TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU NỘI DUNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG TỰ LẬP CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG TÁC PHẨM “KHÔNG GIA ĐÌNH”
CỦA HÉC-TÔ MA-LÔ
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Lớp
:
Khóa
:
Th.S Nguyễn Thị Thúy Nga
Mai Thị Thúy Vy
14STH
2014
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2018
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG..............................................................................................1
A. MỞ ĐẦU ...........................................................................................................2
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .....................................................................................2
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ..................................................................................3
3.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU...............................................................................5
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ............................................5
4.1 Khách thể nghiên cứu ......................................................................................5
1.4.1 Tác giả Héc-tô Ma-lô ..................................................................................18
1.4.1.1 Đôi nét về cuộc đời ..................................................................................18
1.4.1.2 Đôi nét về sự nghiệp ................................................................................19
1.4.2 Tác phẩm Không gia đình ...........................................................................19
1.4.2.1 Sơ lược về nội dung tác phẩm .................................................................19
1.4.2.2 Giá trị hiện thực .......................................................................................20
1.4.2.3 Giá trị nhân đạo........................................................................................21
Chương 2: TÌM HIỂU NỘI DUNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG TỰ LẬP CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA TÁC PHẨM KHÔNG GIA ĐÌNH CỦA
HÉC-TÔ MA-LÔ .................................................................................................22
2.1 Tiêu chí tìm hiểu nội dung tác phẩm Không gia đình của Héc-tô Ma-lô ......22
2.2 Nội dung giáo dục kĩ năng tự lập giáo dục cho học sinh Tiểu học trong
tác phẩm Không gia đình của Héc-tô Ma-lô ........................................................23
2.2.1 Kĩ năng về sự tự tin .....................................................................................23
2.2.2 Kĩ năng bày tỏ ý kiến của mình ..................................................................30
2.2.3 Kĩ năng tự quản, tự phục vụ........................................................................43
2.2.4 Kĩ năng tự đưa ra quyết định ......................................................................49
2.2.5 Kĩ năng thay đổi bản thân ...........................................................................57
2.2.6 Kĩ năng đối mặt với khó khăn, thử thách ...................................................65
2.2.7 Kĩ năng về sự kiên trì, nhẫn nại ..................................................................74
2.2.8 Ý chí nổ lực phấn đấu vươn lên ..................................................................82
2.2.9 Kĩ năng giúp đỡ người khác .......................................................................90
C. KẾT LUẬN ...................................................................................................104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................106
PHẦN PHỤ LỤC ...............................................................................................107
DANH MỤC BẢNG
đến tác phẩm Không gia đình của Héc-tô Ma-lô. Đây là một tiểu thuyết xuất sắc
dành cho cả người lớn và thiếu nhi, được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau và tái
bản nhiều lần. Qua tác phẩm, nhà văn Héc-tô Ma-lô đã vẽ nên bức tranh đầy màu
sắc và âm thanh về cuộc phiêu bạt của cậu bé Rê-mi. Trải qua bao sóng gió cậu bé
đã biết sống tự lập, biết cách đối nhân xử thế và trở thành con người có ích cho xã
hội. Tác phẩm chứa đựng những giá trị giáo dục sâu sắc, trong đó, nó đề cao tình
cảm gia đình, tình thầy trò, tình đồng đội, sự tương trợ giúp đỡ nhau và cách giải
quyết những vấn đề khác nhau trong nhiều hoàn cảnh. Để từ đó hướng con người
đến những ước mơ tốt đẹp, vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống bằng chính sức
lao động chân chính. Từ đó, tác phẩm mang đến cho trẻ em những bài học về kĩ
năng tự lập rất hay và có ý nghĩa thực tiễn. Vì thế, tác phẩm có ý nghĩa rất lớn đối
với học sinh Tiểu học và được đưa vào chương trình với lát cắt nhỏ trong Sách
giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, mang tên Lớp học trên đường.
2
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu nội dung giáo dục kĩ
năng tự lập cho học sinh Tiểu học trong tác phẩm Không gia đình của Héc-tô
Ma-lô” để nghiên cứu.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Về vấn đề giáo dục kĩ năng tự lập cho học sinh Tiểu học
Từ lâu, vấn đề giáo dục kĩ năng tự lập cho trẻ đã trở thành vấn đề được toàn xã
hội quan tâm. Chính vì thế, vấn đề này thu hút không ít công trình nghiên cứu
nhằm hướng đến giáo dục và hình thành những kĩ năng sống cơ bản cho thế hệ
tương lai của đất nước.
PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình, Giáo trình giáo dục kĩ năng sống, nhà xuất bản
Đại học Sư phạm (2007), đây là công trình nghiên cứu xoay quanh kĩ năng sống và
giáo dục kĩ năng sống. Tác giả đã trình bày khá đầy đủ về lí thuyết kĩ năng sống
nhưng tập trung hơn là nói về đối tượng học sinh trung học cơ sở.
rồi tạo ra một thế hệ yếu ớt, không biết tự lập.
Trần Thị Thùy Dung, Khóa luận tốt nghiệp, Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
tiểu học qua tác phẩm Bu-ra-ti-nô và chiếc chìa khóa vàng của tác giả A.Tônxtôi,
nhà xuất bản Đại học Sư phạm Đà Nẵng (2016). Công trình này nghiên cứu tổng
quan về kĩ năng sống, khảo sát và thống kê nội dung, phương pháp giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh Tiểu học. Từ việc nghiên cứu các kĩ năng sống có trong tác
phẩm, tác giả đã đưa ra các biện pháp tích cực để áp dụng các kĩ năng này vào
chương trình giáo dục học sinh Tiểu học.
Thông tư sửa đổi 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TTBGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ở
khoản 2, điều 5 có nêu về việc đánh giá năng lực, phẩm chất của học sinh đã đề
cập đến các năng lực. Đó là: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn
đề.
Về tác phẩm Không gia đình của Héc-tô Ma-lô
Như đã trình bày, tiểu thuyết Không gia đình của Héc-tô Ma-lô chứa đựng
những bài học đạo đức và về kĩ năng tự lập vô cùng quý giá. Theo thời gian, tác
phẩm càng khẳng định vị thế của mình vì chính những giá trị giáo dục sâu sắc và
nhân văn đó. Nhờ thế, mà tác phẩm được độc giả và các nhà nghiên cứu trên toàn
thế giới dành sự quan tâm rất lớn.
Hồ Biểu Chánh, Cay đắng mùi đời, nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ (xuất bản
năm 1923 và tái bản 2014). Với cách cảm tác độc đáo trong sự giao lưu văn hóa,
4
tác phẩm này, nhà văn Hồ Biểu Chánh đã nghiên cứu và phỏng theo một số tác
phẩm nổi tiếng phương Tây, trong đó có tiểu thuyết Không gia đình của Héc-tô
Ma-lô.
Trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã có bài viết khái lược về nội dung
cùng giá trị của tác phẩm. Bài viết cung cấp cho người đọc một số thông tin sơ
6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu những vấn đề chung liên quan làm cơ sở lí luận cho đề tài.
- Tìm hiểu một số nội dung giáo dục kĩ năng tự lập cho học sinh Tiểu học trong
tác phẩm Không gia đình của Héc-tô Ma-lô.
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Tác phẩm Không gia đình của Héc-tô Ma-lô.
8. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và nghiên cứu tác phẩm Không gia đình và một số tài liệu về việc giáo dục
kĩ năng tự lập cho học sinh nói chung, đặc biệt là học sinh tiểu học nói riêng để
làm nguồn thao khảo cho cơ sở lí luận của đề tài.
8.2. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng để thống kê, phân loại các nội dung giáo dục kĩ
năng tự lập trong tác phẩm Không gia đình. Trên cơ sở đó, chúng tôi phân tích và
nhận xét từng nội dung kĩ năng tự lập cho học sinh Tiểu học có trong tác phẩm.
8.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Chúng tôi áp dụng phương pháp này cho toàn bộ bài nghiên cứu để phân tích và
làm rõ những nội dung giáo dục kĩ năng tự lập có trong tác phẩm, từ đó tìm ra ý
nghĩa của mỗi nội dung để giáo dục kĩ năng tự lập cho học sinh Tiểu học.
9. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì đề tài gồm có 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài.
Chương 2: Tìm hiểu nội dung giáo dục kĩ năng tự lập cho học sinh tiểu học
trong tác phẩm Không gia đình của Héc-tô Ma-lô.
Phần kết luận.
6
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Tác phẩm dành cho thiếu nhi luôn trong sáng, hồn nhiên và dễ hiểu. Đặc điểm
này xuất phát từ bản chất ngây ngô, ngộ nghĩnh của trẻ con. Khi chưa bước sang
tuổi trưởng thành, con người chưa bị áp lực của miếng cơm, manh áo cũng như
những ràng buộc xã hội khác làm tha hoá, đấy là lúc đời sống tinh thần tự nhiên,
lành mạnh nhất. Dù chúng ta có cố tình nhét vào đầu trẻ em hàng trăm thứ mà
người lớn chúng ta có được, thì muôn đời trẻ em vẫn cứ là trẻ em. Hồn nhiên, vô
7
tư, trong sáng là đặc điểm ổn định trong mọi chuyển biến của lứa tuổi, bởi vì đây là
lứa tuổi còn say mê chơi đùa, nhu cầu vui chơi giải trí xuyên thấm trong mọi hành
vi, hoạt động của chúng. Khi nào mất đi đặc điểm ấy trẻ em không còn là trẻ em
nữa. Một tác phẩm văn học bỏ qua đặc điểm này tự nó xa lạ với trẻ em.
