MỤC LỤC
1. Mở đầu…………………………………………………………………… 2
1.1. Lí do chọn đề tài ……………………………………………….
2
1.2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………… 2
1.3. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………….. 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………….
3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm ……………………………………......
4
2.1. Cơ sở lí luận ……………………………………………………
4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm …... 4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ………………… 6
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường ………………… 12
3. Kết luận, kiến nghị ……………………………………………………… 14
Tài liệu tham khảo …………………………………………………………. 15
1. Mở đầu
1.1. Lí do lựa chọn đề tài
Làm văn là một phân môn của môn Văn trong nhà trường phổ thông. Khi
học trong trường phổ thông hiện nay là tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh. Với tinh thần này, chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã có nhiều
đổi mới về cách kiểm tra, đánh giá. Môt trong những phương diện đổi mới là
việc chú trọng văn nghị luận xã hội ( NLXH), đây là một cách rất tốt hình thành
cho học sinh - những công dân trẻ của đất nước tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, suy
nghĩ sâu sắc trước mọi vấn đề trong cuộc sống.
Với những lý do chủ quan và khách quan như trên tôi tiến hành tìm hiểu
nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học làm văn
nghị luận xã hội cho học sinh lớp 10 THPT”
Khi nghiên cứu đề tài này tôi có điều kiện giảng dạy trong nghành nhiều
năm. Đồng thời được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong tổ Ngữ Văn và Ban
giám hiệu.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nhiệm vụ của đề tài là: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học
làm văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 10 THPT”
- Mục đích: Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích nâng cao tay nghề sư
phạm, giúp học sinh phát huy tính chủ động, tích cực khi tham gia học tập, từ đó
có khả năng tiếp cận, khám phá và chiếm lĩnh những vấn đề xã hội một cách toà
diện và sâu sắc nhất, tránh việc xa đề, lạc đề, hoặc liệt kê kể lại những chi tiết
thông thường trong đời sống. Với mục đích thiết thực là các em biết chiếm lĩnh,
hiểu đúng ý nghĩa và biết giải thích hiện tượng, vấn đề, biết chứng minh và bình
luận về nó.Thấy được thế giới xung quang là muôn mầu, muôn vẻ. Thấy được tư
tưởng và thông điệp mà cuộc sống ban tặng và gửi gắm đến ta, cũng như vấn đề
xã hội mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm từ đó giáo dục lòng yêu văn học và say
mê bộ môn.
1.3. Đối tượng nghiện cứu
3
để khích lệ, động viên học sinh vượt qua những khó khăn trở ngại ấy, rèn luyện
các kỹ năng viết và trình bày vấn đề, một kỹ năng cần thiết trong hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ trong thời đại mới .
Đề nghị luận xã hội- như tên gọi của nó- còn cần gắn liền với những vấn
đề xã hội, tư tưởng, đạo đức, nhân sinh, để giúp học sinh có những nhận thức và
hành động đúng đắn, hứng thú với kiểu bài NLXH, học sinh sẽ được bồi dưỡng
nhân cách phẩm chất một cách tự nhiên, tránh áp đặt, giáo điều.
Từ cơ sở lý luận trên giáo viên có thể tìm ra cách hướng dẫn học sinh tiếp
cận và khám phá các vấn đề xã hội theo hướng phát huy tính chủ động và tích
cực.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
- Thuận lợi:
Trước năm 2009 (năm đầu tiên thi tốt nghiệp theo chương trình sách giáo
khoa mới) trong các đề thi dành cho chương trình phân ban thử nghiệm đã có
5
câu Làm Văn Nghị luận xã hội. Tuy nhiên, đề thi không phân ban lại thường chỉ
có những câu hỏi về văn học nước ngoài và Văn học Việt Nam. Giáo viên và
học sinh thường tập trung ôn Văn học nước ngoài và Văn học Việt Nam để làm
bài kiểm tra hoặc bài thi.
Từ năm 2009, trong cấu trúc đề thi đã quy định có câu làm văn Nghị luận
xã hội. Từ năm 2015, đây là câu được 2 điểm trong thang điểm 10 của toàn đề
thi. Giáo viên và học sinh đã quan tâm nhiều hơn đến bài văn Nghị luận xã hội.
Trong trường THPT hiện nay, học sinh được luyện viết ba dạng đề
NLXH: Nghị luận về một tư tưởng đạo lý, nghị luận về một hiện tượng cuộc
sống, nghị luận về một vấn đề tư tưởng-xã hội- nhân sinh được đặt ra từ một tác
phẩm.
