Những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 57

ĐẠIPHẠM
HỌC HÀ
SƢ NỘI
PHẠM
TRƢỜNGTRƢỜNG
ĐẠI HỌC SƢ
2 HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH
TRỊ -------------------
----------  ----------

TRẦN ĐỨC KHÓA

TRẦN ĐỨC KHÓA

NHỮNG TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH CỦA
NGUYỄN TRƢỜNG TỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ

TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NHỮNG TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƢỜNG TỘ VÀ Ý
NGHĨA CỦA NÓ TRONG CUÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Triết học
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

Trước tiên cho phép em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ
Nguyễn Thị Giang - người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh
nghiệm cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, quý thầy cô khoa Giáo dục Chính trị đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn
thành đề tài nghiên cứu.
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn đến các cô, các chú tại các cơ quan đã giúp
đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu, khảo sát thực tế.
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên,
giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận.
Em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét của quý thầy, cô để khóa
luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng

Sinh viên

Trần Đức Khóa

năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Triết học với đề tài “Những tư tưởng cải
cách của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt
Nam hiện nay”. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố
trong các công trình khác.

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................................. 37
3.1. Thành tựu và hạn chế trong công cuộc đổi mới từ 1986 đến nay ......... 37
3.2. Vận dụng tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong công
cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay .............................................................. 46
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 67


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để tồn tại và phát triển, dân tộc ta đã trải qua quá trình lao động lâu dài, quá
trình dựng nước và giữ nước. Lịch sử từng chứng kiến sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc với bao biến cố thăng trầm, nhưng truyền thống yêu nước của nhân dân
Việt Nam vẫn luôn tỏa sáng. Truyền thống đó không chỉ được thể hiện ở những
cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ chống ngoại xâm, mà còn thể hiện ở những tư
tưởng duy tân đất nước tạo ra thực lực từ bên trong để chống giặc.
Không chỉ đến bây giờ, mà nhìn về quá khứ, vấn đề cải cách, đổi mới đất nước
cũng đã từng được đặt ra vào một số thời kỳ, trên những phạm vi mức độ khác
nhau, nhiều khi mới dừng lại ở từng mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa…
nhưng cũng có khi đã khá toàn diện, có hệ thống, có những đề nghị cải cách nhằm
ổn định tình hình trong nước, tạo đà cho đất nước phát triển, nhưng cũng có những
đề nghị cải cách xuất phát từ nhu cầu của công cuộc chống ngoại xâm. Tất cả những
tư tưởng cải cách, canh tân đất nước xuất hiện trong hoàn cảnh khác nhau, trong
những điều kiện lịch sử khác nhau và kết quả thành bại không giống nhau, nhưng đã
khẳng định trong lịch sử Việt Nam đã từng tồn tại những xu hướng cải cách, canh
tân đất nước mỗi khi yêu cầu khách quan của đất nước đặt ra.
Nhìn lại lịch sử Việt Nam vào thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX, từ khi vua Gia
Long lên ngôi (1802) đến trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các vua triều
Nguyễn đã thực hiện những chính sách sai lầm về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo
dục… làm cho nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng về mọi mặt. Trong tình hình

Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Những tư tưởng cải cách
của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ cũng như những tư
tưởng cải cách của ông. Tuy mỗi người, mỗi ngành khoa học nghiên cứu, khai thác
ở những khía cạnh khác nhau nhưng tất cả đều đạt được những kết quả đáng kể giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về con người có nhiều tài, nhiều tư tưởng, hoài bão lớn mà
không gặp thời như Nguyễn Trường Tộ.
Năm 1961, nhà xuất bản Giáo dục đã giới thiệu với bạn đọc tác phẩm: “Những
đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX” của Đặng Huy Vận và

