Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh trường THPT lang chánh - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN TỰ SỰ CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH

Người thực hiện:
Phạm Thị Dung
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực: Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2018
0


MỤC LỤC

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài

2

1.2. Mục đích nghiên cứu

2



5

2.4. Hiệu quả của đề tài

11

3. KẾT LUẬN

16

Tài liệu tham khảo

17

Danh sách SKKN đã được Hội đồng Sở GD&ĐT đánh giá

18

1


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1 Lí do chọn đề tài:
Từ xưa đến nay, việc dạy và học văn trong nhà trường bao giờ cũng hết sức quan
trọng, nó góp phần hoàn thiện tâm hồn và nâng cao nhân cách cho các thế hệ học sinh.
Làm sao để học sinh (HS) có thể đọc hiểu và rung động trước những áng văn hay? Đó
là vấn đề đã được đặt ra từ lâu trong thực tiễn dạy học văn nói chung và dạy học văn ở
trường THPT Lang Chánh nói riêng.

11A7 và lớp 11A8.
PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2


2.1. Cơ sở lí luận: Lý thuyết về hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu
văn bản tự sự
2.1.1. Khái niệm đọc hiểu:
Khái niệm đọc hiểu đã thoát khỏi nghĩa thông thường với hai thao tác đọc và
hiểu mà đã trở thành một thuật ngữ của phương pháp dạy học bộ môn và có nội hàm
khoa học phong phú, gắn với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tác phẩm, lí
thuyết giao tiếp, thi pháp học... Nó được hiểu như là phương thức đọc văn nhằm mục
đích cảm thụ và hiểu biết chính xác, cặn kẽ tác phẩm văn chương, khám phá và chiếm
lĩnh những giá trị văn chương. Theo Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một
khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối
với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” [2,
tr.56]
Có thể nói, đọc hiểu là một hình thức hoạt động có tính chất đặc thù của nhận
thức về văn học. Giữa đọc và hiểu tác phẩm có mối quan hệ biện chứng: do hiểu đúng
mà đọc đúng, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hơn. Đầu tiên là đọc để nắm bắt được văn
bản, làm cơ sở cho việc tìm hiểu văn bản. Hiểu nội dung tức là người đọc đã phát hiện
ra các thông tin mà tác giả gửi gắm trong văn bản tác phẩm, kể cả việc nhận diện các
yếu tố nghệ thuật đã được sử dụng nhằm chuyển tải thông tin tới người đọc một cách
ấn tượng. Như vậy, hiểu là việc chạm tới nội dung bề mặt của ngôn từ nghệ thuật (còn
gọi là hiển ngôn), để từ đó có thể hiểu rung cảm trước những gì mà ngôn từ gợi ra để
nhận thức được chiều sâu ý nghĩa của văn bản (còn gọi là hàm ngôn).
Trong chương trình Ngữ văn bậc THPT hiện nay, đọc - hiểu được xem như một
khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn.
2.1.2. Khái niệm về tác phẩm tự sự:
Tự sự là thể loại văn học phản ánh cụ thể hiện thực đời sống một cách khách

hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư
tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Tuy nhiên,
từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy hoạt động đọc hiểu văn bản tự sự của học sinh
Trường THPT Lang Chánh chưa thực sự hiệu quả.
2.2.1. Về phía GV phổ biến và cũng là một trong những nhược điểm lớn cần
khắc phục trong dạy học văn bản tự sự hiện nay là GV “áp đặt” những kiến thức cách
hiểu văn chương của mình cho HS. Trong khi lẽ ra, GV phải là người bạn đọc lớn tuổi
có kinh nghiệm, người bắc cầu cho quá trình đối thoại giữa nhà văn và học sinh, tổ
chức, định hướng để tự HS từng bước chiếm lĩnh tác phẩm và tự phát triển dần.
Hiện nay, không ít GV chỉ “chạy” theo khối lượng kiến thức có trong sách giáo
khoa, dạy sao cho đủ, cho đúng phân phối chương trình, cho kịp thời gian, mà không
quan tâm đến việc tìm ra những biện pháp tác động đến quá trình nhận thức của HS,
rèn luyện cho các em những kỹ năng cơ bản để đọc - hiểu, cảm thụ văn bản.
2.2.2. Về phía học sinh: Thực trạng dạy học văn bản tự sự ở trường THPT
Lang Chánh đã cho chúng ta thấy được hầu hết HS chỉ đến với tác phẩm văn chương
thông qua bài giảng của thầy cô. HS lâu nay chỉ được coi như một khách thể, một đối
tượng tiếp thụ của GV, GV truyền đạt như thế nào thì HS hiểu như thế ấy theo kiểu áp
đặt. HS không cần thiết phải nói lên cách hiểu, cách nghĩ của mình trước một tác
phẩm. Hơn nữa, các em chạy theo mốt học các môn phục vụ cho khối thi, chọn ngành
nghề tương lai nên có thái độ thờ ơ, không yêu thích học môn Văn.
Phần lớn HS hiện nay kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự rất yếu nên các em cảm
thấy lúng túng, khó khăn khi tự mình đọc - hiểu, tiếp nhận văn bản. Một bộ phận HS
dù rất thích, nhưng lại không có những phương pháp, những kỹ năng cơ bản để tìm
hiểu văn bản tự sự nên các em cũng không thể khám phá và hiểu sâu sắc được cái hay,
4


cái đẹp của văn bản, cũng như những thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn
đọc. Giờ học văn bản tự sự vì thế vẫn chưa thu hút được sự chú ý của người học.
Trong năm học 2017-2018, tôi đã tiến hành cho học sinh 3 lớp khối 11 làm bài


%

11A8

37

0

0

12

32,4

24

64,9

1

2,7

11A9

37

0

0


18,9

Từ kết qủa khảo sát ban đầu cho thấy rằng:
- Số lượng và tỉ lệ % học sinh đạt loại giỏi ở 3 lớp 11A8, 11A9, 11A10 là không
có.
- Số lượng học sinh đạt loại khá ở 3 lớp trên đang còn rất thấp : Lớp 11A8 là
12/37 học sinh chiếm 32,4%; Lớp 11A9 và 11A10 thì chỉ có 6-7/37 học sinh chiếm tỉ
lệ thấp từ 16,2-18,9%.
- Số lượng và tỉ lệ học sinh trung bình ở 3 lớp trên đang còn rất cao chiếm hơn
60%. Đặc biệt là tỉ lệ học sinh yếu đang còn, nhiều nhất là lớp 11A10 chiếm 18,9%.
Từ thực trạng dạy và học, kết quả khảo sát việc đọc hiểu văn bản tự sự của học
sinh Trường THPT Lang Chánh như trên tôi nhận thấy cần đặt ra vấn đề rèn luyện kỹ
năng đọc hiểu văn bản tự sự cho HS. Đó là một trong những vấn đề cần được quan tâm
hơn cả trong qúa trình dạy học văn hiện nay để giúp các em có thể hiểu, cảm nhận
được cái hay, cái đẹp của văn chương và đi sâu vào lí giải được các tầng ý nghĩa tác
giả gửi gắm trong tác phẩm.
2.3. Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự ở
trường THPT Lang Chánh:
Hệ thống bài tập trước hết giúp HS hiểu đúng, cảm thụ đúng các văn bản tự sự
trong nhà trường, bổ sung những hạn chế mà thời lượng của một giờ đọc - hiểu không
cho phép giáo viên mở rộng.
Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự sẽ hỗ trợ GV với tư
cách là người bạn đường tin cậy giúp HS hiểu đúng, cảm thụ đúng cái hay, cái đẹp của
văn bản. Bên cạnh đó, bài tập còn giúp GV mở rộng, bổ sung những hạn chế trong giờ
dạy chính khóa để HS chẳng những có thể hiểu đúng, cảm thụ đúng, còn có thể đánh
giá những vấn đề thuộc về tác phẩm một cách tinh tế, sâu sắc.
Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự góp phần định hướng,
giúp HS phát hiện ra điểm sáng thẩm mỹ ấy. Nó là cơ sở giúp giải mã văn bản, khám
phá cái đẹp tiềm tàng, cũng như dụng ý nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm thông qua lớp

