TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐẶNG XUÂN THÀNH
QUẢN LÝ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ
TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế và Chính sách
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS HOÀNG VĂN CƯỜNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học
của Thầy PGS.TS Hoàng Văn Cường. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề
tài này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Những số liệu trong
các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu
thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
CHƯƠNG 1.............................................................................................................. 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN.................................................................6
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN....................6
TRONG LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG CẤP TỈNH...............................................6
1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn đầu tư xây dựng cơ bản.....................................6
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý vốn XDCB tại Bộ Chỉ huy quân sự Lào
Cai........................................................................................................................... 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................86
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ CHQS tỉnh
: Bộ chỉ huy quân sự tỉnh
Ban CHQS huyện, thành phố: Ban Chỉ huy quân sự huyện, thành phố
XDCB
: Xây dựng cơ bản
NSNN
: Ngân sách nhà nước
TSCĐ
: Tài sản cố định
KBNN
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển cơ sở
hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội. Trong các nguồn lực được huy động để đầu tư XDCB, nguồn lực đầu từ NSNN
đóng vai trò cơ bản, quan trọng. Những năm gần đây, mặc dù Đảng và Nhà nước đã
đặc biệt coi trọng công tác quản lý vốn đầu tư cho các dự án xây dựng cơ bản, nhất là
từ khi Luật Đầu tư công 2014 ra đời, đã khắc phục rất nhiều khâu yếu, mặt yếu trong
đầu tư XDCB như đầu tư dàn trải, còn thất thoát vốn lớn, đầu tư chưa đúng hướng, có
dự án không hoàn thành phải bỏ dở. Để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn xây
dựng cơ bản Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản pháp quy như: Luật Xây dựng số
50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013,
Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP
ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án công trình xây dựng, Luật ngân sách
nhà nước ngày 25/6/2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách… Tuy
nhiên cho đến nay, việc quản lý nguồn vốn NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn
nhiều bất cập từ khâu lập và phân bổ kế hoạch vốn, thanh toán vốn, sử dụng vốn đến
việc quyết toán vốn đầu tư. Có sự chồng chéo giữa các văn bản hướng dẫn đã dẫn đến
việc sử dụng vốn kém hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí trong đầu tư công. Đó cũng
chính là nhu cầu bức thiết từ thực tiễn phát triển, đòi hỏi công tác này phải sớm được
đổi mới cho phù hợp và có hiệu quả hơn.
Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới
quốc gia có nhiệm vụ quan trọng, thiêng liêng là bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chung sức cùng với toàn Đảng, toàn dân và
cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng
đất nước văn minh, giàu mạnh và thực hiện nghĩa vụ quốc tế tạo ra môi trường xã hội
ổn định, giúp các nhà đầu tư trong nước cũng như ngoài nước yên tâm đầu tư phát
triển các nguồn lực cho đất nước. Với vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển
văn đã nghiên cứu quản lý vốn theo các chỉ số đánh giá, nguyên tắc quản lý vốn xây dựng cơ bản.
Luận văn của Nguyễn Thị Hoa (2015) về “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách nhà nước trên địa bàn Thị xã Sơn Tây” đã nghiên cứu cách thức quản lý vốn từ
khâu lập, thanh quyết toán kiểm tra, kiểm toán vốn xây dựng cơ bản.
3
Luận văn của Đỗ Việt Hùng (2014) về “ Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản đối với ngành Thủy Lợi trong thời gian qua” đã nghiên cứu cách thức
bố trí, trách nhiệm quản lý vốn của Chủ đầu tư ở tất cả các khâu trong quy trình xây
dựng cơ bản.
