Tổ chức hoạt động học bài phú sông bạch đằng (ngữ văn 10, tập hai) theo phương pháp tích hợp nhằm phát triển năng lực học sinh - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THCS&THPT THỐNG NHẤT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC BÀI PHÚ SÔNG BẠCH
ĐẰNG
(NGỮ VĂN 10, TẬP HAI) THEO PHƯƠNG PHÁP
TÍCH HỢP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC
SINH

Người thực hiện: Lưu Thị Khoa
Chức vụ: Phó Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc môn: Ngữ văn

1


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận

2


A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đổi mới phương pháp dạy- học đang trở thành nhu cầu tất
yếu của ngành giáo dục Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất
lượng dạy và học. Tự đổi mới cũng là con đường đưa giáo dục Việt Nam
hòa nhập với nền giáo dục hiện đại toàn cầu, tiến kịp nền giáo dục tiên
tiến của các quốc gia trên thế giới. Một trong những phương pháp đổi mới
đem lại hiệu quả khá cao trong nhà trường hiện nay đó là phương pháp
tích hợp. Phương pháp tích hợp cho phép giáo viên có thể kết hợp nhiều
kỹ năng trong một tiết dạy vừa dạy kiến thức vừa dạy kỹ năng sống vừa
dạy cách làm người. Không những thế, tích hợp còn là sự phối hợp nhiều
môn khoa học hay các phân môn trong cùng một bộ môn để làm cho tiết
học trở nên phong phú đa dạng và thu hút hơn đối với người tiếp nhận.
Môn Ngữ văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội,
điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư
tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộc
nhóm công cụ. Điều đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ Văn và các môn
khác. Học môn Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến kết quả học tập các
môn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn Ngữ văn. Cho
nên tự nó cũng toát lên yêu cầu tăng cường tính thực hành giảm lý thuyết
gắn với đời sống. Hơn nữa, Ngữ Văn cũng là môn học góp phần hình
thành nên những kiến thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhân
cách con người, chuẩn bị cho các em một hành trang để bước vào đời
hoặc học lên những bậc học cao hơn. Đó cũng chính là chiếc chìa khóa
mở cửa cho tương lai.
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn đồng
thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy theo tinh thần đổi mới


IV. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát (Thông qua dự giờ)
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh....
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

4


B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
1. Một số vấn đề chung về dạy học tích hợp và dạy học tích hợp môn
Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
1.1. Quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức
năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh
vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc
Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự
phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ
thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ
thống ấy.
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong
lĩnh vực khoa học giáo dục (GD), khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì
khai sáng, dùng để chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại

đại thành của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp. Mọi tình huống xảy ra
trong cuộc sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp. Không thể giải
quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử
dụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh
vực khác nhau. Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp HS học tập thông minh
và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri
thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau
và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại.
Tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóa
những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào
một chỉnh thể duy nhất. Khoa học hiện nay coi trọng tính tương thích, bổ
sung lẫn nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhận
đựợc để tạo nên tính bền vững của quá trình DH các môn học.
Trong một số môn học, tư tưởng tích hợp được tiếp nhận với các
mức độ thấp và khác nhau như: Lồng ghép - là đưa thêm nội dung cần học
tương tự với môn học chính; tích hợp - là sự kết hợp tri thức của nhiều
môn học tạo nên môn học mới.
Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã
được GV tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp. Phần lớn GV lựa chọn mức độ
tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp “nội môn”. Các bài dạy theo hướng tích
hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát
triển của cộng đồng. Những nội dung dạy HS nhỏ tuổi theo các chủ đề
“Gia đình”, “Nhà trường”, “Cuộc sống quanh ta”, “Trái đất và hành
tinh”…làm cho HS có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắc mắc,
phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng. Học theo hướng tích hợp
sẽ giúp cho các em quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanh
mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để các em học
tập. Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyết
vấn đề của các em. Chẳng hạn “vì sao có sấm chớp?’, “vì sao không được
chặt cây phá rừng?”, “vì sao….?.”