hay “Tnú” – theo tên nhân vật chính, nhưng nhà văn lại chọn nhan đề cho truyện ngắn
của mình là “Rừng xà nu”.
Theo anh (chị), tại sao Nguyễn Trung thành lại chọn nhan đề cho truyện ngắn
của mình như vậy?
 Bài tập cảm thụ chi tiết nghệ thuật về nhan đề của văn bản tự sự mà chúng
tôi xây dựng góp phần khêu gợi trí tò mò và mong muốn khám phá của người đọc.
Đây là một cách hay để tạo sự chú ý, kích thích hứng thú của các em.
2.3.2. Bài tập đọc hiểu chi tiết nghệ thuật về hình tượng nhân vật trong văn
bản tự sự:
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong văn bản. Nhân vật
văn học có thể có tên riêng( Tấm, Cám…), cũng có thể không có tên riêng( thằng bán
tơ trong Truyện Kiều)…Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách
của con người.Vì tính cách là kết tinh của môi trường nên nhân vật văn học dẫn dắt
6


người đọc vào các môi trường khác nhau của đời sống. “Nhân vật văn học còn thể
hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người. Vì thế, nhân
vật luôn gắn liền với củ đề tác phẩm”. [1, Tr.236]
Bài tập đọc hiểu về hình tượng nhân vật mà chúng tôi xây dựng cũng dựa trên
cơ sở khai thác các chi tiết nghệ thuật về những biểu hiện đã nêu
♦ Kiểu 1: Chi tiết nghệ thuật về tên nhân vật
Tên nhân vật là một tín hiệu nghệ thuật mà nhà văn hết sức chú ý vì nó góp
phẩn phản ánh tính cách của nhân vật, không khí tác phẩm cũng như phong cách của
tác giả. Tuy nhiên, có một số trường hợp, nhà văn không đặt tên, mà gọi nhân vật của
mình bằng những danh từ, đại từ phiếm định. Cách gọi như vậy cũng nhằm thể hiện
dụng ý nghệ thuật riêng của tác giả.
Tìm hiểu chi tiết nghệ thuật về tên nhân vât, chúng tôi định hướng học sinh dựa
trên các bài tập như sau:
1. Trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu:

Vẻ bề ngoài ấy gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về cuộc đời, số phận nhân vật.
2. Suy nghĩ của anh (chị) về sự thay đổi ngoại hình của Chí Phèo - nhân vật
trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao - sau khi ra tù qua đoạn trích sau:
“Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc
như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà
rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với áo
Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông thày
tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!” [3, Tr.146].
♦ Kiểu 3: Chi tiết nghệ thuật về ngôn ngữ nhân vật
Trong các văn bản tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ ít
hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động và
khơi gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật. Qua lời ăn
tiếng nói của một người, chúng ta có thể nhận ra trình độ văn hoá, nhận ra tính cách
của người ấy.
1. Đọc đoạn trích sau trong tác phẩm Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân và trả lời câu hỏi
nêu bên dưới:
“Rồi đến một hôm, quản ngục mở khóa cửa buồng kín, khép nép hỏi ông Huấn:
- Ðối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một
người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến
tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần thêm gì
nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất.
Ông đã trả lời quản ngục:
- Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân
vào đây” [3, Tr.111].
Theo anh (chị), tại sao Huấn Cao lại nói với viên quản ngục như vậy trong khi
viên quản ngục đã biệt đãi ông?
2. Suy nghĩ của anh chị về câu nói của chị Tí trong tác phẩm “ Hai đứa trẻ” của
Thạch Lam:
“Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu đóm
và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngơ đi ra; chị Tí, mẹ nó, theo sau, đội cái