2


Chương Thâu. Với công trình này các tác giả đã làm toát lên một phương pháp
nghiên cứu thực sự khoa học khi vận dụng xem xét các khía cạnh khác nhau trong
tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ. Các tác giả không chỉ đánh giá về tầm vĩ mô,
tính nhạy bén, vượt trước thời đại… của nhà tư tưởng canh tân này, mà còn đưa ra
những kiến giải về sự ngây thơ trong nhận định bản chất của thực dân Pháp, sự bảo
thủ về chính trị và một số điểm phi thực tế trong đề nghị cải cách của Nguyễn
Trường Tộ. Hai tác giả không né tránh mà nêu thẳng vấn đề, trong điều kiện lịch sử
Việt Nam thế kỷ XIX, nước nhà bị xâm lăng, đã xuất hiện hai xu hướng cứu nước:
chống Pháp và duy tân, Nguyễn Trường Tộ theo xu hướng duy tân đất nước nhưng
vẫn muốn trung quân, ông đã chủ trương hòa với Pháp, chỉ có điều chủ trương hòa
của ông không hề có quyền lợi gắn với thực dân Pháp. Tác phẩm đã cho tôi cái nhìn
khá rõ nét về trí tuệ của Nguyễn Trường Tộ cũng như những giá trị và những điểm
hạn chế trong tư tưởng cải cách đất nước của ông.
Tiếp theo phải kể đến cuốn sách “Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo”
(2002), Nxb TP. Hồ Chí Minh của tác giả Trương Bá Cần biên soạn. Cuốn sách đã

Những tác phẩm trên đây chủ yếu đề cập về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng
cải cách của Nguyễn Trường Tộ. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu tư
tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ gắn với công cuộc đổi mới ở Việt
Nam hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Những tư tưởng cải cách của
Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện
nay” có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua quá trình nghiên cứu, phân tích những tư tưởng cải cách của
Nguyễn Trường Tộ, khóa luận đưa ra ý nghĩa của việc nghiên cứu những tư tưởng
này đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và
cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ.
Phân tích những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ ở Việt Nam.
Chỉ ra ý nghĩa của việc nghiên cứu những tư tưởng cải cách của Nguyễn
Trường Tộ đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

4


4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ
và công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trên các lĩnh vực: kinh
tế; chính trị - ngoại giao; văn hóa - giáo dục; quốc phòng an ninh.
Nghiên cứu công cuộc đổi ở Việt Nam mới từ năm 1986 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

1.1.1. Về kinh tế
Trong nông nghiệp:
Diện tích canh tác đã tăng một cách đáng kể, tuy vậy vẫn không bù lại được số
ruộng bị bỏ hoang do thiên tai, mất mùa, nhiều nông dân đã phải đi lưu tán. Sản
xuất nông nghiệp vẫn mang tính độc canh, đại đa số bộ phận diện tích đất canh tác
đều trồng lúa. Do kỹ thuật lạc hậu nên năng suất không cao (khoảng 9 tạ/ha).
Đến cuối những năm cuối thế kỷ XIX, tư bản Pháp tăng cường cướp đoạt
ruộng đất của nông dân: “Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho
bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền mà chúng gọi là đất vô chủ” [4;
tr.284]. Tiếp đến năm 1897, triều đình Huế lại ký điều ước nhượng cho Pháp quyền
khai khẩn đất hoang. Ngày 1/5/1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở
hữu ruộng đất của vua Nguyễn. Từ đây thực dân Pháp tha hồ tước đoạt ruộng đất
của nhân dân ta. “Năm 1900, diện tích của các đồn điền người Âu là 322.000ha,
trong đó ở Nam Kỳ là 78.000 ha” [4; tr.287]. Phương thức kinh doanh trong các đồn
điền của Pháp chủ yếu vẫn là phát canh thu tô, thực dân Pháp ít quan tâm đến kỹ
thuật khiến cho đất đai ngày càng nghèo nàn, sức lao động trở nên kiệt quệ.
Trong thủ công nghiệp:
Đến giữa thế kỷ XIX, thủ công nghiệp Việt Nam đã khá phát triển. Một số
nghề có xu hướng tách khỏi nông nghiệp hình thành ra các làng nghề hay phố nghề:
Nghề gốm ở Bát Tràng, Thổ Hà; nghề dệt ở Vạn Phúc, La Khê (Hà Đông)…
Đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam thì thủ công nghiệp Việt
Nam bắt đầu chịu sự tác động và chi phối của chiến tranh như nghề đóng tàu
thuyền, làm vũ khí…Bên cạnh các xưởng thủ công do nhà nước quản lý, một số
xưởng thủ công dân gian đã mọc lên ở nhiều nơi.
Nhìn chung vào cuối thế kỷ XIX, nền sản xuất thủ công nghiệp nước ta bắt