Qua khảo sát cho thấy sự hứng thú của học sinh đối với các dạng đề Nghị
luận xã hội là vì:
sao lại nói như vậy, nói như vậy có ý nghĩa gì?...
Tiếp theo là kỹ năng làm bài: Cần vận dụng các thao tác nghị luận một
cách uyển chuyển, linh hoạt và kết hợp chúng để bài viết đạt hiệu quả cao nhất.
Cùng với đó, vận dụng tổng hợp các phương thức biểu đạt: Bên cạnh kết hợp
nhiều thao tác lập luận, bài văn nghị luận xã hội cần kết hợp các phương thức
biểu đạt như biểu cảm, thuyết minh, tự sự, miêu tả..., nhất là phương thức biểu
cảm. Bởi văn nghị luận thuyết phục người đọc không chỉ ở lý trí, mà còn phải
tác động vào tình cảm, cảm xúc….
Đặc biệt, văn nghị luận xã hội không chỉ đơn thuần cung cấp kiến thức xã
hội mà cao cả hơn giúp học sinh nhận thức đúng đắn những vấn đề đạo đức nhân
sinh cao đẹp trong đời sống, từ đó, giúp giáo dục nhân cách.
Vì thế, đối với kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý, cần yêu cầu cao
ở học sinh khi rút ra được ý nghĩa, bài học nhận thức và hành động về một tư
tưởng, đạo lý.
7
Còn với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, phải yêu cầu cao
ở học sinh khi bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó.
Với nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học, cần yêu cầu cao ở
học sinh sự kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Tuy nhiên học
sinh cần nghi nhớ đây là kiểu bài nghị luận xã hội vì vậy: Bước một: Phân tích
văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề
(hoặc câu chuyện). Bước hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của
vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện). Từ yêu cầu trên tôi đưa ra
một số nội dung biện pháp sau:
2.3.1. Giúp học sinh nhận diện các dạng đề văn NLXH
Trước khi hướng dẫn HS lập dàn ý cho một đề văn NLXH cụ thể, học
sinh cần phân biệt được ba dạng đề, vì ba dạng này sẽ có những yêu cầu khác
biệt.
về đến vấn đề ô nhiễm môi trường biển hiện nay.
*Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội có trong tác phẩm văn học: Vấn
đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: Tác phẩm văn học đã học trong
chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS
chưa được học.
VD1: Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa của câu chuyện sau:
XÉN LÁ
Mẫu đơn là vua các loài hoa. Có anh nhà giàu, mua được một gốc, trồng ở
giữa sân. Khi hoa nở, màu đỏ rực rỡ, lá xanh rợp mát. Người nào đi qua trông
thấy cũng thốt lên: “Hoa đẹp biết bao !”. Anh nhà giàu nghe người ta chỉ khen
hoa, mà không thấy nói gì đến cành lá, bèn xén trụi cành lá. Rốt cuộc ai thấy
cũng lắc đầu, nhíu mày bỏ đi. Anh nhà giàu hoang mang không hiểu, làu bàu:
“Sao hôm qua thì ngợi khen hoa thế, mà hôm nay thấy hoa lại lắc đầu như
vậy?”.
(Theo Trần Tứ Ích – Ngụ ngôn thi thoại – NXB Thành phố Hồ Chí
Minh, 2003)
9
VD2: Trong bài “ Đại cáo bình Ngô”, Nguyễn Trãi miêu tả những tội ác
tày trời của giặc Minh đối với nhân dân ta đến mức “ Tàn hại cả giống côn trùng
cây cỏ/ Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng”, khiến “trời đất” cũng không thể
“dung tha”. Nhưng khi quân ta đại thắng chẳng những không giết hại mà còn tha
chết cho giặc, hơn thế, lại “Cấp cho năm trăm chiếc thuyền”, “ Phát cho vài
nghìn cỗ ngựa” để chúng về nước.
Từ việc cảm nhận tư tưởng cao đẹp đó, Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của
mình về lòng khoan dung trong cuộc sống của mỗi con người.
2.3.2. Giúp học sinh nắm vững các bước làm văn nói chung và làm văn
NLXH
Sách giáo khoa từ lớp 10 đến lớp 12 đều có hướng dẫn học sinh cách làm
được hiểu là:
Lý tưởng: điều tốt đẹp xuất hiện trong tâm trí con người, do con người
tưởng tượng, mong muốn.