với HS, coi nhẹ kiến thức, nhất là kiến thức phương pháp.
Tóm lại, “Quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải được
quán triệt trong toàn bộ môn học: từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn;
quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu
tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong SGK,
tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động
học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo. Quan điểm
“lấy HS làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học
tập của HS trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy
năng lực tự học của HS, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho
HS thì các em mới tự tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và như
vậy đào tạo mới có kết quả.”
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy phương pháp giảng dạy
truyền thống giữa các phân môn chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau tách
rời từng phương diện kiến thức, học sinh hoạt động chưa tích cực, hiệu
quả đem lại cũng chưa cao.
Chính vì lẽ đó, dạy học theo quan điểm tích hợp là một xu hướng tất yếu
của dạy học hiện đại, là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của học
sinh. Học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có
hệ thống và lôgic. Qua đó học sinh cũng thấy được mối quan hệ biện chứng
giữa các kiến thức được học trong chương trình, vận dụng các kiến thức lí
7


thuyết và các kĩ năng thực hành, đưa được những kiến thức về văn, Tiếng Việt
vào quá trình tạo lập văn bản một cách hiệu quả.
Có nhiều hình thức tích hợp: Kiểu tích hợp giữa các phân môn trong
cùng một bộ môn (chẳng hạn ở môn Ngữ văn có Văn - Tiếng Việt -Tập làm
văn). Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa các phân môn một

Đồng thời chúng tôi thấy rằng “tích hợp” là một khái niệm được sử dụng
trong nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong giáo dục, tích hợp kiến thức liên môn vào
giải quyết các vấn đề trong một môn học sẽ giúp học sinh phát triển năng lực
tư duy, hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đặt ra trong môn học đó.

8


Trong thực tế chúng tôi nhận thấy khi soạn bài có kết hợp các kiến
thức của các môn học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn,
sâu hơn những vấn đề đặt ra. Từ đó tổ chức hướng dẫn học sinh sẽ linh
hoạt hơn, sinh động hơn. Học sinh có hứng thú học tập, tìm tòi, khám phá
nhiều kiến thức và được suy nghĩ, sáng tạo nhiều hơn. Từ đó vận dụng kiến
thức vào thực tế tốt hơn.
III. Xây dựng bài học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực
1. Quan niệm về “bài học”
Theo nghĩa hẹp, bài học là một tên bài cụ thể, thuộc một phân môn trong
SGK, chẳng hạn Phong cách ngôn ngữ hành chính, Chiếc thuyền ngoài xa,... nhằm
cung cấp một đơn vị kiến thức hoặc góp phần hình thành một kĩ năng cho HS. Các
bài học trong SGK Ngữ văn hiện hành đang được biên soạn theo hướng này.
Theo nghĩa rộng, « bài học là một chủ đề hoặc chuyên đề. Trong một bài
học theo nghĩa rộng sẽ có nhiều đơn vị kiến thức và kĩ năng, thuộc một hoặc
nhiều phân môn nhằm hướng tới giải quyết một hoặc một số vấn đề để hình
thành một kĩ năng/năng lực cho HS ». Đây là dạng bài học (unit) xuất hiện trong
SGK của nhiều nước trên thế giới.
Để đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, cần rà soát CT và SGK hiện
hành, sắp xếp lại các nội dung dạy học để biên soạn thành các chủ đề/chuyên đề
nhằm phát triển năng lực học sinh.

9

không sử dụng tranh/ảnh mà trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/lớp dưới,
nhưng thiết kế dưới dạng nhiệm vụ kết nối hoặc những câu hỏi. Tuy nhiên, các
câu hỏi không nên mang nhiều tính lý thuyết mà nên huy động những kinh
nghiệm thực tiễn có liên quan đến nội dung bài học để tạo sự hứng thú và suy
nghĩ tích cực cho người học
- Thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát…: Một số hoạt động yêu cầu học sinh
đọc diễn cảm, ngâm thơ, kể chuyện hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học.
Các hoạt động này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi,
nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới.
- Trò chơi: Một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứng thú
trước khi vào bài học mới. Các trò chơi này cũng có nội dung gắn với mỗi bài học.
b. Hoạt động hình thành kiến thức

10


Mục đích của hoạt động này nhằm giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức
mới thông qua hệ thống các bài tập/ nhiệm vụ. Nội dung tri thức ở hoạt động
này thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn trong sách giáo
khoa. Với mỗi phân môn, học sinh sẽ được thu nhận những kiến thức của bài
học để kết nối những gì đã biết với những gì chưa biết. Từng nội dung kiến thức
của mỗi phân môn sẽ được tiến hành theo một số định hướng sau:
* Đọc hiểu văn bản
Đọc là hoạt động quan trọng và là bước đi đầu tiên khi tiếp xúc với tác
phẩm, cũng là khâu đầu tiên của quá trinh đọc hiểu tác phẩm. Phương tiện biểu
đạt của tác phẩm là ngôn ngữ, do vậy đọc văn bản chính là quá trình làm sống
động thế giới ngôn từ của tác phẩm. Có hai hình thức đọc tác phẩm là đọc thầm
và đọc thành tiếng. Đọc thầm là hình thức đọc bằng mắt, đọc cho cá nhân người
tiếp nhận, quá trình tiếp nhận diễn ra ở bên trong người đọc; còn đọc thành tiếng
là một cách đọc để thưởng thức, để chia sẻ những cảm nhận về văn bản trong