6


đầu có những thay đổi, hoặc do nhu cầu chiến tranh, hoặc do nhu cầu của công cuộc



phương pháp bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp với hình thức bóc lột dã man thời
trung cổ.
Tình hình kinh tế suy đốn như vậy, cho nên nền tài chính của nhà nước cũng
bị khốn quẫn. Ngay từ khi Tự Đức lên ngôi, Trương Quốc Dụng đã tâu: “Tài lực
của nhân dân không bằng 5,6 phần 10 năm trước”[6; tr.57]. Năm 1860 Nguyễn Tri
Phương than: “Quân và dân của đã hết sức yếu”[6; tr.57]. Dưới triều Nguyễn, thời
Gia Long, Minh Mạng, nhà nước còn đúc được tiền, nhưng đến thời Tự Đức nhà
nước không đúc được tiền nữa nên tiền đồng, tiền kẽm rất ít, phải nhờ thương nhân
Trung Hoa đúc một hạng tiền lấy niên hiệu Tự Đức vừa mỏng vừa xấu, gọi là tiền
sếnh, nhân dân không ai chịu tiêu. Đời sống của nhân dân lại càng điêu linh, cực
khổ. Trong lúc đó, nhà Nguyễn vẫn tăng cường bóc lột nhân dân để thỏa mãn cuộc
sống xa hoa, phung phí của chúng và nộp chiến phí cho giặc. Chúng tìm mọi cách
để bóc lột nhân dân và kiếm tiền như đánh thuế rượu, bỏ lệ cấm thuốc phiện để
đánh thuế... Bộ máy quan liêu đã thối nát lại càng trở nên đồi bại. Chúng chỉ biết
tham ô vơ vét và bóc lột nhân dân. Cuộc sống của người dân đã khổ cực lại càng
thêm cực khổ.
1.1.2. Về chính trị - xã hội
Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp
nặng nề. Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp,
từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc
Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án...; biến vua quan
Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp,
khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu.
Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, thực dân Pháp đã tiến
hành xây dựng nhà nước thống nhất, chặt chẽ, đồng thời thực hiện thủ đoạn “chia để
trị” và “dùng người Việt trị người Việt”.
Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập Liên bang Đông
Dương gồm các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia, đến ngày

cuộc khai thác, bóc lột.
Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát đó là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với
chế độ riêng cho từng xứ cùng hệ thống tòa án, nhà tù dầy đặc khắp Việt Nam. Từ
huyện, phủ, châu trở lên đều có nhà tù và trại giam. Ngoài ra thực dân Pháp còn

9


thực hiện nhiều thủ đoạn chia rẽ dân tộc và tôn giáo. Bộ máy chính quyền của thực
dân Pháp được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với
giai cấp phong kiến phản động do thực dân Pháp chi phối nhằm thực hiện chính
sách khai thác, bóc lột vô cùng tàn bạo của chúng
Về xã hội, nhà Nguyễn dùng luật pháp hà khắc, quân đội, nho giáo phản động
làm công cụ kìm kẹp nhân dân về mọi mặt, cho nên mâu thuẫn xã hội vốn đã có
mâu thuẫn nay càng trở nên gay gắt, quyết liệt hơn. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa
của nông dân nổ ra và kéo dài. Vì đời sống cơ cực, tô thuế, sưu dịch nặng nề và bởi
các chính sách đối nội đối ngoại không phù hợp của triều Nguyễn nên các cuộc khởi
nghĩa liên tục nổ ra, khó có thể dập tắt. Để đối phó với phong trào nổi dậy của nhân
dân, triều đình đã thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa một cách tàn bạo. Khiến cho
lòng dân than oán, chia lìa, khối đoàn kết dân tộc bị rạn nứt.
1.1.3. Về văn hóa - giáo dục
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc về văn hóa là một trong
những biện pháp cai trị của bọn thực dân. Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là
góp phần duy trì ách thống trị vĩnh viễn của bọn thực dân Pháp. Vì vậy tùy theo yêu
cầu về chính trị và kinh tế của từng thời kỳ, thực dân Pháp đề ra những chủ trương
cụ thể.
Để thực hiện mục đích trên, thực dân Pháp lợi dụng nền giáo dục Nho học với
chế độ khoa cử lỗi thời. Các trường học chữ Pháp bắt đầu được mở, chữ Hán dần
mất địa vị độc tôn. Đặc biệt, năm 1896, Pháp cho thành lập trường Quốc học Huế
đặt dưới quyền kiểm soát của Khâm sứ Trung Kỳ. Trường thu nhận con em quan lại