Lý tưởng: khái niệm diễn tả một vẻ đẹp tuyệt vời, một hình ảnh hoàn hảo
(VD: người yêu lý tưởng, chỗ ở lý tưởng…)
Lý tưởng sống: quan niệm về lối sống tốt đẹp, toàn thiện mà con người
ước mơ, khao khát kiếm tìm, xây dựng. nỗ lực phấn đấu để đạt tới (VD: Lý
tưởng sống của tuổi trẻ)
VD2: Giải thích và bình luận quan điểm sau đây của UNESCO về giáo
dục: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”
Đây là quan điểm do UNESCO đề xướng, khái quát 4 trụ cột giáo dục
(The Four Pillars of Education), HS cần giải thích đúng ý nghĩa 4 trụ cột giáo
dục ấy
- Học để biết: (Learning to know) học để hiểu biết về thế giới chung
quanh, phát triển các kỹ năng nghề nghiệp, biết cách giao tiếp với mọi người,
khám phá khoa học, phát huy kỹ năng tập trung, ghi nhớ và năng lực tư duy.
11
- Học để làm: (Learning to do): học để vận dụng những kiến thức lý
thuyết vào thực tế cuộc sống, đáp ứng được nhiều đòi hỏi trong công việc, có
khả năng phân tích, thiết kế, tổ chức…
- Học để chung sống và hợp tác: (Learning to live together) Bạo lực
thường chi phối cuộc sống trong thế giới đương đại Người học cần được tạo
điều kiện, cơ hội để đến với các dự án hợp tác, tham gia vào các hoạt động xã
hội , học được các phương pháp giải quyết mâu thuẫn, hiểu được sự đa dạng của
con người.
- Học để khẳng định mình, học để làm người (Learning to be) người học
cần được phát triển toàn diện: về nhân cách, trí tuệ và thể lực, sự thông minh và
nhóm HS tìm tư liệu, cử nhóm trưởng là những em có điều kiện truy cập
Internet. Có thể GV lấy tư liệu từ mạng về trình chiếu cho HS…
Tư liệu dẫn chứng do GV sưu tầm có thể cung cấp cho HS qua các tiết
dạy Văn, hoặc tiết sinh hoạt chủ nhiệm ( nếu GVCN là GV Văn của lớp), hoặc
tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL), tiết Tự chọn Văn (TCV).
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1. Đối với hoạt động giáo dục:
a.Ưu điểm:
- HS hứng thú hơn khi làm Văn NLXH, nắm vững hơn các kỹ năng làm văn,
được tiếp cận với nhiều dạng đề, từ đó, rèn luyện nhiều thao tác nghị luận.
- NLXH là dạng đề mở, kích thích tư duy sáng tạo của HS, có thêm sự hứng thú,
các em cảm thấy thoải mái hơn trong việc trình bày suy nghĩ riêng, cũng như
được biết thêm nhiều câu danh ngôn,câu thơ/ văn, câu chuyện hay, hiểu biết
thêm về những vấn đề cuộc sống, được bồi dưỡng thêm về phẩm chất đạo đức...
b.Nhược điểm:
13
- Vẫn còn HS gặp khó khăn về diễn đạt các ý tưởng, tìm dẫn chứng, dựng đoạn,
chuyển đoạn…
- Thời gian rèn luyện trên lớp không nhiều, GV khó vận dụng nhiều “chiêu
thức” để giúp HS viết văn NLXH một cách hứng thú.
2.4.2. Đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
a.Thuận lợi
- Đầu tư nghiêm túc cho việc dạy văn NLXH, GV dễ nắm bắt được tâm tư, tình
cảm, mơ ước, cá tính, óc phán đoán…của HS hơn là ở bài NLVH (vì khi làm
văn NLVH, các luận điểm HS nêu ra thường có sự tương đồng). Nếu GV Văn
đồng thời là GVCN lớp, điều này rất hữu ích.
TL
SL
TL
SL
45
36.0%
59
47.2%
21
16.8%
0
TL
Điểm
kém
SL
TL
Mai Thị Huyền
*Tài liệu tham khảo:
15
- Sách giáo khoa Văn 10, 11, 12, chương trình chuẩn và chương trình nâng caoBộ GDĐT- NXB Giáo dục 2006
- Sách Giáo viên Văn 10, 11, 12 chương trình chuẩn và chương trình nâng caoBộ GDĐT- NXB Giáo dục 2006
- Sách Bài tập Ngữ Văn 10, 11,12 chương trình chuẩn và nâng cao- Bộ GDĐTNXB Giáo dục 2006
- “Chuẩn kiến thức Ngữ Văn 12”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục 2010
- Tài liệu Tập huấn giáo viên “Dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng trong chương trình Giáo dục phổ thông, môn Ngữ Văn, cấp THPT” (Hà
Nội, tháng 7,2010)
- Một số tài liệu khác do cá nhân sưu tầm rải rác trên báo, tạp chí, Internet…
16