Trong quá trình xây dựng nhân vật, nhà văn còn khắc họa tính cách nhân vật
thông qua sự va chạm, cọ xát với những nhân vật khác, những tính cách khác. Chính
mối quan hệ với nhân vật khác sẽ giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn về con người
của nhân vật.
Các bài tập mà chúng tôi xây dựng dưới đây hướng HS khai thác các chi tiết
nghệ thuật về mối quan hệ giữa các nhân vật:
- Chi tiết nghệ thuật về hình tượng không gian:
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật. Không
gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn
ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của
tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính
độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy không
thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại.
Bài tập về hình tượng không gian mà chúng tôi xây dựng dưới đây sẽ góp phần
rèn luyện cho HS kỹ năng phát hiện và nắm bắt được hình tượng không gian trong văn
bản tự sự.
Ví dụ: Cảm nhận của anh (chị) về dụng ý nghệ thuật của Tô Hoài khi nhà văn
miêu tả căn buồng Mị ở khi về làm dâu nhà thống lý Pá Tra qua đoạn văn sau:
9


“Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay.
Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” [4,Tr.6].
- Chi tiết nghệ thuật về hình tượng thời gian:
Ví dụ: Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, bối cảnh câu chuyện được Thạch Lam
tổ chức theo đúng trình tự thời gian: bắt đầu từ lúc chiều tàn, đến lúc trời nhá nhem tối
rồi kết thúc là thời điểm phố huyện lúc đêm khuya:
- “Chiều, chiều rồi (…)”
- “Trời nhá nhem tối (…)”
- “Trời bắt đầu đêm (…)”

- Mục đích: Tôi triển khai thực nghiệm hệ thống bài tập trên để có được những
cơ sở bước đầu nhằm kiểm tra tính khả thi và khẳng định hiệu quả hệ thống bài tập bổ
trợ rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự mà đề tài xây dựng.
- Đối tượng và phạm vi thực nghiệm: Khi triển khai vận dụng một số bài tập
theo phương án mà đề tài đề xuất vào thực tiễn giảng dạy, tôi chọn 2 lớp ở khối 11 tại
trường THPT Lang Chánh.
- Thời gian: tôi tiến hành thực nghiệm trong năm học 2017-2018
2.4.2. Nội dung và quy trình thực nghiệm:
- Tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm theo hướng: cho HS làm những bài tập
đọc hiểu theo phương án mà đề tài xây dựng
- Cách thức tiến hành:
+ Bước 1: Chọn 2 lớp khối 11, lớp thực nghiệm là 11A7, lớp đối chứng là 11A8
Trường THPT Lang Chánh
+ Bước 2: Cho HS lớp thực nghiệm làm bài. Kiểm tra chất lượng bài của HS
sau khi thực nghiệm
+ Bước 3: Thống kê, xử lý kết quả phiếu khảo sát, bài kiểm tra của HS và rút ra
kết luận.
2.4.3. Cách thức đánh giá:
Kiểm tra 90 phút như hình thức kiểm tra định kỳ của học sinh nhằm đánh giá
khả năng hiểu hình tượng nhân vật thông qua các chi tiết nghệ thuật đã học trong văn
bản.
- Đề kiểm tra: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong
truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao.
- Yêu cầu cần đạt.