dân oán trách thì triều đình hết sức bảo thủ, không chịu duy tân cho nên không đủ
khả năng đương đầu với thực dân Pháp. Năm 1859, khi thực dân Pháp nổ súng tấn
công Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương đã nói: “quân và dân đã hết, sức đã yếu”.
Cuối thế kỷ XIX nước ta lâm vào tính trạng khủng hoảng về mọi mặt: kinh tế
ngày càng kiệt quệ, chính trị - quân sự bất ổn, xã hội phân hóa sâu sắc, văn hóa giáo dục thấp kém. Thêm vào đó là sự nhòm ngó, mở rộng xâm lược của tư bản
Pháp. Hoàn cảnh đó đặt ra yêu cầu đối với triều đình nhà Nguyễn: Một là, tiến hành
cải cách mở cửa, trấn hưng đất nước, chuẩn bị mọi lực lượng, kế hoạch tác chiến,
đường lối kháng chiến để tiến hành kháng chiến chống xâm lược. Hai là, bắt tay với
Pháp trở thành tay sai, thuộc địa của tư bản phương tây. Trước yêu cầu đó, Nguyễn

11


Trường Tộ cùng với một số sĩ phu yêu nước đã đề nghị triều đình Tự Đức canh tân
đất nước. Theo ông, đất nước đang trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về
mọi mặt như vậy thì phải tiến hành cải cách trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính
trị, văn hóa, giáo dục, ngoại giao.
1.2. Cuộc đời của Nguyễn Trƣờng Tộ
1.2.1. Nguyễn Trường Tộ khi chưa hình thành tư tưởng cải cách
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên,
Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô. Thân sinh ra Nguyễn Trường Tộ là
một thầy thuốc Bắc có tiếng và có những mối quan hệ mật thiết với nho sĩ trong
vùng. Ông thông minh, học giỏi, nên được truyền tụng là "Trạng Tộ". Nguyễn
Trường Tộ còn học thông tứ thư ngũ kinh của Nho giáo.
Ngôi làng Bùi Chu phía Đông giáp với nhánh sông xuôi về thị xã Vinh, là nơi
buôn bán sầm uất. Phía Tây là những dãy núi chứa nhiều quặng sắt đang được khai
thác. Dân làng lấy quặng để nấu sắt hoàn toàn thủ công và theo lệ hằng năm phải
nộp cho nhà nước 80 cân sắt nấu thành phẩm. Một trục lộ chính (sau này trở thành
quốc lộ) đi qua ngôi làng tạo nên sự khởi sắc, giao lưu giữa giới nho sĩ, dân chúng
tụ họp, buôn bán, trao đổi hàng hóa. Hoàn cảnh xuất thân từ gia đình và quê hương

phương Tây ngoài kiến thức Nho giáo sở trường của mình. Một thế giới nhận thức
khác mở ra trong tư duy Nguyễn Trường Tộ khác hẳn cách nghĩ của Khổng học.
Giám mục Gauthier cảm phục cách làm việc, nghiên cứu của người học trò này.
Năm 1858, một số biến cố quan trọng xảy ra. Liên quân Pháp và Tây Ban Nha
dưới sự chỉ huy của trung tướng Rigault De Genouilly tấn công và chiếm cảng
Tuorane (Đà Nẵng). Tự Đức và triều đình phản ứng lại bằng cách bách hại người
công giáo rất khốc liệt. Cường độ cuộc bách hại này cao hơn so với thời hai vua
Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847). Họ cho rằng Thiên Chúa giáo
là nguy cơ phá vỡ truyền thống Khổng giáo của dân tộc và tiếp tay với thực dân
Pháp để xâm lược Việt Nam. Ngoài những hình thức truy bắt, tù đày, trảm quyết,
Tự Đức cùng triều đình còn áp dụng chính sách “Phân - Tháp” đối với người Công
Giáo. Sự kiện này càng kích động thêm giới nho sĩ. Họ kích động nhân dân nổi dậy
chống đối người có đạo Công Giáo. Về phía mình, người Công Giáo bị dồn vào
chân tường, nhiều người đã chấp nhận cái chết như biện pháp để giải quyết hai vấn
đề trọng yếu của đời họ: vừa trung thành với niềm tin vừa không mang tiếng là
“phản quốc”. Trước tình hình nguy kịch toàn diện đó, sự tồn tại là điều thiết yếu

