SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGỌC LẶC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
DẠNG SO SÁNH, LIÊN HỆ CHO HỌC SINH LỚP 12
TRƯỜNG THPT NGỌC LẶC NHẰM ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
TRONG KỲ THI THPT QG NĂM 2018
Người thực hiện: Ngô Thị Thanh
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị công tác: Trường THPT Ngọc Lặc
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2018
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU..................................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài:..................................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu:...........................................................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu:..........................................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu:....................................................................................................3
II. NỘI DUNG.............................................................................................................................3
1. Cơ sở lý luận của đề tài:........................................................................................................3
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm...............................................4
a. Thuận lợi:.........................................................................................................................4
b. Khó khăn:.........................................................................................................................5
c. Thống kê số liệu:...............................................................................................................5
sinh làm quen với dạng đề thi này đạt hiệu quả. Câu đọc hiểu và nghị luận xã hội
giống như năm trước, riêng nghị luận văn học (5 điểm) có sự tích hợp trong đề thi với
chương trình lớp 11. Ở chương trình lớp 11 học sinh phải học nhiều gồm văn học trung
đại và văn học hiện đại giai đoạn 1930-1945 với nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu; thể
loại phong phú (thơ, truyện ngắn, kịch...). Đề tích hợp cho nên cách hỏi cũng theo
hướng mở và cũng có nhiều dạng đề khảo sát, tổng kết toàn bộ chương trình 12 và 11
nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
trong nhà trường để có thể hội nhập toàn cầu.
Ở đề tài này tôi không bàn sâu về cấu trúc đề thi minh họa 2018 môn Ngữ văn
mà chỉ đưa ra một vài kinh nghiệm, sự quan sát của mình về câu nghị luận văn học (5
điểm) trong sự tích hợp với chương trình 11 phần văn học hiện đại.
Đề thi theo kiểu tích hợp ở đây là gộp nội dung chương trình 12 và 11 vào một
yêu cầu câu hỏi của đề. Trong định hướng của Bộ GD thì chương trình lớp 12 là chủ
yếu, chiếm 60% nên trong cấu tạo của câu hỏi này thường là nội dung lớp 12 trước,
lớp 11 sau, chiếm khoảng 40%. Dạng đề thi này là một dạng đề so sánh nhưng ở mức
độ vừa phải; liên hệ là để bình luận, đánh giá, nhận xét về một vấn đề nào đó. Dạng
1
bài so sánh thường rất dài và khó đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức, tư duy
lôgic và khả năng khái quát, tổng hợp vấn đề, có chiến lược hợp lý khi làm bài. Nếu
học sinh không nắm rõ cách thức làm bài văn so sánh thì sẽ dễ rơi vào liệt kê, bài viết
không có trọng tâm, xa vấn đề. Do đó giáo viên cần trang bị cho học sinh kỹ năng và
rèn luyện nhiều đề dạng so sánh, liên hệ để học sinh tự tin hơn khi gặp đề bài dạng này
nghĩa là học sinh chỉ ra được nét tương đồng và khác biệt là đạt yêu cầu 3-4 điểm dễ
dàng.
Vậy ta hiểu so sánh là gì? So sánh là một thao tác lập luận vô cùng quan trọng
trong văn học lẫn đời sống. Trong văn học so sánh được hiểu như một kiểu bài nghị
luận văn học, một cách thức trình bày. Ở đây có ba cách hiểu về so sánh: thứ nhất, so
sánh là biện pháp tu từ “tạo hình ảnh cho câu văn”. Thứ hai, nó được xem như một
2. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp học sinh hiểu vấn đề như thế nào là tích hợp so sánh văn học, các loại so sánh
văn học thường gặp trong đề thi.
- Thông qua đề tài, giáo viên hướng dẫn học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản, có kỹ
năng, phương pháp để các em học sinh trường THPT Ngọc Lặc nhất là những học sinh
thi ĐH, CĐ khối C, D có thể tự tin bước vào kì thi THPTQG năm 2018 làm bài đạt
chất lượng tốt nhất.
- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Ngữ văn trong nhà trường. Thông
qua đề tài này có thể để các giáo viên trong tổ dùng để thực hành khi ôn luyện học sinh
giỏi, ĐH, CĐ và thi THPTQG hàng năm.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 12A3, 12A7 trường THPT Ngọc Lặc năm học 2017-2018.
- Các đề so sánh, liên hệ theo đề minh họa thi THPTQG năm 2018.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích.
- Phương pháp thực nghiệm, điều tra.
II. NỘI DUNG.
1. Cơ sở lý luận của đề tài:
So sánh là một thao tác quan trọng không chỉ trong văn học mà cả trong cuộc
sống hàng ngày. So sánh là một phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên
cạnh một sự vật khác để đối chiếu nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện, rõ nét, sâu sắc
hơn. Ở đề tài này tôi chỉ nghiên cứu khía cạnh so sánh như một kiểu bài nghị luận văn
học, một cách thức trình bày khi viết văn nghị luận.(2) [2]
Việc rèn kỹ năng so sánh cho học sinh vừa là yêu cầu, vừa là đòi hỏi bắt buộc
đối với giáo viên trong dạy học ở môn Ngữ văn. Đối với đối tượng học sinh THPT lại
càng cần thiết, đặc biệt học sinh lớp 12 chuẩn bị thi THPTQG. Tuy nhiên trong
túng khi triển khai bài viết. Đứng trước thực trạng trên, bằng kinh nghiệm của bản thân
và sự quan sát tổng kết các đề thi ĐH, CĐ, tốt nghiệp trong những năm gần đây, qua
những năm ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi tôi xin đề xuất một vài kinh nghiệm
hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT Ngọc Lặc có được kỹ năng làm đề nghị luận
văn học trong kỳ thi THPTQG năm 2018 đạt hiệu quả.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
a. Thuận lợi:
- Trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên trường THPT Ngọc Lặc cũng đã lồng ghép
các đề dạng này trong các tiết kiểm tra học kì, khảo sát đội tuyển học sinh giỏi, thi thử
tốt nghiệp.
- Học sinh cơ bản đã được học những kiến thức lý luận về thao tác lập luận so sánh ở
chương trình 11 và nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích thơ/văn xuôi ở chương trình
12. Học sinh cũng đã có sự vận dụng chúng trong đời sống thực tế, khi làm đề thi.
4
b. Khó khăn:
- Về phía học sinh: trường THPT Ngọc Lặc là một huyện miền núi phía Tây tỉnh
Thanh Hóa với khoảng 80-85% là dân tộc Mường, chủ yếu ở vùng kinh tế đặc biệt khó
khăn, đến trường đi học đầy đủ là cả một vấn đề. Môn Ngữ văn là một môn học đặc
thù, yêu cầu học sinh đọc hiểu, phát huy trí tưởng tượng của học sinh trong khi đầu
vào thấp cũng là một thách thức. Số lượng học sinh đăng ký thi ĐH, CĐ khối C, D
không nhiều vì không có nhiều ngành nghề để học sinh lựa chọn và nhiều em không
có hứng thú học văn. Mục đích chủ yếu học sinh chỉ cần thi đậu tốt nghiệp để có thể
xin việc ở các công ty may, công ty Sam Sung... Hơn nữa thời gian ôn thi gấp rút, học
sinh chưa được học tập rèn luyện nhiều đề dạng này, nhiều em quên chương trình lớp
11, thiếu kỹ năng làm bài rất nhiều.
- Ban chuyên môn, tổ chuyên môn chưa tạo được môi trường, điều kiện thuận lợi để
giáo viên có nhiều tiết dạy ôn thi dạng này trên trường như việc ôn thi học sinh giỏi 1
túng, không hiểu vấn đề, không biết cách trình bày bài văn rơi vào học sinh trung bình,
yếu. Số học sinh này gần như chỉ nói chương trình 12, còn chương trình 11 bỏ qua.