Có nhiều tài liệu, bài báo, luận văn ... viết về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ
bản từ ngân sách Nhà nước, tuy nhiên các nghiên cứu này chưa đi sâu nghiên cứu
về các nội dung quản lý vốn ngân sách nhà nước trong hoạt động xây dựng cơ bản
tại một đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, nơi có tính chất đặc thù là các công trình
XDCB được đầu tư luôn đòi hỏi tính bảo mật cao. Đó là khoảng trống nghiên cứu
của đề tài.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng khung nghiên cứu về mặt lý luận về quản lý vốn NSNN cho đầu tư
xây dựng cơ bản tại Bộ CHQS tỉnh.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý vốn NSNN trong hoạt động đầu tư xây
dựng cơ bản tại Bộ CHQS tỉnh Lào Cai. Xác định được các ưu điểm, hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế trong công tác này.
Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn NSNN cho đầu tư
xây dựng cơ bản tại Bộ CHQS tỉnh Lào Cai nói riêng, cho toàn bộ các đơn vị trực thuộc
Bộ Quốc phòng nói chung.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về quản lý vốn NSNN cho đầu tư
xây dựng cơ bản trong đơn vị quốc phòng.
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về quản lý vốn NSNN cho đầu tư
XDCB tại Bộ
CHQS tỉnh
- Lập và phân bố bốn
- Yếu tố bên trong
đầu tư XDCB
Bộ CHQS tỉnh
- Thanh toán, tạm ứng
- Yếu tố bên ngoài
Bộ CHQS tỉnh
vốn đầu tư XDCB
- Quyết toán vốn đầu
tư XDCB
- Sử dụng vốn đúng
mục đích
- Sử dụng vốn
hiệu quả
- Thanh tra, kiểm tra
vốn đầu tư XDCB
6. Quy trình nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu của luận văn, quá trình nghiên cứu được thực hiện
theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý vốn NSNN cho đầu tư xây
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TRONG LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG CẤP TỈNH
1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3, khái niệm đầu tư được hiểu: “Đầu
tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”.
Đầu tư là một hành động bỏ vốn trong hiện tại nhằm mục đích đạt được
những lợi ích lâu dài trong tương lai. Vì vậy, hoạt động đầu tư chính là hoạt động bỏ
vốn trong hiện tại để đạt được giá trị lớn hơn của khoản đầu tư trong tương lai. Bất
kỳ hoạt động bỏ vốn nào nhằm mục đích thu được khoản giá trị lớn hơn trong tương
lai như bỏ tiền mua cổ phiếu, trái phiếu, gửi tiết kiệm hoặc để cải tạo, bảo vệ môi
trường, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế đều được gọi là hoạt động đầu tư.
Đầu tư XDCB là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt động xây dựng,
mua sắm tài sản cố định trong lĩnh vực sản xuất (nhà xưởng, thiết bị, máy móc,...);
trong lĩnh vực không sản xuất vật chất (nhà ở, bệnh viện, trường học,...) và trong
lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng (cầu đường, bến cảng, sân bay). Đầu tư XDCB là yếu
tố quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất mở rộng, phát triển khoa học - kĩ thuật,
tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, "Đầu tư XDCB được hiểu là việc bỏ vốn để
xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích
phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một
thời hạn nhất định."
Đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động cơ bản như lập quy hoạch, lập dự án đầu
tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế; xây dựng, thi công, giám sát xây dựng công
7
8
- Hệ thống kho tàng dự trữ thường xuyên từ cấp chiến dịch trởxuống.
- Công trình kết cấu hạ tầng phục vụ trực tiếp đời sống, sinh hoạt của các
đơn vị quân đội, công an, bộ đội biên phòng.
- Các nhà tạm giữ cấp quận, huyện.
Đây là ngân sách được bố trí để cấp cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh ở tất
cả các cấp. Để quy định chi tiết cho lĩnh vực quốc phòng, ngày 29 tháng 6 năm
1998,
Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư liên tịch số
91/1998/TTLT/BTC-BQP Hướng dẫn lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà
nước trong lĩnh vực quốc phòng. Theo quy định trong Thông tư, đối với một đơn vị
quốc phòng cấp tỉnh, các hạng mục xây dựng cơ bản được phép cấp vốn và quyết
toán bao gồm 3 hạng mục sau:
- Xây dựng mới, sửa chữa các công trình chiến đấu, phục vụ chiến đấu, trụ
sở làm việc, doanh trại, kho tàng của lực lượng vũ trang địa phương;
- Xây dựng các khu vực, công trình phòng thủ theo quy định phân cấp của
Chính phủ và Bộ Quốc phòng;
- Bảo quản, sửa chữa và mua sắm trang bị trường quân sự địa phương;
Các hạng mục liên quan đến mua sắm vũ khí và xây dựng công trình chiến
đấu thuộc quyền quản lý và thực hiện của cơ quan cấp Bộ.