13


nhất, chủng viện xã Đoài giải tán, Nguyễn Trường Tộ theo giám mục Gauthier sang
Pháp để tránh cơn bách hại dữ dội này.
1.2.2. Nguyễn Trường Tộ từ khi hình tư tưởng cải cách
Trong thời gian ở Pháp (1858 - 1861), Nguyễn Trường Tộ tận dụng tối đa
những điều kiện khả dĩ để nâng cao việc học của mình, mong rằng sau này làm
được cái gì đó cho dân tộc. Với tầm nhìn xa, cộng thêm lòng yêu nước chân thành
Nguyễn Trường Tộ không oán trách Tự Đức cũng như giới nho sĩ đồng liêu của
mình trước cơn bách hại đang xảy ra ở quê nhà. Trong lòng Nguyễn Trường Tộ vẫn
mang một hoài bão về quê hương khi đặt đất nước mình trong vị thế đối sách với
các nước mình đã đi qua, nhất là nước Pháp: “Hồi chiếu dẫu không nương ánh

đã đưa Nguyễn Trường Tộ đến quyết định nhận làm thông dịch cho Pháp, để mong
đóng góp phần lợi thế cho nước nhà qua cuộc hòa đàm bất lợi này. Đây là nỗi khổ
tâm của Nguyễn Trường Tộ khi phải làm một công việc bất đắc chí đó. Khi Phan
Thanh Giản thay mặt Triều đình vào thương thuyết với thực dân Pháp ở Nam Kỳ,
Nguyễn Trường Tộ tìm cách gặp vị đại thần này.
Bài thơ của Ông gửi Phan Thanh Giản bộc lộ nỗi lòng một con người luôn
muốn phục hưng đất nước:
“Dệt mướn thôn Tây há bởi nghèo,
Nhà riêng khuôn khổ đã quen theo.
Xóm Đông cung gấm như cần hỏi,
Cặn kẽ kim vàng vẽ lối theo”[20; tr.30]
Nhận thấy thực dân Pháp ngày càng thể hiện rõ ý đồ xâm lăng, Nguyễn
Trường Tộ xin thôi chức thông dịch cho Pháp: Từ giai đoạn này Nguyễn Trường Tộ
giành hết thời gian, năng lực vào việc soạn thảo những kế hoạch để làm cho dân
giàu, nước mạnh. Mục đích cầm bút của Ông là nhằm thiết kế nên những cách thức
khả dĩ đưa nước nhà thoát khỏi ngoại xâm bằng nội lực, khôn khéo của chính nhân
dân mình.
Trong vòng mười năm (1861 - 1871) Nguyễn Trường Tộ liên tục gởi lên Tự
Đức và viện cơ mật hơn 58 bản Điều trần. Đó là kết quả bao năm trời bôn ba hải
ngoại, miệt mài nghiên cứu học hỏi vì một ngày mai tươi sáng cho nước nhà.
“Mấy chục năm nay tôi bôn tẩu trong thiên hạ, thu thập những tình thế biến
thiên xưa nay, đem những điều đã đọc trong sách nghiệm ra việc đời. Dù trao

15


đổi với ai một lời nói, một câu chuyện, thâm tâm tôi cũng có ý thu lấy sự hiểu
biết của người làm của mình, cho nên không kể là phải uốn nắn để cầu học hỏi,
cũng khổ tâm lắm” [2; tr.287].
Khoảng cuối năm 1864 cho đến đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ đã gửi liên

thảo tiếp những điều trần gửi lên vua Tự Đức. Văn phong trong những bản điều trần
như có máu và lửa từ tấm lòng yêu nước chân. Bệnh mỗi lúc càng nặng thêm,
Nguyễn Trường Tộ liệt giường. Đến ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức thứ 24, tức
ngày 23 tháng 11 năm 1871, Nguyễn Trường Tộ đột ngột từ trần. Sau khi qua đời,
di hài của ông được an táng tại thôn Bùi Chu (nay ở xóm 1, làng Bùi Chu, xã Hưng
Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).
1.3. Những tiền đề lý luận góp phần hình thành tƣ tƣởng cải cách của Nguyễn
Trƣờng Tộ
Có thể nói, tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ được hình thành là kết
quả của một sự hỗn dung các tư tưởng của Nho giáo và tư tưởng của nền văn hóa
Tây phương.
1.3.1 Ảnh hưởng từ truyền thống Nho học
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo yêu nước, thân sinh Nguyễn
Quốc Thư là một thầy thuốc giỏi, lại có hiểu biết nên ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn
Trường Tộ đã được làm quen với bút nghiên, kinh sách của Thánh hiền. Vốn thông
minh, lại ham học hỏi, Nguyễn Trường Tộ từ nhỏ nổi tiếng có trí nhớ hơn người,
học đến đâu nhớ đến đó, ít khi làm bài. Thuở nhỏ, ông học vỡ lòng về Hán học
trong gia đình với thân sinh. Sau theo học với tú tài Giai ở làng Bùi Ngõa, cống
Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở Tân Lộc. Vì thế mà Ông có một
vốn liếng về Hán học rất lớn không thua các vị khoa bảng trong triều Nguyễn lúc
bấy giờ. Văn chương, cú pháp cũng như kiến thức về lịch sử và luật lệ Đông
phương cũ, qua các bài viết của Nguyễn Trường Tộ gửi lên triều đình vua Tự Đức
không ai chê vào chỗ nào được. Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ không đậu đạt gì,
một phần có lẽ vì Ông là người Công giáo nên không được đi thi, một phần có lẽ vì
ông không muốn đi theo con đường khoa cử.
Như vậy, có thể thấy những vốn liếng kiến thức về Hán học và những hiểu
biết về lịch sử cũng như luật lệ Đông phương là rất lớn, là cơ sở, những tiền đề lý
luận đầu tiên có ảnh hưởng đến hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ sau này.