Vui đùa, giải trí là phương tiện quan trọng để trẻ em giữ được bản chất hồn
nhiên, vô tư, trong sáng, hơn nữa nó không làm cho các nội dung phức tạp của đời
sống quá ngưỡng tiếp nhận của trẻ em. Muốn thế, người sáng tác phải biết pha trò
dí dỏm trong cấu trúc hình tượng, tình huống, ngôn ngữ… M. Gorki nói nhiều về
chức năng giáo dục của văn học xô viết, nhưng rốt cuộc ông cũng phải thừa nhận
vui cười, thú vị là một nét căn bản của văn học cho thiếu nhi. “Về mặt sư phạm mà
nói, cái khuynh hướng đó như một phương tiện, như một sự bảo đảm chống đối lại
tính chất nguy hiểm làm cho trẻ con khô khan bởi tính nghiêm nghị…”[6; 58].
Một nét đặc trưng của tâm lý trẻ thơ là rất giàu mơ mộng, tưởng tượng, liên
tưởng… Do vậy, một trong những tiêu chuẩn của tác phẩm văn học thiếu nhi là
phải sáng tạo ra một thế giới mới khác với thế giới thực để hấp dẫn các em. Nhìn
dưới góc độ này thì các tác phẩm kinh điển của văn học thiếu nhi là Dế mèn phiêu
lưu ký (Tô Hoài), Hai vạn dặm dưới biển (Duy-lơ Véc-nơ)… rõ ràng đối tượng
viết không chỉ là chính bản thân trẻ em mà còn là thế giới loài vật, là thế giới người
lớn… nhưng được các em thích thú tìm hiểu. Nhưng dù ở đâu, thế giới hay Việt
Nam; ở thời kỳ nào, cổ đại, trung đại hay hiện đại thì người ta vẫn rất chú ý tới
phẩm chất của một tác phẩm văn học thiếu nhi, thể hiện ở tính giáo dục và tính
tạo nên hình tượng cảm xúc trong thơ. Mỗi bài thơ viết cho trẻ thơ gần như là một
trong yếu tố tạo nên hình tượng cảm xúc trong thơ. Mỗi bài thơ viết cho trẻ gần
như một mẩu truyện hoặc chứa đầy yếu tố truyện. Điều đó khiến cho các em dễ
hiểu, dễ cảm nhận và thuộc lòng những vần thơ.
Văn học thiếu nhi có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ.Văn học thiếu nhi như một nguời bạn đồng hành cùng trẻ thơ, cung cấp cho trẻ
thơ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật. Khi trẻ thường
xuyên tiếp xúc với các tác phẩm văn học thiếu nhi, vốn từ ngữ của các em phong
phú và sống động hơn. Các em tự hình thành cho mình khả năng diễn đạt một vấn
đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm bởi đã được học cách diễn đạt
sinh động ấy trong tác phẩm. Đối với trẻ mầm non, sự phát triển ngôn ngữ ấy qua
hoạt động bắt chước lời nói, việc làm của các nhân vật hoặc những cách diễn đạt
trong tác phẩm. Chính quá trình trẻ được nghe, được kể diễn cảm truyện, thơ và
được trực tiếp tham gia vào hoạt động đọc, kể lại truyện thơ sẽ giúp trẻ tích lũy và
phát triển thêm nhiều từ mới. Điều này giúp giáo viên có thể dễ dàng hơn trong
việc rèn luyện khả năng biểu cảm trong ngôn ngữ nói, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ
đối thoại với trẻ.
1.1.3
Văn học thiếu nhi nước ngoài trong chương trình Tiểu học
Trong chương trình dạy Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, các tác phẩm thuộc bộ phận
văn học nước ngoài được đưa vào chương trình với trên dưới 100 tác phẩm. Các
tác phẩm này bao gồm nhiều thể loại như truyện dân gian (truyện thần thoại, truyện
cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười,…) và những câu chuyện viết về các danh
9
nhân, về người thật việc thật. Có khi nó bao gồm cả một bài hoặc chỉ là một đoạn
trích văn, thơ của các nhà văn, nhà thơ từ cổ điển đến hiện đại nổi tiếng trên thế
Kĩ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc
nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào
đó phát sinh trong cuộc sống.
10
Tự lập là từ gốc Hán Việt thường được dùng để chỉ một phần phẩm chất, nhân
cách tốt của người trưởng thành . Theo từ Hán Việt thì Tự lập là tự mình, mình vun
trồng lấy mà mình đứng lên được, không cậy dựa vào ai.