1.1.2 Đặc điểm vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước
Do có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn đầu tư XDCB trong lĩnh vực
quốc phòng có những đặc điểm sau:
- Vốn đầu tư XDCB từ NSNN trong lĩnh vực quốc phòng là vốn của NSNN
được cân đối trong dự toán NSNN hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước
ngoài (bao gồm vay nước ngoài của chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho
- Dùng một nguồn vốn duy nhất là ngân sách Nhà nuớc chỉ đầu tư vào các dự
án nhất định đó là các công trình, dự án quan trọng, có vai trò bảo vệ đất nước, phục
vụ cho sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc.
Ngân sách Nhà nuớc với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, là kế hoạch tài
chính cơ bản của Nhà nước tham gia huy động và phân phối vốn đầu tư thông qua
hoạt động thu, chi NSNN.
* Theo phân cấp quản lý NSNN, có thể chia vốn đầu tư từ NSNN thành:
- Vốn đầu tư của ngân sách trung ương
- Vốn đầu tư của ngân sách địa phương
10
* Theo mức độ kế hoạch hoá vốn đầu tư:
- Vốn XDCB tập trung (hình thành từ nguồn vốn trong nước và nguồn vốn
ngoài nước).
- Vốn đầu tư theo một số chương trình, dự án quốc gia như: Chương trình
135 phủ xanh đất trống đồi trọc, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng...
Theo Luật NSNN (2015) các nội dung chi NSNN bao gồm: a) Chi đầu tư
phát triển; b) Chi dự trữ quốc gia; c) Chi thường xuyên; d) Chi trả nợ lãi; đ) Chi
viện trợ; e) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Trong phạm vi chi
NSNN thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương bao gồm: 1. Chi đầu tư phát
triển: a) Đầu tư cho các dự án, bao gồm cả các dự án có tính chất liên vùng, khu vực
của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương
theo các lĩnh vực được quy định tại khoản 3 Điều này; b) Đầu tư và hỗ trợ vốn cho
các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng; các
tổ chức kinh tế; các tổ chức tài chính của trung ương; đầu tư vốn nhà nước vào
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; c) Các khoản chi đầu tư phát triển khác
theo quy định của pháp luật. 2. Chi dự trữ quốc gia. 3. Chi thường xuyên của các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương được
phân cấp trong các lĩnh vực: a) Quốc phòng; b) An ninh và trật tự, an toàn xã hội; c)
* Chủ thể quản lý
Đối với nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN, chủ thể quản lý bao gồm các cơ
quan chức năng của Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô đối với vốn đầu tư XDCB từ
NSNN ( quản lý toàn bộ các nguồn vốn từ NSNN ở tất cả các dự án) và cơ quan chủ
đầu tư thực hiện quản lý vi mô (quản lý nguồn vốn NSNN ở tại dự án mà mình
được giao trách nhiệm đầu tư). Đối với một đơn vị quốc phòng cấp tỉnh, chủ thể
quản lý là Bộ CHQS cấp tỉnh với các đơn vị chức năng được phân quyền để thực
hiện công việc quản lý vốn đầu tư cơ bản trong phạm vi tỉnh.
*Đối tượng quản lý
Có 2 đối tượng trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước là
nguồn vốn NSNN cho đầu tư XDCB và cơ quan sử dụng nguồn vốn NSNN cho đầu
tư XDCB cấp dưới.