Kiến thức Làm văn giúp học sinh chuyển hoá quá trình tiếp nhận văn bản
sang qúa trình tạo lập văn bản, giúp học sinh biết cách thể hiện tốt nhất những gì
mình đã được tiếp nhận. Các kiến thức Làm văn cũng được dạy tích hợp với
Đọc hiểu và Tiếng Việt. Cũng như phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung lí
thuyết Làm văn được giảm tải và chuyển hóa thành kĩ năng, được chuyển tải tới
học sinh dưới dạng các nhiệm vụ, bài tập để học sinh chủ động hình thành kiến
thức cho mỗi cá nhân.
c. Hoạt động luyện tập
Mục đích của hoạt động này là yêu cầu học sinh phải vận dụng những
kiến thức vừa học được để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Thông qua đó,
giáo viên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm ở mức độ nào.
Hoạt động thực hành gồm các bài tập/ nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng cố các tri
thức vừa học và rèn luyện các kĩ năng liên quan. Các bài tập/ nhiệm vụ trong
phần thực hành cũng theo trình tự: Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt và Làm văn.
Các bài tập/ nhiệm vụ trong Hoạt động luyện tập tập trung hướng đến
việc hình thành các kĩ năng cho học sinh, khác với các bài tập Hoạt động hình
thành kiến thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức. Đây là những
hoạt động gắn với thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ như trình bày, viết văn, …
d. Hoạt động ứng dụng/vận dụng
Mục đích của hoạt động ứng dụng là giúp học sinh sử dụng kiến thức, kĩ
năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế. “Thực tế” ở đây
được hiểu là thực tế trong nhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của học
sinh. Hoạt động này sẽ khuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái
mới theo sự hiểu biết của mình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra
những cách giải quyết vấn đề khác nhau; góp phần hình thành năng lực học tập
với gia đình và cộng đồng.
Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ:
- Vận dụng kiến thức đọc hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng văn

ng Trng Hỏn Siờu: tinh thn yờu nc, t ho dõn tc, li kt cu v li
vn kt hp bin ngu vi th.
- Nhn bit mt vi c im c bn ca th phỳ.
- Nm c mt s nột v s phõn loi v cỏch th hin ni dung ca th phỳ.
1.2. K nng
- Bit cỏch c- hiu mt bi phỳ theo c trng th loi.
1.3.Thỏi
- Tỡnh cm yờu quớ, trõn trng nhng tỏc phm ngh thut c bit nhng
bi phỳ thi xa cú giỏ tr nh mt tỏc phm vn hc;
- Lũng yờu quờ hng, t nc, con ngi Vit Nam; t ho v truyn
thng lch s ho hựng ca dõn tc.
- í thc v trỏch nhim ca cụng dõn vi cng ng, vi s nghip xõy
dng v bo v T quc.
2. Mụn Lch s
1. 2 Về kiến thức
- Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, nhân dân Việt Nam phải
liên tiếp tổ chức những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm,
bảo vệ tổ quốc.
- Với tinh thần dũng cảm, truyền thống yêu nớc sâu đậm,
nhân dân ta đã chủ động sáng tạo, vợt qua mọi thử thách khó
khăn đánh tan các đạo quân xâm lợc.
- Trong sự nghiệp chống ngoại xâm vĩ đại đó, không chỉ
nổi lên những trận quyết chiến đầy sáng tạo mà còn xuất hiện
một loạt các nhà chỉ huy quân sự tài năng.
2.2. Về giỏo dc
- Giáo dục lòng yêu nớc, ý thức bảo vệ nền độc lập, thống
nhất của Tổ quốc.
- Bồi dỡng ý thức đoàn kết, giúp đỡ lẫn giữa các dân tộc.
- Bồi dỡng niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn các thế hệ
tổ tiên, các anh hùng dân tộc đã chiến đấu quên mình về tổ