Như vậy thông qua kết quả thu được số học sinh hiểu bài, vận dụng kiến thức
không nhiều, số học sinh đạt điểm khá, giỏi lại càng ít hơn. Có nhiều nguyên do: vì các
em tích lũy kiến thức chưa nhiều, chưa có kỹ năng làm đề, phân bố thời gian chưa hợp
lí, các em thật sự cố gắng trong học tập đối với môn Ngữ văn... Vì thế giáo viên ngoài
dạy cho học sinh kiến thức còn phải dạy cả kĩ năng làm bài, cho học sinh làm quen với
nhiều dạng đề tích hợp so sánh. Ngoài ra học sinh phải tự học, tự tìm cho mình nhiều
kênh thông tin khác nhau để bổ sung kiến thức cũng như rèn luyện kĩ năng để đạt được
kết quả tốt nhất trong kỳ thi THPTQG năm 2018.
3. Các giải pháp thực hiện:
3.1. Những dạng đề so sánh, liên hệ văn học thường gặp:
- So sánh hai đoạn thơ:
Ví dụ: Cảm nhận của em về đoạn thơ “Cuộc đời tuy dài thế…Để ngàn năm còn
vỗ” (Sóng - Xuân Quỳnh). Liên hệ so sánh với đoạn thơ sau “Ta muốn ôm….Hỡi xuân
hồng ta muốn cắn vào ngươi” (Vội vàng - Xuân Diệu)
- So sánh hai chi tiết:
Ví dụ: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha
bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô
Hoài). Liên hệ với chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” mà Chí Phèo cảm
nhận được sau đêm gặp Thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao).
- So sánh hai đoạn văn:
Ví dụ: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
“Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát. Rồi
say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì
đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng…(Vợ chồng A
Phủ - Tô Hoài).
“Phải uống thêm chai nữa. Và hắn uống. Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh
ra. Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi
cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức...” (Chí Phèo - Nam Cao).
tượng so sánh.
- Lần lượt khai thác cụ thể từng đối tượng được so sánh, hết đối tượng này chuyển
sang đối tượng khác (chú ý khai thác, phân tích trong sự so sánh).
- Đánh giá, tổng hợp.
* Chú ý: cách này dùng cho đối tượng so sánh ở cấp độ nhỏ như hình ảnh, chi tiết, kết
cấu, đoạn trích ngắn... khảo sát từ 1 đến 2 tác phẩm.
Ví dụ: vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Hoàng Phủ Ngọc Tường và “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử.
b. Cách 2: Kiểu bài so sánh song song:
- Khái quát gọn như kiểu bài thứ nhất.
- Chia tách đối tượng thành nhiều bình diện, khai thác trong sự đối sánh. Lấy cái
chung làm nền tảng, làm tiêu chí so sánh; từ những nét giống nhau đó mà chỉ ra, phân
tích những nét khác biệt của đối tượng so sánh.
- Đánh giá, tổng hợp.
7
+ Đây là cách làm khó nhưng hay, thể hiện được khả năng tư duy, năng lực khái quát
và cảm thụ tinh tế, sắc nét của học sinh giỏi, khá. Cách làm này sử dụng cho các cấp
độ so sánh lớn như hình tượng nghệ thuật, tác phẩm, phong cách tác giả, thời đại văn
học... được khảo sát trong hai hay nhiều tác giả, tác phẩm… (3) [3].
Ví dụ: Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam qua các thi phẩm Chí Phèo - Nam Cao,
Vợ nhặt - Kim Lân, Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu.
Căn cứ vào thực tế về trình độ, yêu cầu ở trường THPT Ngọc Lặc học sinh chỉ
có thể làm theo cách 1 và cũng là theo định hướng chấm của Bộ GD, giáo viên chúng
tôi dạy theo hướng này.
3.3. Đề thực nghiệm, minh họa.
Để minh họa cho các bước làm bài so sánh, liên hệ ở trên tôi đưa ra hai ví dụ để
minh chứng về việc ôn luyện của mình cho học sinh tại trường THPT Ngọc Lặc và
chất lượng học tập đã được cải thiện.
Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
(không có sẵn luận điểm trong đề mà học sinh tự đi tìm), đề 2 là dạng hỏi có định
hướng (có luận điểm sẵn trong đề). Nếu ta xác định đúng trọng tâm thì bài viết sẽ bám
sát yêu cầu của đề và đạt điểm cao hơn. Ngược lại nếu xác định không đúng trọng tâm,
yêu cầu đề thì bài viết sẽ lạc đề, mất điểm.
- Ở ví dụ 1:
+ Xác định vấn đề nghị luận: cả hai đoạn thơ bộc lộ cái tôi cá nhân trước cuộc sống và
tình yêu: đắm say, sôi nổi, mãnh liệt nhưng cũng đầy âu lo, trăn trở….
+ Sử dụng các thao tác lập luận: phân tích, so sánh, chứng minh, bình luận.
- Ở ví dụ 2:
+ Xác định vấn đề nghị luận: sự đổi thay của Tràng sau khi có vợ, của Chí Phèo sau
cuộc tình với Thị Nở và được thị ân cần chăm sóc. Qua đó làm sáng tỏ tư tưởng nhân
đạo của mỗi nhà văn.
+ Sử dụng các thao tác lập luận: phân tích, so sánh, chứng minh, bình luận.
3.3.2. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết.
Bước 1 tìm hiểu đề đã khó, xây dựng được dàn ý chi tiết lại càng khó khăn hơn,
nhất là dạng đề mở về thơ. Thông thường một bài văn nghị luận bao giờ cũng đảm bảo
bố cục 3 phần:
a. Hướng dẫn phần đặt vấn đề (mở bài)
- Mở bài có vị trí đặc biệt quan trọng đối với một bài văn. Với dạng đề so sánh, liên hệ
việc mở bài đúng là “vạn sự khởi đầu nan”. Mở bài là cửa mở, là lời mời, lời giao
duyên đối với người đọc khi tiếp nhận sản phẩm của người viết. Người tiếp nhận có
được ấn tượng, cảm xúc đẹp hay không là do những dòng vào bài ý nhị, khéo léo của
người viết. Cha ông ta đã từng nói:
“ Văn hay bất luận ngắn dài
Mới đọc đầu bài đã biết văn hay”.
Mở bài hay không chỉ tạo cho người đọc hứng thú, gây chú ý mà còn tạo cho
người làm bài có cảm hứng làm tốt ở phần sau hơn.
- Mở bài phải nêu được yêu cầu đề cần phải giải quyết, phải có sự dẫn dắt thu hút sự
chú ý của người đọc. Mở bài nên ngắn gọn, vào bài tự nhiên, mang màu sắc văn học.
- Các tiêu chí để mở bài dạng so sánh:
phẩm “Vội vàng” và “Sóng” sẽ giúp ta nhận ra những giá trị ấy.
Ở ví dụ 2: Nam Cao và Tô Hoài là hai cây bút xuất sắc trong nền văn học Việt
Nam hiện đại. Nếu như Nam Cao đi vào khai thác người nông dân ở làng Đại Hoàng quê hương của nhà văn thì Tô Hoài lại rất thành công khi tìm đến người lao động miền
núi Tây Bắc xa xôi để xây dựng nên những thi phẩm đặc sắc. Đọc Chí Phèo và Vợ
chồng A Phủ hẳn mỗi chúng ta không thể quên được hai nhân vật Chí Phèo và Mị, nhất
là sự hồi sinh tâm hồn của họ.(4) [4]
b. Hướng dẫn phần giải quyết vấn đề (thân bài).
- Đây được xem là phần quan trọng nhất của bài viết, nó tập trung điểm ở phần này. Vì
thế người giáo viên ngoài trang bị cho học sinh kiến thức lý luận, tác giả, tác phẩm...
còn phải hướng dẫn cho học sinh kỹ năng viết phần thân bài đạt hiệu quả cao như việc
bám sát yêu cầu đề, hành văn như thế nào cho đúng và trúng.