*Hình thức quản lý
Cơ quan chức năng thực hiện quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN thông qua các
hình thức như lập và phân bổ kế hoạch hàng năm đến từng dự án; cấp vốn và quản lý chất
lượng công trình; thực hiện thanh quyết toán khi công trình hoàn thành.
12
1.2.2 Đặc điểm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà
nuớc ở đơn vị quốc phòng cấp tỉnh
Do nguồn vốn đầu tư từ NSNN nên việc quản lý phải tuân thủ nguyên tắc
của cơ chế quản lý tài chính Nhà nước. Bên cạnh đó, do các công trình XDCB đặt
tại các vùng miền nên cũng phải chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, tự
nhiên và kỹ thuật, những đặc điểm riêng của lĩnh vực đầu tư và xây dựng cũng như
của địa bàn nơi đặt công trình xây dựng. Do bị tác động bởi nhiều yếu tố nêu trên
nên quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của đơn vị quốc phòng cấp tỉnh có những
đặc điểm sau đây:
- Do đây là hoạt động đầu tư XDCB của đơn vị quốc phòng nên vốn đầu tư
từ nguồn ngân sách nhà nước. Đối với các công trình XDCB lớn, việc đầu tư có thể
không giải ngân kịp, làm vốn bị ứ đọng, thời gian thi công kéo dài, chậm tiến độ, gây lãng
phí và kém hiệu quả trong sử dụng vốn và công trình đầu tư. Đặc điểm trên đòi hỏi thiết kế
mô hình quản lý vốn NSNN phải rất khoa học, theo hướng mở rộng phân cấp nhưng phải
gắn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp, tăng cường thẩm định, kiểm tra, giám sát ở từng
khâu, đồng thời phải thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm, cải cách thủ tục hành chính,
tinh giản bộ máy, giảm bớt các đầu mối quản lý, nhưng vẫn nâng cao được chất lượng và
hiệu quả quản lý.
- Vốn từ NSNN trong đầu tư XDCB trong lĩnh vực quốc phòng sẽ được kiểm tra,
kiểm soát chặt nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng không đúng mục đích. Do sử dụng
nguồn NSNN để thực hiện công trình, các công trình XDCB này phải tuân thủ theo một
quy trình quản lý vốn NSNN một cách chặt chẽ, đầy đủ từ mục tiêu sử dụng vốn, dự toán
đến khâu thanh quyết toán, kiểm tra, giám sát vốn.
1.2.3. Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà
nuớc trong lĩnh vực quốc phòng cấp tỉnh
1.2.3.1 Lập và phân bổ kế hoạch vốn đầu tư XDCB tại đơn vị quốc phòng
cấp tỉnh
Lập kế hoạch vốn trong lĩnh vực quốc phòng có vai trò quan trọng do
ngân sách đầu tư là ngân sách Nhà nước, cho nên cần cân nhắc kế hoạch vốn
đầu tư XDCB vừa đảm bảo phù hợp với khả năng của nền kinh tế, đồng thời
phải đáp ứng nhu cầu của Quốc phòng, bảo đảm thống nhất quản lý vốnvà xây
dựng theo pháp luật, theo chiến lược, quy hoạch và kế hoạch về xây dựng
ngành Quốc phòng.
14
Bước đầu tiên trong kế hoạch đầu tư XDCB của đơn vị quốc phòng cấp tỉnh
là phải xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý, xác định được trọng điểm ưu tiên
đầu tư vào khu vực nào, hạng mục nào, đầu tư như thế nào và tổng mức đầu tư là
bao nhiêu để mang lại hiệu quả cao nhất từ đó xác định được cơ cấu vốn đầu tư theo
hạng mục và cơ cấu vốn theo nhóm dự án.
