cơ bản.
- Ngược lại, lập lại nguyên văn bài viết trong SGK vừa làm giảm uy tín người
thầy, vừa giảm giá trị, ý nghĩa giáo dục, còn làm mất đi hứng thú học tập của
học sinh.
Vì vậy trong bài giảng phải có sự kết hợp, gắn bó, phù hợp giữa bài giảng
và bài viết trong SGK. Để có được điều đó người thầy giáo phải nghiên cứu kỹ
SGK qua đó, tìm ra được đâu là kiến thức cơ bản, trọng tâm cần truyền thụ.
Đồng thời phải tra cứu tìm tòi tài liệu ngoài SGK đưa vào trong bài giảng một
cách hợp lý. Để giúp học sinh dễ dàng hiểu và lĩnh hội được một cách sâu sắc và
vững chắc kiến thức bài giảng, nhằm nâng cao tính khoa học trong sáng và tính
vừa sức của SGK đối với đối tượng cụ thể đang tiếp thu. Mặt khác có một thực
tế xảy ra là SGK lịch sử thường không phản ánh kịp thời sự phát triển nhanh
chóng của khoa học lịch sử (như việc đánh giá công và tội của triều Nguyễn,
tình hình các nước Đông Nam Á, vị trí xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay
trên thế giới .v.v). Bởi vậy, giáo viên không dừng lại ở chỗ chỉ nắm nội dung
SGK mà phải thường xuyên nghiên cứu, tham khảo thêm nhiều nguồn tư liệu
mới đưa vào bài giảng để bài học thêm phong phú, sâu sắc, bảo đảm tính cập
nhật thông tin hiện đại những kiến thức lịch sử cần truyền thụ cho học sinh.
( những thông tin từ nguồn tin cậy, đã được lựa chọn kĩ càng, chứ không mang
tính chất tung thông tin, kích thích tính hiếu kì, thỏa mãn trí tò mò, đi vào những
tình tiết tầm thường, vụn vặt làm học sinh khó tiếp nhận bài học và lệch trọng
tâm mục tiêu đã đề ra)
9
Có thể kết hợp sử dụng các phương tiện thiết bị, tranh ảnh để giải quyết
phần quan trọng và khó khăn này. Bởi kênh hình không những làm cho vấn đề
I. Tình hình nước ta sau cách mạng I. Tình hình nước ta sau cách mạng
tháng Tám năm 1945.
tháng Tám năm 1945.
(Không có phần 1, 2 nhỏ)
1, Thuận lợi
II. Bước đầu xây dựng chính quyền 2, Khó khăn
Cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn II. Chủ trương, biện pháp giải quyết
dốt và khó khăn về tài chính.
khó khăn trước mắt.
1, Xây dựng chính quền Cách mạng.
1, Diệt giặc đói.
2, Giải quyết nạn đói
2, Diệt giặc dốt.
3, Giải quyết nạn dốt
3, Giải quyết khó khăn về tài chính
4, Giải quyết khó khăn về tài chính
4, Củng cố chính quyền Cách mạng
- Bài đọc thêm:
+ Lễ ký Hiệp định sơ bộ (ngày 6/3/1946) và phụ khoản đính kèm theo Hiệpđịnh.
+ Thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào Nam bộ trước khi sang Pháp đàm phán.
- Tài liệu tham khảo.
+ Danh sách Chính phủ lâm thời (quốc dân Đại hội Tân trào ngày 16/8/1945)
+ Danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến (quốc hội thông qua ngày
2/3/1946)
- Hình ảnh minh họa.
+ Ảnh nhân dân Nam bộ vót gậy tầm vông đánh Pháp
+ Ảnh Lê Văn Tám làm bó đuốc đốt kho xăng của giặc
+ Ảnh đoàn quân “nam tiến” lên đường vào Nam chiến đấu
+ Ảnh nhân dân Nam bộ quyên góp gạo cứu giúp đồng bào bị đói Bắc bộ
(10/1945)
+ Lớp bình dân học vụ.
12
- Nếu còn thời gian có thể kể một số câu chuyện về giai thoại học bổ túc, về
buổi làm việc của Hồ Chủ tịch với đại diện quân Trung Hoa Dân quốc, làm tăng
hưng phấn, thích thú cho các em.
4/ Công thức hoá – học sinh dễ nắm nội dung cơ bản của bài, chương.
Ba chiến lược của Mĩ ở miền Nam Việt Nam có thể viết thành công thức, từ đó
các em diễn đạt bằng ngôn ngữ hiểu biết của mình, vừa nắm chắc, vừa tránh sự
nhầm lẫn.
CTĐB = L2nguỵ + ( cố vấn + vk +ptct + usd) Mĩ.
CTCB
= L2 nguỵ + ( cố vấn + lính cđ + quân đồng minh + vk +ptct + usd) Mĩ.