* Hướng dẫn các bước lập dàn ý phần thân bài dạng đề so sánh hai bài thơ,
đoạn thơ như sau: phải đảm bảo hai bước: phân tích tác phẩm, đoạn thơ trước, so
sánh sau. So sánh hai bài thơ, đoạn thơ tuyệt đối không phải để khẳng định tác phẩm
nào hay hơn mà để tìm ra nét tương đồng, độc đáo của các tác phẩm. Sự tương đồng
4 Ghi chú:
- Ở mục 3.3.2 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết: tác giả tham khảo từ TLTK số 4.
10
nói lên tính phong phú, phát triển của văn học; điểm khác biệt tô đậm phong cách
riêng của mỗi nhà thơ và xu hướng sáng tác.
+ Làm rõ bài thơ, đoạn thơ 1.
+ Lần lượt làm rõ bài thơ, đoạn thơ 2.
+ So sánh nét tương đồng và khác biệt của mỗi bài thơ, đoạn thơ.
Bước này yêu cầu học sinh cần có kiến thức vững vàng, sự quan sát tinh tường,
viết chính xác vấn đề, tránh chung chung. Muốn tìm điểm giống hay khác học sinh
căn cứ vào các bình diện để so sánh: tác giả, hoàn cảnh sáng tác, mục đích sáng tác, đề
11
3. Cảm nhận về đoạn thơ trong Vội vàng - Xuân Diệu.
- Đoạn thơ thể hiện niềm yêu đời, khát vọng sống nồng nàn, mãnh liệt của Xuân Diệu.
Ý thức được sự hữu hạn của đời người, tuổi xuân và thời gian trôi đi vĩnh viễn không
trở lại nên nhà thơ đã vội vàng, cuống quýt để tận hưởng cuộc sống trần gian với tất cả
những gì đẹp nhất (sự sống mơn mởn, mây đưa và gió lượn,cánh bướm với tình yêu,
…), ở mức độ cao nhất (ôm, riết, say, thâu, cắn), với trạng thái đã đầy, no nê, chếnh
choáng.
- Các yếu tố nghệ thuật như: điệp từ ngữ, điệp cấu trúc câu, động từ mạnh, nhân hóa,
nhịp điệu sôi nổi, cuồng nhiệt… tất cả góp phần thể hiện cảm xúc nồng nàn, khát vọng
sống mãnh liệt của Xuân Diệu.
4. So sánh giống và khác nhau:
- Điểm giống:
+ Về mặt nội dung: đều thể hiện cái tôi giàu cảm xúc, giàu khát vọng mãnh liệt về tình
yêu; đều thể hiện được khát vọng mãnh liệt, cháy bỏng về tình yêu với cuộc đời.
+ Về mặt nghệ thuật: Hai đoạn thơ đều sử dụng ngôn ngữ thơ giàu nhịp điệu, hình ảnh
thơ đều mang tính ẩn dụ; sử dụng động từ mạnh...
- Điểm khác:
Khát vọng trong “Sóng” là khát vọng của tình yêu lứa đôi, là khao khát dâng
hiến đến tận cùng, khát vọng bất tử hoá tình yêu. Còn trong “Vội vàng” - Xuân Diệu
thể hiện một quan niệm sống: sống vội vàng, sống giục giã, cuống quýt, phải tận
hưởng vì thời gian đi qua tuổi trẻ sẽ không còn nữa.
5. Đánh giá chung
Cả hai đoạn thơ đều bộc lộ cái tôi cá nhân trước cuộc sống và tình yêu. (5) [5],[6]
* Hướng dẫn các bước lập dàn ý phần thân bài dạng đề so sánh hai nhân vật
trong tác phẩm văn học như sau:
+ Phân tích nhân vật thứ nhất trong mối tương quan với nhân vật thứ hai.
+ Phân tích nhân vật thứ hai trong mối tương quan với nhân vật thứ nhất.
nhân khơi dậy lòng ham sống ở Mị. Ngoài ra nguyên do bên trong - lòng ham sống
mãnh liệt chưa bao giờ lụi tàn trong cuộc sống tưởng như cam chịu của Mị.