v ý thc gi gỡn bn sc vn hoỏ dõn tc
- Cú ý thc hc tp, rốn luyn gúp phn vo s nghip xõy dng v bo
v quờ hng, t nc.
4. Mụn Giỏo dc Quc phũng An ninh
4.1. Kin thc
Hiu c nhng kin thc c bn v lch s dng nc v gi nc ca dõn
tc, tinh thn yờu nc, ý chớ qut cng, ti thao lc ỏnh gic ca ụng cha ta.
4.2 K nng
Bit tham gia cỏc hot ng xõy dng, bo v quờ hng, t nc phự
hp vi kh nng ca bn thõn
4.3 Thỏi
Cú ý thc trỏch nhim trong vic gi gỡn v phỏt huy truyn thng v
vang ca dõn tc, cú thỏi hc tp v rốn luyn tt, sn sng tham gia vo s
nghip xõy dng v bo v t quc.
5. Mụn a lý
5.1 Kin thc
- Xỏc nh c v trớ a lý, phm vi gii hn( cỏc im cc Bc,
Nam,ụng, Tõy) ca mt a danh.
- c im lónh th Vit Nam.
5.2 K nng
S dng lc v cỏc trn ỏnh xỏc nh v trớ, gii hn, phm vi
lónh th.
14


6. Định hướng phát triển năng lực
- Năng lực chung: năng lực phân tích, so sánh; năng lực giao tiếp
- Năng lực riêng: năng lực giải thích các vấn đề văn hóa, lịch sử; năng lực
cảm thụ tác phẩm văn học thuộc thể loại Phú năng lực làm việc nhóm...
B. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

+Chuẩn bị bảng lắp ghép
+ Trả lời các câu hỏi
- Bức tranh gợi cho anh/chị nhớ đến giai
đoạn lịch sử nào của nước ta?
- Những hiểu biết và cảm nhận của
anh/chị về không khí thời đại ấy?
Hãy kể tên những địa danh gắn liền với
những sự kiện lịch sử mà em biết?
? Nhắc đến sông Bạch Đằng, các em nhớ
đến những cuộc kháng chiến nào?
* HS:

Yêu cầu cần đạt
- Nhận thức được nhiệm vụ cần giải
quyết của bài học.
- Tập trung cao và hợp tác tốt để giải
quyết nhiệm vụ.
- Có thái độ tích cực, hứng thú.

15


+ Nhìn hình đoán tác giả
+ Lắp ghép tác phẩm với tác giả
+ Đọc, ngâm thơ liên quan đến bài phú
- HS thực hiện nhiệm vụ:
HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:
Những chiến công lớn trên sông Bạch
Đằng
1.Năm 938: Ngô Quyền chém đầu

Yêu cầu cần đạt

* Hoạt động 1. GV hướng dẫn HS tìm hiểu tác giả và tác phẩm

16


Tích hợp kiến thức lịch sử, địa lí
GV cho Hs xem bức tranh di tích đền
thờ Trương Hán Siêu trên núi Non nước
nay thuộc thành phố Ninh Bình, Bảo
tàng lịch sử tỉnh, khu di tích đền Trần
(Nam Định) để tìm hiểu các hiện vật về
chiến thắng trên sông Bạch Đằng
HS tìm hiểu kiến thức lịch sử, áp dụng
kĩ năng trình bày một vấn đề và nội
dung văn thuyết minh để làm việc ở nhà
theo nhóm, chuẩn bị thuyết minh trước
lớp.
GV nêu vấn đề
GV tích hợp với kiến thức lịch sử Gv
phát vấn – HS bằng kiến thức lịch sử,
cụ thể là hiểu biết về các cuộc chiến
diễn ra trên dòng sông Bạch Đằng.
? So sánh cách đánh của Nhà Trần
trong cuộc kháng chiến lần 2 và lần 3 :
?Nguyên nhân, Ý nghĩa lịch sử thắng
lợi của ba lần kháng chiến chống
quân xâm lược Mông –Nguyên?
HS thảo luận cặp trao đổi, đại diện trả

- Sông Bạch Đằng – Danh thắng lịch sử và là n
3) Tác phẩm
- Thể loại : phú cổ thể.
- Hoàn cảnh ra đời : khi vương triều nhà Trần đ
trong hiện tại.
- Bố cục:
Thể loại phú.
- Ra đời khoảng 50 năm sau chiến thắng quân M
- Bố cục một bài phú thường có bốn đoạn: đoạ
của Trương Hán Siêu cũng giống bố cục của mộ
- Bố cục: 4 phần.