17

của Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ đã

18


tìm thấy rất nhiều quyển sách chữ Hán thuộc loại Tân thư. Nhờ đó mà vào đầu năm
1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học, kỹ
thuật cũng như khoa học - xã hội Tây phương.
Thông qua cuộc xâm lược của các cường quốc tư bản chủ nghĩa, và quá trình
truyền bá đạo Kitô, tức là phải tìm hiểu vấn đề Kitô giáo và vấn đề văn hóa, văn
minh phương Tây thế kỷ XIX ở Việt Nam, đã tác động ảnh hưởng đến Nguyễn
Trường Tộ như thế nào. Vấn đề Kitô giáo luôn là một yếu tố quan trọng của văn hóa
phương Tây. Đạo Kitô khi truyền vào Việt Nam thường gặp phải sự bài xích của
dân chúng và triều đình theo đạo Phật, đạo Nho, nó đã trải qua những bước thăng
trầm, và cũng nhiều lần bị vua chúa cấm đoán trừng trị. Kitô giáo có ảnh hưởng trực
tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ, bởi Ông được sinh ra và
hoạt động trong môi trường Kitô giáo. Là một giáo dân trong địa phận Nam Đàng
Ngoài (Giáo phận Vinh), Nguyễn Trường Tộ chứng kiến những đợt khủng bố giáo
dân dưới triều vua Tự Đức, và bản thân Ông đã phải lánh nạn với giám mục
Gauthier vào Đà Nẵng năm 1858. Từ khi còn nhỏ, Nguyễn Trường Tộ đã tiếp thu
văn hóa Kitô giáo, là người có học thức, lại thường xuyên để tâm nghiên cứu mọi
vấn đề, ông hiểu sâu kinh thánh. Điều này thể hiện rõ qua các di thảo, các bản điều
trần của Ông. Khi lập luận Ông thường viện dẫn kinh thánh, nhưng được vận dụng
giải quyết vấn đề một cách khéo léo, và người đọc không hề thấy ở ông sự cuồng tín
như những người “tử vì đạo” hay những giáo dân mê lú, quan niệm của Ông là tôn
giáo nào cũng lấy điều trung hiếu làm chính. Những bản điều trần ông xin triều đình
đừng kỳ thị, đối xử bất công với giáo dân, đọc lên thật thiết tha có lý. Có thể thấy,
Nguyễn Trường Tộ tiếp thu văn hóa Kitô giáo theo tinh thần yêu người như yêu
mình, như những điều răn của Chúa, và cũng giống như nhân cách một nhà Nho
chân chính, điều này ở thời đại của Ông là rất hiếm. Mặc dù đạo Kitô thời đó bị

kiến thức về phương Tây mà thời ấy, ở Việt Nam ít ai biết đến. Ông hiểu về lịch sử
thế giới và lịch sử nước Pháp, hiểu về quá trình bành trướng của các nước lớn ở
phương Tây. Mặc dù các di thảo của Ông hoàn toàn viết bằng chữ Hán, không hề có
dấu vết ngữ văn phương Tây, song những kiến thức mà Ông tích lũy được lại chứng
tỏ rằng, Ông đã tiếp thu chúng từ văn minh, văn hóa phương Tây. Còn việc tiếp thu
như thế nào, bằng cách nào thì cần được nghiên cứu, tìm hiểu thêm. Có thể, các giáo
sĩ phương Tây đã truyền thụ cho ông những kiến thức khoa học, kỹ thuật và những tư
tưởng không hề được giảng dạy trong nhà trường truyền thống của dân tộc.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status