+ Quá trình thức tỉnh:
++ Sự hồi sinh bắt đầu từ cảm xúc, ý thức: biết ngồi nhẩm thầm theo lời bài hát, biết
nhớ về quá khứ êm đẹp hạnh phúc, nhận ra được thực tại đau đớn, bùng lên khát vọng
sống mãnh liệt; đồng thời cũng xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực muốn giải thoát khỏi
cuộc sống bi kịch của mình.
++ Từ hồi sinh ý thức đến hành động quyết liệt: thắp đèn cho sáng, quấn lại tóc, mặc
váy chuẩn bị đi chơi tết. Những hành động trên cho ta thấy Mị đã sống dậy khao khát
tự do, khao khát hạnh phúc khiến Mị đã có những hành động tích cực.
++ Nhưng hành động của Mị bị chặn đứng lại bởi A Sử, A Sử trói đứng bị ở cột nhà.
Dù bị trói nhưng tâm hồn Mị vẫn bay theo tiếng sáo, Mị sống trong hạnh phúc ảo giác.
Nhưng khi tay chân Mị vùng bước đi thì Mị nhận ra thực tại đau đớn của mình, Mị
thổn thức nghĩ mình không bằng con trâu con ngựa trong nhà thống lí Pá Tra.
=> Sự thức tỉnh của Mị trong đoạn văn này không giúp Mị thay đổi cuộc đời
mình nhưng nó cũng đã hé mở cho ta thấy vẻ đẹp tiềm tàng của người lao động vùng
cao Tây Bắc. Và đây là cơ sở, là sức sống tiềm tàng mãnh liệt từ bên trong con người
chỉ chờ khi có cơ hội thì bùng lên mạnh mẽ.
- Về nghệ thuật:
+ Nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lý đặc sắc.
+ Ngôn ngữ giàu hình ảnh, câu văn giàu chất hiện thực nhưng cũng đậm chất thơ.
+ Lựa chọn những chi tiết tiêu biểu.
+ Ngôn ngữ trần thuật linh hoạt.
3. Liên hệ với sự thức tỉnh của Chí Phèo trong buổi sáng tỉnh rượu.
- Về nội dung:
13
- Nguyên cớ hồi sinh: Chí Phèo gặp Thị Nở - một người đàn bà xấu xí, dở hơi nhưng
sáng. Vì thế, kết thúc sự thức tỉnh của Mị trong đêm tình mùa xuân là cú huých hứa
hẹn một sự trỗi dậy mạnh mẽ, quyết liệt để có thể giải thoát cho mình và cho những
người cùng cảnh ngộ .
+ Nam Cao nhìn con người trong số phận bi kịch, những nhân vật của ông chưa tìm
được con đừng đi, con đường giải thoát cho chính mình. Vì thế kết thúc của Chí Phèo
là con đường cùng, bế tắc không tìm thấy lối ra cho cuộc đời mình.(6) [5], [6]
c. Kết thúc vấn đề:
6 Ghi chú:
- Ở mục Hướng dẫn các bước lập dàn ý phần thân bài dạng đề so sánh hai nhân vật…: tác giả tham khảo từ
TLTK số 5, 6.
14
- Thực tế nhiều học sinh chỉ chú ý phần mở bài viết sao cho hay mà xem nhẹ kết bài.
Nhiều học sinh sau khi trống đánh hết giờ viết vội vàng 2 đến 3 câu, tóm lại một vài ý
đã viết ở phần thân bài để kết thúc vấn đề. Kết bài là khâu cuối cùng của bài viết, là
bước củng cố kiến thức, gây ấn tượng sâu sắc về luận đề. Với một bài văn dài, phức
tạp, kết bài là rất cần thiết, nó như một nút nhấn cuối cùng của một bản nhạc. Vậy một
kết bài đạt yêu cầu là như thế nào?.
- Một kết bài đạt yêu cầu không chỉ ngắn gọn mà nó còn phải khóa được vấn đề cần
nghị luận, nâng cao luận đề, thể hiện được tư tưởng, tình cảm của người viết và gợi
nhiều liên tưởng mới cho người đọc.