17


Ý nghĩa
-Đập tan ý chí xâm lược của quân thù ,
bảo vệ độc lập , chủ quyến toàn vẹn lãnh
thổ.
-Nâng cao lòng tự hào, tự cường của
dân tộc, củng cố niềm tin cho nhân dân.
-Xây dựng khối đoàn kết toàn dân.
-Kế hoạch bành trướng xuống phương
Nam và Đông Nam Á bị phá tan.
Ngoài dấu tích bãi cọc ở Yên Giang
còn có bãi cọc Đồng Vạn Muối được
giới khảo cổ học nghiên cứu năm
2009
Tích hợp kiến thức làm văn: Văn
thuyết minh

18


thu.
Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.
(?) Như thế nào là thủy triều? Dựa trên
sự lên xuống của thủy triều em hãy cho
biết Trần Quốc Tuấn đã cho nhân ta xây
dựng bãi cọc ngầm như thế nào?
(?) Trận địa cọc ngầm thể hiện truyền
thống đánh giặc gì của cha ông?
Sau khi HS trả lời, GV nhận xét
và trên cơ sở tích hợp kiến thức môn
Ngữ văn 10 bài “Phú Bạch Đằng”; Địa
lý 10 bài 16 “Sóng.Thủy triều.Dòng
biển”, GDQP 10 bài 1 “Truyền thống
đánh giữ nước của dân tộc Việt Nam”
hướng dẫn HS chốt ý:
Họat động 2: Tìm hiểu văn bản
Thao tác 1: Tìm hiểu văn bản
Đọc VB: GV mời một HS đọc văn bản.
GV nhận xét ( Cách đọc diễn cảm ,cách
ngắt nhịp, lưu ý đọc theo cảm xúc của
từng đoạn).

II. ĐỌC –HIỂU
1) Hình tượng nhân vật "khách"
- "Khách" xuất hiện với tư thế của con người có
nhiều nơi ,muốn đi nhiều chỗ ,không phải chỉ n
- Tráng chí bốn phương của "khách" được gợi
Khách là
người đi nhiều, biết rộng mang tráng chí
bốn phương, qua nhiều miền sông bể


nhắc đến làm sao khách có thể đến trong
một sớm một chiều được? Vậy những
địa danh ấy có ý nghĩa như thế nào? Qua
đó thấy được vẻ đẹp gì trong tâm hồn và
tráng chí của nhân vật khách?
3. Bạch Đằng giang được cảm nhận với
những sắc thái như thế nào?
4. Cảm xúc của khách trước khung cảnh
thiên nhiên sông Bạch Đằng: phấn khởi,
tự hào hay buồn thương, nuối tiếc vì
những giá trị đã lùi vào quá khứ? Lí
giải?
GV bình và chuyển ý: Cái thế giới mà
nhân vật Khách tìm đến không phải là
thiên nhiên tĩnh: một vầng trăng lạnh,
một đám mây cao, một dòng sông vắng
mà thiên nhiên ông tìm đến là một thế
giới hải hồ rộng lớn.
Cảm hứng về cuộc viễn du mở đầu bài
phú thực ra là sự chuẩn bị một không
khí thích hợp cho người đọc trước khi
bước vào thế giới hùng vĩ của sông Bạch
Đằng lịch sử.
GV cho HS đọc tư liệu về khu di tích
lịch sử chiến thắng Bạch Đằng tích

- Cuối cùng là lời ca của các vị bô lão mang ý n
) thì tiêu vong chỉ có người nhân nghĩa ( Ngô Q
3) Lời ca cũng là lời bình luận của Khách
- Ca ngợi sự anh minh của "hai vị thánh quân"

(?) Em hiểu thế nào là di tích lịch sử văn
hóa ?
(?) Từ khu di tích lịch sử chiến thắng
Bạch Đằng, em có trách nhiệm gì trong
việc bảo vệ di tích lịch sử nơi em sống?
HS trả lời, GV nhận xét và trên
cơ sở, GDCD lớp 7 bài 15 “Bảo vệ di
sản văn hóa” để hướng dẫn HS rút ra
kết luận:
- Di tích lịch sử -văn hóa là công trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Gv mở rộng và tích hợp, cung cấp
kiến thức hiểu biết xã hội :
Đại diện nhóm 2 trả lời:
Gv mở rộng: So sánh với bài thơ Bạch
Đằng Giang của Nguyễn Sưởng?
Gv bình và chuyển vấn đề: Từ miêu tả
và trữ tình, tác giả chuyển sang tự sự,
ngôn ngữ sống động biến hóa hẳn lên.
Đoạn văn tràn đầy cảm hứng lịch sử
mang âm hưởng anh hùng ca, tác giả đã
tạo được không khí trang nghiêm đĩnh
đạc, làm nền cho miêu tả trận chiến
Nhóm 3: Trong lời ca của các bô lão có
đề cập tới chân lí của chính nghĩa. Đó là
chân lí gì?
- Lời tuyên ngôn khẳng định chân lí của
các bô lão là gì ? Lời ca nối tiếp của
khách nhằm khẳng định điều gì ?