VNHCT = L2 nguỵ + ( cố vấn + lính cđ + quân đồng minh + vk +ptct +usd) Mĩ.
người - quyền công dân – Một xã hội văn minh đã được hình thành từ buổi bình
minh của lịch sử.
Hay thanh niên thành Aten có lời thề trước khi vào quân đội…” Tôi sẽ chiến
đấu….sẽ không để lại sau lưng mình một Tổ quốc suy nhược mà là một Tổ quốc
hùng cường và mạnh mẽ. Và chính bản thân tôi cùng với tất cả mọi người, sẽ
tuân thủ mọi luật pháp hiện đang có hiệu lực cũng như mọi luật pháp sẽ có trong
tương lai”.
Hoặc khi dạy về chiến tranh thế giới thứ hai, giáo viên có thể đọc cho học sinh
một đoạn về sư đoàn 24, được mệnh danh là sư đoàn thép:
Tên: 24; Họ: Thép; Chuyên môn: Bộ binh.
Năn sinh: 1918; Người sinh: Cách mạng tháng Mười.
Nơi sinh: Trên sông Vôn – ga gần Xiêm –biếc – xư – cơ.
Xuất thân: Thợ thuyền và dân cày 2 tỉnh Xiêm –biếc – xư – cơ và Xa – ma – ra.
Học lực : Tốt nghiệp trường đại học nội chiến.
14
Đã được thưởng những gì? 10 lá cờ đỏ vinh dự của Ban Chấp Hành Trung Ương
toàn Nga, 20 lá cờ của Xiêm –biếc – xư – cơ và Xa – ma – ra. Gần 1000 tấm
huân chương cờ đỏ của Ủy ban quân sự cách mạng.
Lí do tặng thưởng: vì đã tham gia giải phóng các tỉnh Pơ-van – giơ, Ô –
ren – bua, Xiêm –biếc – xư – cơ , Xa – ma – ra và hơn 100 thành phố khỏi tay
những kẻ thù của chính quyền Xô Viết.
Ai có thể chứng thưc những lời khai trên đây? Giai cấp vô sản ở Xiêm –biếc –
xư – cơ , Xa – ma – ra, Ô – ren – bua và các tên tướng Nga Hoàng Cô – xắc, Đu
– tốp, Đê – nhi – kin”.
Mỗi loại bài về kinh tế – xã hội, hay về văn hóa, chúng ta cố gắng đưa một số
mẫu chuyện, hình ảnh để làm sinh động thêm bài học. Ví dụ, như khi miêu tả về
sự chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ, chung ta đọc cho các em một
Yếu - Kém
216 hoïc sinh
25%
57%
18%
234 hoïc sinh
37%
55%
8%
Điều lí thú nữa là các em học sinh lớp nâng cao các môn tự nhiên cũng đã rất
hứng thú khi vào tiết học lịch sử.
PHẦN KẾT LUẬN
16
Như vậy, theo chúng tôi, muốn nâng chất lượng bộ môn, người thầy giáo
dạy sử cần phải biết tự ái, để nổ lực phấn đấu, nâng cao trình độ chuyên môn –
nghiệp vụ, tìm tòi và sáng tạo áp dụng vào thực tế hoàn cảnh giảng dạy cụ thể,
trước hết tạo ra được sự niềm tin và hứng thú của các em học sinh. Bài học được
như vậy mới thêm hành trang hiểu biết lịch sử trước khi bước vào mợi trường
mới.
Những kiến thức lòch sử cần thiết khác có thể trình
bày trong tài liệu đọc thêm, sách giáo khoa nên tăng
kênh hình nhiều hơn.
Xin chân thành cảm ơn và gửi lời chào đoàn kết và xây dựng.
18
Xác nhận của BGH
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan SKKN này là của tôi
làm, không sao chép với bất cứ hình
thức nào.
Người viết SKKN
PHẠM THỊ THỦY
MUÏC LUÏC
PHẦN MỞ ĐẦU.
I. Bối cảnh của đê tài ..........................................................Trang 1
II. Lí do chọn đề tài..............................................................Trang 1
III.Phạm vi và đối tượng của đề tài......................................Trang 2
IV. Mục đích của đề tài.........................................................Trang 2
PHẦN NỘI DUNG
1/
I.
2/ GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP LỊCH SỬ – NXB Giáo dục
– đào tạo 1983.
3/ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO – NXB
Giáo dục - đào tạo 1980.
4/ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY LỊCH SỬ DÙNG
TRONG NHÀ TRƯỜNG PTTH HOẰNG HĨA
5/ SÁCH GIÁO KHOA NGOÀI GIỜ LÊN LỚP – KHỐI 10
NĂM 2010 – 2011.
6/ Mợt sớ tờ báo: Giáo Dục và Thời Đại, T̉i trẻ, t̉i trẻ Nét, Dân trí,.v.v
20