Ở ví dụ 1: Tình yêu là tiếng gọi của con tim và lý trí. Nếu “Vội vàng” giục giã thi
nhân Xuân Diệu sống vồ vập, đắm say với cuộc đời bởi “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm
lại”; sống để tận hưởng hương sắc ngất ngây của đời thì Xuân Quỳnh lại dịu dàng mà
mãnh liệt qua khao khát được tan ra, được hiến dâng cho cuộc đời. Dù mang hai quan
niệm khác nhau trong tình yêu nhưng tư tưởng của những thiên tài thi ca Xuân Quỳnh
- Xuân Diệu vẫn cất lên những giá trị nhân bản, nhân văn: yêu là sống hết mình cho
ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người...)
=> Bức tranh bao quát về nạn đói có một không hai trong lịch sử dân tộc có sức tố cáo
tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra cho nhân dân Việt Nam.
- Qua một tình huống độc đáo - Tràng nhặt được vợ - nhà văn phát hiện khát vọng
đáng trân trọng của người nông dân ngay khi cận kề cái chết:
+ Tràng: vui vẻ khác thường, tủm tỉm cười, hai mắt sáng lên lấp lánh...Tràng thành
một con người khác, hài lòng với niềm hạnh phúc mới mẻ - mái ấm gia đình.
+ Những người trong xóm: thấy lạ, bàn tán; hiểu, bỗng rạng rỡ hẳn lên…Bên bờ vực
cái chết vì đói khát họ vẫn biết chia sẻ, biết cảm thông cho nhau, tin tưởng vào điều tốt
đẹp.
b. Nghệ thuật
- Tạo tình huống truyện độc đáo.
- Nghệ thuật miêu tả: bút pháp tả thực tạo ấn tượng mạnh, miêu tả tâm lí nhân vật tinh
tế.
- Ngôn ngữ sinh động, so sánh độc đáo, giàu tính tạo hình.
3. Liên hệ với bức tranh cuộc sống phố huyện nghèo và những con người “trong bóng
tối mong đợi một cái gì tươi sáng hơn cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ” trong
truyện ngắn Hai đứa trẻ.
Thí sinh trình bày sơ lược về đặc điểm bức tranh cuộc sống phố huyện nghèo và
những con người trong bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.
- Bức tranh cuộc sống: nhỏ hẹp, nghèo nàn; nhịp điệu sống quẩn quanh, tù đọng.
- Những con người trong bóng tối: nhỏ bé, mòn mỏi, đáng thương nhưng luôn mơ ước,
hướng về ánh sáng, sự sống qua việc chờ đợi đoàn tàu hằng đêm.
4. Nhận xét về ngòi bút nhân đạo của các nhà văn
- Điểm khác nhau:
+ Thạch Lam: xuất phát từ hiện thực ở một phố huyện nghèo trước Cách mạng tháng
tám, tác giả bày tỏ niềm xót thương, đồng cảm đối với những con người cơ cực, quẩn
quanh, mỏi mòn và nâng đỡ những ước mơ đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.
+ Kim Lân: xuất phát từ hiện thực là nạn đói khủng khiếp năm 1945, tác giả bộc lộ nỗi
đau đớn, xót xa đối với những người nông dân cận kề cái chết và trân trọng những
một cách thấm thía và sâu sắc về tình yêu và những khát vọng của những con người
trong thời đại ấy.
* Nghệ thuật: bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu, âm hưởng của những
con sóng biển; sử dụng phép nhân hóa, so sánh.
b. Đoạn thơ trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu bộc lộ một cái tôi sôi nổi, vồ vập và
giàu khát vọng.
- Khát vọng của Xuân Diệu là khát vọng tắt nắng và buộc gió. “Tắt nắng” để màu hoa
không tàn, “buộc gió” để hương đừng bay đi.
- Nắng và gió, hương và hoa ở đây chính là mùa xuân của đất trời với bạt ngàn hoa
thơm cỏ lạ. Đó là “hoa đồng nội xanh rì”, “lá cành tơ phơ phất”, là “khúc tình si của
yến anh”, là “mây đưa gió lượn ”…mùa xuân ấy thật thanh tân diễm lệ, đầy quyến rũ
như bờ môi thiếu nữ “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” .