của Tổ Quốc với tất cả hình bóng chiến
công oanh liệt của quân dân ta thời
trước, đồng thời gợi lên cho chúng ta
những con em đất Việt ngày nay trong
thế hệ Hồ Chí Minh một bài học sâu sắc
về sự quyết tâm bảo vệ bằng bất cứ giá
nào cho trọn vẹn non sông gấm vóc mà
tổ tiên để lại cho mình.
Gv cho HS nghe một đoạn về lời bài hát
“Hào khí Việt Nam”, “ Tổ quốc gọi tên
mình”.
Trách nhiệm của mỗi người đối với
việc bảo vệ chủ quyền dân tộc:
- Luôn mang trong mình tinh thần tự
hào, tự tôn dân tộc, lòng yêu nước thiết
tha.
- Luôn có ý thức cảnh giác trước mọi âm
mưu xâm lược của kẻ thù.
- Sống có mục đích, lí tưởng; học tập và
rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp.
Đại diện nhóm 4 trả lời
- “Anh minh hai vị thánh quân... đức
cao”. Giữa “địa linh” và “nhân kiệt” thì
con người là yếu tố quyết định.
- Lời ca kết thúc bài phú vừa mang niềm
tự hào dân tộc vừa thể hiện tư tưởng
nhân văn cao đẹp.
22



(Đáp án: [1]='C'; [2]='A'; [3]='D')
 4. HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG, TÌM TÒI
I. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
(1) Mồ thù như núi, cỏ cây tươi,
Sóng biển gầm vang, đá ngất trời.
Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết,
Nửa do sông núi, nửa do người.
(Sông Bạch Đằng, Nguyễn Sưởng)
(2) Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
Anh minh hai vị Thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thủa thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.
(Trích Phú Sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu)

23


1. Xác định các biện pháp tu từ và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp đó
trong đoạn trích (1)?
2. Nêu nội dung chính của đoạn trích (2)?
3. So sánh điểm giống nhau và khác nhau về nội dung của văn bản (1) và (2)?
II. Trong những ngày tháng chống Mĩ hào hùng, Chế Lan Viên viết:
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt
Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng
Bằng những kiến thức đã học với hình tượng trong bài Phú sông Bạch
Đằng của Trương Hán Siêu, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận của
em về hình tượng sông Bạch Đằng.

24


C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Mục đích tổ chức hoạt động học khi dạy bài Phú sông Bạch Đằng bằng
phương pháp tích hợp nhằm phát triển năng lực học sinh là để chủ thể học sinh, dưới
sự hướng dẫn của giáo viên, cảm nhận khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm. Do đó tạo
được một sự phát triển toàn diện về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách và năng lực.
Tổ chức hoạt động học khi dạy bài Phú sông Bạch Đằng bằng phương pháp
tích hợp nhằm phát triển năng lực học sinh thể hiện hướng đi phù hợp với thực tiễn
của quá trình đổi mới giáo dục và phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông,
phù hợp với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa, đổi mới về phương pháp kiểm
tra đánh giá, trong dạy học Ngữ văn hiện nay. Cách làm này thực chất là biến những
gì công thức khô cứng thành phương pháp kích thích tư duy sáng tạo– con đường
nhanh nhất, đúng đắn nhất nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát
triển năng lực học sinh. Nhìn một cách tổng thể, tổ chức hoạt động học khi dạy bài
Phú sông Bạch Đằng bằng phương pháp tích hợp nhằm phát triển năng lực học sinh
đã tạo ra một môi trường hoạt động- giao lưu kích thích hứng thú học tập của học
sinh. Chúng ta đã và đang tìm kiếm con đường nâng cao hiệu quả học tập, phát huy
tính tích cực sáng tạo, tôn trọng chủ thể học sinh thì đây sẽ là cách làm có thể coi là
hiệu quả bởi nó phù hợp với trình độ, tâm lý lứa tuổi của đa số học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học đã và đang đạt được hiệu quả nhất định.
Chỉ có đổi mới phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi
mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động sáng
tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Luật Giáo
dục ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học;
bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status