tập trung, không sát với tiến độ thi công của dự án đã được phê duyệt; Danh mục
dự án đầu tư nhiều không thực hiện kịp, thời gian đầu tư bị kéo dài, dẫn đến lãng
phí, thất thoát vốn đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp; Vẫn đưa vào kế hoạch đầu tư
hàng năm những danh mục đầu tư không đủ điều kiện để bố trí kế hoạch vốn làm
cho việc triển khai kế hoạch gặp khó khăn, phải chờ đợi, hoặc có khi có khối
lượng thực hiện vẫn không đủ điều kiện thanh toán; Bố trí kế hoạch không theo sát
các mục tiêu định hướng của chiến lược, của kế hoạch trung hạn và các công trình
cấp bách về Quốc phòng như kho chứa xe pháo, kho chứa vũ khí đạn dược… cũng
sẽ dẫn đến gián tiếp làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư sau này, bởi vì khi dự án
hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng sẽ thiếu tính đồng bộ với các hoạt động
khác của ngành quốc phòng.
Tóm lại, công tác quy hoạch, kế hoạch, việc lựa chọn địa điểm đầu tư cho
lĩnh vực Quốc phòng đúng, bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm một cách hợp lý là một
trong những yêu cầu mà quản lý nhà nước trong đầu tư XDCB phải quan tâm. Để
đánh giá công tác quản lý ở giai đoạn này, người ta dựa vào các tiêu chí như: Công
tác lập và duyệt quy hoạch có đồng bộ và hoàn chỉnh không? Bố trí kế hoạch đầu tư
đúng hay không? Lựa chọn địa điểm đầu tư đúng hay không?
Đầu tư XDCB từ NSNN có đặc điểm nổi bật là thời gian dài, vốn đầu tư lớn vì
vậy dẫn tới rủi ro cũng cao. Việc lập kế hoạch đầu tư XDCB một cách cẩn thận là
phương pháp để giảm thiểu khả năng rủi ro các nhà đầu tư thường lựa chọn.
Đầu tư theo dự án Quốc phòng là phương pháp tốt nhất để giảm thiểu rủi ro.
Dự án được hiểu như là sự luận chứng một cách đầy đủ về mọi phương diện của
một cơ hội đầu tư, giúp cho chủ đầu tư khi thực hiện dự án về Quốc phòng có đủ cơ
sở để đánh giá độ tin cậy khi thực hiện dự án. Một dự án đầu tư thường bao gồm các
nội dung như: Sự cần thiết phải đầu tư; lựa chọn hình thức đầu tư; chương trình sản
xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có sản xuất); các phương án địa
điểm cụ thể phù hợp với qui hoạch xây dựng; Phương án giải phóng mặt bằng, kế
hoạch tái định cư (nếu có); phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ;
các nội dung như: Khối lượng từng loại công việc theo thiết kế; đánh giá tính hợp lý
17
của khối lượng thiết kế so với yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ, an ninh, bảo mật… Qua
đó rút ra những nhận xét và lượng hóa những thất thoát, lãng phí do khâu thiết kế sai
gây ra: kê khống khối lượng, thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng đã làm lại
theo thiết kế điều chỉnh hoặc bổ sung, tính toán khối lượng sai quy phạm, quy chuẩn;
Áp dụng không đúng giá cả theo từng loại vật tư thiết bị đã được Sở Tài chính, Sở Xây
dựng cấp tỉnh thông báo theo thực tế tại thời điểm tính toán, nghiệm thu thanh toán; Áp
dụng hoặc tính toán đúng về khối lượng định mức, giá cả dẫn đến tính toán sai về các
loại chi phí tính theo định mức.
Từ đó, quản lý vốn nhà nước cho Quốc phòng trong giai đoạn này đòi hỏi
phải chú trọng đến những vấn đề như: Đảm bảo tiến độ thực hiện các khâu, hồ sơ về
thẩm định thiết kế kỹ thuật yêu cầu đầy đủ, thủ tục tiến hành bảo đảm đúng các quy
trình; đầu tư phải đồng bộ để chất lượng các dự án đạt kết quả cao và quản lý tốt để
giảm lãng phí so với đầu tư bằng nguồn vốn khác.