- “Hương” với “màu” ở đây là những ẩn dụ để nói đến tuổi trẻ của đời người. Xuân
Diệu là người luôn lo sợ về thời gian, về tuổi tác vì theo nhà thơ: “Xuân đương tới
nghĩa là xuân đương qua/ .....Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”
17
- Cho nên Xuân Diệu khát vọng chiếm lấy quyền năng của tạo hóa để vũ trụ ngừng
quay, thời gian ngừng trôi, để thi nhân tận hưởng những phút giây đẹp nhất của đời
người. Đây cũng chính là một khát vọng rất nhân văn.
* Nghệ thuật: thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu, sử dụng động từ mạnh “tắt, buộc”.
3. So sánh.
- Giống nhau: đều sử dụng thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu, đều thể hiện được khát
vọng mãnh liệt, cháy bỏng về tình yêu với cuộc đời.
- Khác nhau: khát vọng trong Sóng là khát vọng của tình yêu lứa đôi, là khao khát
dâng hiến đến tận cùng. Còn trong Vội vàng thì thể hiện một quan niệm sống: sống vội
vàng, giục giã, cuống quýt, phải tận hưởng vì thời gian đi qua tuổi trẻ sẽ không còn.
HS khi chưa có kỹ năng,
Không biết
gì
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
12.5
12A7
45
8
17,8
14
31.1
23
51.1
15
33.3
21
46.7
9
0.2
riêng dạy trong hai tuần. Vì vậy có những điểm không phù hợp, chưa đúng tôi mong
quý đồng nghiệp góp ý, trao đổi để tôi hoàn thiện mình hơn.
3.2. Kiến nghị:
Dạng đề tích hợp so sánh là một dạng đề thi mới, theo định hướng mở trong
những năm gần đây được Bộ GD đưa vào kì thi học sinh giỏi, tuyển sinh ĐH, CĐ.
Năm 2018 Bộ triển khai thực hiện tích hợp so sánh trong hai chương trình 11 và 12,
giáo viên và học sinh trường THPT Ngọc Lặc vô cùng lúng túng. Vì thế trong phạm vi
bài viết này tôi xin mạnh dạn đề nghị:
- Bộ GD khi đã có lộ trình thay sách giáo khoa nên có hẳn một chuyên đề hay vài tiết
dạy về kiểu bài nghị luận so sánh văn học đưa vào giảng dạy chính khóa trong chương
trình SGK.
- Nhà trường, tổ chuyên môn cần thường xuyên đưa những bài học, tiết dạy có tích
hợp so sánh để giáo viên trong tổ dự giờ, thảo luận, góp ý. Tổ chuyên môn cần ôn tập
cho học sinh theo các chuyên đề, nhóm tác phẩm, nhóm nhân vật…để học sinh có một
các nhìn toàn diện, đầy đủ nhất và học sinh dễ dàng làm được đề bài dạng này .
- Giáo viên nên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng vận dụng các phương pháp
giáo dục đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh; phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện cho học sinh nhiều kĩ năng khi làm bài.
- Về phía phụ huynh, học sinh: Cần quan tâm, giáo dục ý thức học tập của học sinh khi
học bài và chuẩn bị bài ở nhà; có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực đối với môn Ngữ
văn. Tôi thiết nghĩ cả thầy và trò đều cố gắng, nhà trường, tổ chuyên môn tạo điều kiện
tốt nhất để học sinh phát huy tinh thần học tập chủ động chắc chắn kết quả học tập ở
môn Ngữ văn sẽ nâng cao hơn.
19
Trên đây là đề tài: Rèn luyện kĩ năng làm đề nghị luận văn học dạng so
sánh, liên hệ cho học sinh lớp 12 trường THPT Ngọc Lặc nhằm đạt hiệu quả cao
trong kỳ thi THPTQG năm 2018 mà tôi đã đưa ra một vài định hướng, trong phạm