CỤC

Mở
bài
Thân


3

4

- Từ người nông dân hiền lành, lương thiện trở thành thằng
lưu manh
+ Chí Phèo trước khi đi tù
 Thân phận mồ côi, không cha không mẹ, sống và làm
thuê cho nhiều người, 20 tuổi làm canh điền cho Bá Kiến.
 Giàu lòng tự trọng: cảm thấy nhục khi bà ba Bá Kiến
sai làm “những việc không chính đáng”.
 Hiền lành, từng “ao ước có một gia đình nho nhỏ.
Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải.”
+ Chí Phèo sau khi đi tù về
 Nhân hình: hình dáng của một thằng lưu manh.
 Nhân tính: hung hăng, liều lĩnh, hành động và lời nói
của Chí Phèo là của một tên đầu bò chính cống: uống rượu,
chửi, rạch mặt, ăn vạ.
- Từ thằng lưu manh trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại
 Bị Bá Kiến lừa gạt, lợi dụng, biến thành tay sai
 Triền miên trong những con say, phá tan bao cơ
nghiệp, đạp nát bao cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh
phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương
thiện.
Quá trình hồi sinh của Chí Phèo
- Từ tỉnh rượu tới tỉnh ngộ
 Gặp Thị Nở, lần đầu tiên tỉnh rượu, nhận thấy những
âm thanh cuộc sống xung quanh, ý thức được sự tồn tại của
mình.

luận

- Thất vọng và đau đớn
1.0
 Khi bị Thị Nở từ chối, hắn ngẩn người ra, sửng sốt,
không nói nên lời, khi Thị Nở về hắn gọi thị lại, níu lại 
khao khát yêu thương, tha thiết muốn làm người lương thiện
 Uống rượu, càng uống càng tỉnh, thấm thía bi kịch 
đau khổ
- Phẫn uất và tuyệt vọng
1.0
 Xách dao đến giết Bá Kiến và tự sát  tuyệt vọng,
khủng hoảng, bế tắc
- Hình tượng nhân vật Chí Phèo
+ Là hình tượng điển hình cho người nông dân bị lưu manh
hoá
+ Thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm và tình cảm nhân
đạo của nhà văn.
+ Thể hiện tài năng nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí của
nhà văn.

1.5

Tuy nhiên, đáp án trên đây khá chi tiết, do đó, cũng cần cân nhắc, linh hoạt
không nên quá nguyên tắc, cứ dựa trên đáp án, đếm đầy đủ các ý để đánh giá bài làm
của HS.
2.4.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm:
- Kết quả bài kiểm tra cảm nhận của HS về hình tượng nhân vật Chí Phèo
Giỏi
Khá

12
32,4
24
64,9
1
2,7
11A8
Căn cứ vào kết quả tổng hợp ở bảng trên, so sánh kết quả bài làm của HS lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
- Tỉ lệ HS hiểu sâu sắc các chi tiết nghệ thuật tiêu biẻu, hiểu hình tượng nhân
vật Chí Phèo của các lớp thực nghiệm (5,4%) cao hơn lớp đối chứng (0%).
- Tỉ lệ HS nắm bắt các chi tiết nghệ thuật tiêu biẻu, hiểu hình tượng nhân vật
Chí Phèo của các lớp thực nghiệm (40,5%) cao hơn lớp đối chứng (32,4%).
- So với lớp đối chứng, tỉ lệ HS hiểu chưa sâu sắc, mức độ trung bình ở lớp thực
nghiệm có giảm từ 2,7% xuống 0%..

13


Trên đây là những kết luận được rút ra dựa trên kết quả bài làm của HS hai lớp
thực nghiệm và hai lớp đối chứng. Nếu như căn cứ vào từng bài làm cụ thể của HS
trong quá trình chấm bài, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
HS ở lớp đối chứng, các em chủ yếu tái hiện lại đúng kiến thức đã học về hình
tượng nhân vật Chí Phèo, chỉ có một số HS khá giỏi mới nêu những suy nghĩ, cảm
nhận riêng của bản thân về các yếu tố có liên quan đến quá trình tái hiện hình tượng
nhân vật, hoặc cảm nhận chung về hình tượng đó. Trong quá trình làm bài, nhiều HS
vẫn làm theo kiểu nhớ gì, viết đó, thậm chí sa vào việc kể lại câu chuyện về nhân vật
chứ không phải cảm nhận về hình tượng nhân vật như đề yêu cầu. Bên cạnh đó, phần
nhiều học sinh chưa có kỹ năng chọn lọc những chi tiết nghệ thuật tiêu biểu quan trọng
để khai thác, làm sáng rõ hình tượng.