1.2.3.2 Thanh toán, tạm ứng vốn đầu tư XDCB tại đơn vị quốc phòng cấp tỉnh
Thanh toán, tam ứng vốn đầu tư XDCB bao gồm 2 khâu: Cấp phát và thu hồi
tạm ứng và Thanh toán khối lượng hoàn thành
Cấp phát tạm ứng nhằm đảm bảo vốn cho các đơn vị trong việc thực hiện thi
công, xây lắp, mua sắm thiết bị, thuê tư vấn, đền bù giải phóng mặt bằng. Khi chưa
có khối lượng hoàn thành về những công việc này tạo điều kiện cho các đơn vị thực
hiện được kế hoạch vốn đầu tư cơ bản và hoàn thành dự án đúng kỳ hạn.
Cấp phát khối lượng XDCB hoàn thành là nội dung chính của cấp phát vốn đầu tư
XDCB. Vì lúc này tiền vốn mới thực sự được cấp ra cho việc thực hiện đầu tư xây dựng
dự án, là khâu có tác dụng quyết định đảm bảo cấp phát đúng thiết kế, đúng kế hoạch và
dự toán được duyệt. Trong quá trình cấp phát thanh toán cần phối hợp với các ngành chủ
quản, tăng cường kiểm tra giám sát để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn.
Để đảm bảo cho công tác XDCB tiến hành đúng trình tự, đúng nguyên tắc
tư phải tuyển chọn thầu để thực hiện thi công xây lắp, mua sắm vật tư thiết bị theo
yêu cầu đầu tư của dự án. Trong cơ chế thị trường việc đấu thầu để tuyển chọn thầu
là hết sức cần thiết. Mục đích của việc tổ chức đấu thầu là để chọn được những đơn
vị thi công xây lắp có trình độ quản lý tốt, tổ chức thi công nhanh hợp lý đảm bảo
chất lượng và giá thành hợp lý, đáp ứng yêu cầu đối với công trình quốc phòng. Sau
khi đã chọn thầu các đơn vị chủ đầu tư phải kí kết hợp đồng thi công về mua sắm
máy móc thiết bị; các chủ đầu tư theo dõi quản lý và tổ chức thanh toán cho các đơn
19
vị nhận thầu theo những điều đã kí kết trong hợp đồng. Vì vậy nếu không có đấu
thầu để chọn thầu thi công thì việc xây dựng dự án không thể được thực hiện và
việc cấp vốn đầu tư không thể có.
Thứ năm, các công trình quốc phòng đầu tư chỉ được cấp phát khi có khối
lượng cơ bản hoàn thành đủ điều kiện được cấp vốn thanh toán hoặc đủ điều kiện
được cấp vốn tạm ứng. Sản phẩm XDCB do các đơn vị thi công xây lắp (đơn vị
trúng thầu hoặc chỉ định thầu) thực hiện thông qua quá trình sản xuất của doanh
nghiệp xây lắp theo hợp đồng đặt hàng của Bộ CHQS tỉnh (chủ công trình). Chính
vì vậy khi nào có khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành (sản phẩm XDCB hoàn
thành - Bộ phận công trình, hạng mục công trình, công trình hoàn thành của đơn vị
xây lắp bàn giao theo đúng những điều đã ghi trong hợp đồng (đã được nghiệm thu
- có trong kế hoạch thiết kế, dự toán) thì Bộ CHQS tỉnh mới được thanh toán cho
khối lượng hoàn thành đó.
Đối với việc mua sắm máy móc thiết bị và đối với phần thi công xây lắp đấu
thầu, để đảm bảo nhu cầu vốn cho việc mua sắm thiết bị, dự trữ vật tư ... thì các đơn
vị mua sắm thi công được tạm ứng trước (cấp phát tạm ứng) nhưng phải đảm bảo
các điều kiện của tạm ứng đã quy định để đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và
có hiệu quả.
Thanh toán, tạm ứng vốn đầu tư XDCB từ NSNN là việc Bộ CHQS tỉnh trả
tiền cho nhà thầu khi có khối lượng công việc hoàn thành. Thanh toán vốn đầu tư có