trong sách giáo khoa và bài tập theo phương án mà luận văn đề xuất, GV bộ môn vẫn
đảm bảo đúng yêu cầu cần đạt của bài học về mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ. Tuy
nhiên, kết quả bài làm của HS lại có sự chênh lệch. Sự chênh lệch ấy là do khi HS lớp
thực nghiệm tham gia giải quyết các bài tập đọc hiểu, các em chủ động tìm tòi suy
nghĩ, mạnh dạn thể hiện chính kiến của bản thân, sau đó được GV và các bạn cùng lớp
nhận xét, bổ sung thiếu sót, giúp các em khắc sâu kiến thức hơn. Hơn nữa, những bài
tập đọc hiểu giúp các em biết chú trọng đến những chi tiết nghệ thuật quan trọng, lướt
qua những tiết không quan trọng. Chính điều này đã góp phần định hướng cho HS
trong quá trình làm bài văn nghị luận.
Mặc dù, kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng chênh lệch không
nhiều, nhưng nó giúp chúng tôi có cơ sở để bước đầu khẳng định hiệu quả của hệ
thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự cho HS THPT. Tuy nhiên, như
đã nói ở trên, mục đích thực nghiệm của chúng tôi không phải là chỉ qua một vài tiết
dạy để khẳng định ưu thế của hệ thống bài tập bổ trợ mà đề tài xây dựng. Rõ ràng, để
đánh giá kết quả một giờ dạy cũng như thẩm định hiệu quả thực tiễn của hệ thống bài
tập bổ trợ không phải là chuyện đơn giản, thực hiện trong một sớm một chiều, cũng
không phải chỉ dựa vào các con số định lượng trên bảng thống kê.
Kết quả thực nghiệm nhằm giúp chúng tôi bước đầu đánh giá, kiểm chứng tính
khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập bổ trợ từ đó rút kinh nghiệm để hoàn thiện đề
tài nhằm tạo ra một phương án mới cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy và rèn
luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự cho HS.
3. KẾT LUẬN
Hệ thống bài tập mà đề tài xây dựng có tính khả thi cao và có thể vận dụng nó
vào thực tiễn giảng dạy văn học ở trường THPT Lang Chánh. Tuy nhiên, đây cũng chỉ
là kết quả ban đầu, mặc dù có khả quan nhưng để tránh sự lý tưởng hoá tôi cho rằng hệ
thống bài tập đó cần có nhiều thời gian để thực tế kiểm nghiệm và cần nhiều sự đóng
góp chân thành từ nhiều phía trong thời gian gần nhất hệ thống bài tập mà đề tài xây
dựng thật sự là một phương án thiết thực, mang tính sư phạm và có giá trị thực tiễn
cao.
Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm bước đầu mà tôi đã đúc rút, thực hiện trong

Lê Bá Hán - Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật
ngữ văn học, NXB GD, 2004.
Trần Đình Sử (1998), Thi pháp học trung đại Việt Nam, NXB GD.
Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, NXB GD, 2011.
Sách giáo khoa Ngữ Văn 12, NXB GD, 2011.

DANH MỤC
17


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Dung
Chức vụ và đơn vị công tác:

Giáo viên Trường THPT Lang Chánh

TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá
xếp loại (Phòng,
Sở, Tỉnh...)

1.

Dạy bài “Chuyện chức phán
sự đền Tản Viên” của Nguyễn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status