Ở góc độ tâm lý học, tự lập đặc trưng cho thái độ tự giác, tự tin, thể hiện ở khả
năng tự đặt mục đích, nhiệm vụ, kế hoạch hành động, tự điều khiển bản thân và nổ
lực cao về trí tuệ, thể lức trong quá trình hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của
bản thân và xã hội. Tự lập là điều kiện quan trọng để nảy sinh tính sáng tạo. Một
người sáng tạo là luôn biết độc lập trong suy nghĩ và hành động của mình. Vì vậy,
kĩ năng tự lập của cá nhân cũng liên quan tới sự tích cực của cá nhân đó.
Trong hoạt động, tự lập cũng có quan hệ nhất định với nhu cầu, động cơ sự tự
tin, sự nổ lực ý chí,… của chủ thể. Trên cơ sở có nhu cầu tham gia vào hoạt động
một cách chủ động, có kĩ năng và năng lực tự giải quyết những nhiệm vụ đã đặt
một cách sáng tạo tự tin.
Như vậy, Kĩ năng Tự lập là những năng lực vốn có về mặt tinh thần của cá
nhân, được đặt trưng bởi khả năng tự định hướng hoạt động, tự đặt ra kế hoạch và
mục đích hoạt động của bản thân, biết sử dụng trí tuệ và sức lực của bản thân với
thái độ tích cực, tự tin để thực hiện nhiệm vụ của mình mà không dựa dẫm vào
người khác.
Kĩ năng tự lập được hình thành thông qua quá trình hoạt động của cá nhân, nó
biểu hiện ở cả mặt ý thức và hoạt động của cá nhân trong mối liên hệ của cá nhân
với các cá nhân khác, với thế giới xung quanh và với bản thân mình.
1.2.2 Các kĩ năng tự lập
- Sự tự tin
làm gì để vượt qua được thử thách đó. Nếu không tự mình đương đầu với những
thử thách ấy thì làm sao có thể trưởng thành được? Vì thế, để tự lập, để trưởng
thành mỗi người luôn phải tự rèn luyện cho bản thân ý chí, nghị lực mạnh mẽ để
đương đầu với khó khăn và thử thách.
- Kiên trì, nhẫn nại
Kiên trì, nhẫn nại không chỉ là kĩ năng, đó còn là thái độ sống, theo đuổi mục
đích mà mình đã đề ra. Đó chính là sự nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ, dù có
gian nan thử thách nhưng vẫn nhất quyết làm đến cùng. Lòng kiên trì, nhẫn nại đối
với mỗi người là nhân tố để thành công, để đạt được mục đích mà mình đặt ra.
- Ý chí, nghị lực phấn đấu vươn lên
Ý chí, nghị lực của con người có thể nói là sự quyết tâm, động lực của con
người khi biết vượt qua những khó khăn, rào cản trong công việc, trong cuộc sống.
Hơn nữa, ý chí, nghị lực còn giúp chúng ta vươn lên, có động lực vượt qua những
khó khăn, thử thách mà cuộc sống đem lại.
12
- Chủ động
Chủ động là làm điều gì đó mà không cần phải yêu cầu. Chủ động trong công
việc luôn giúp bạn kiểm soát tốt tiến trình hoàn thành những kế hoạch của bản
thân.
- Tự nhận thức
Tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư
tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm
năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,…của bản thân mình;
quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang
cảm thấy căng thẳng. Từ đó có thể đưa ra những quyết định, những sự lựa chọn
đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã
hội.
bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp
thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp,
giúp chúng ta có cái nhìn mới và hướng đi mới.
1.2.3 Khái niệm giáo dục kĩ năng tự lập
Tính tự lập được hình thành rất sớm và là một biểu hiện tâm lí có ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình hình thành các phẩm chất nhân cách của trẻ. Một số dấu
hiệu đáng tin cậy của bắt đầu sự hình thành tính tự lập, đó là nhu cầu tự khẳng định
mình xuất hiện. Trẻ muốn tự làm một số công việc trong sinh hoạt hằng ngày.
Với khả năng tự lập, trẻ biết vị trí của mình trong xã hội, sau đó trẻ mới tìm hiểu
mối quan hệ giữa những người xung quanh. Phát triển năng lực thực hiện những
nhiệm vụ nhận thức một cách có kế hoạch. Từ những biểu hiện trên của trẻ chúng
ta nhận thấy khả năng tự lập có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến trí tuệ, xúc cảm
của trẻ, xét về tự lập, trong quá trình hoạt động, trẻ tự nhận ra xúc cảm của mình,
tự tin vào khả năng tự điều khiển, tự kiểm soát được mình, tự lập quyết định việc
hình thành và phát triển trí tuệ xúc cảm của trẻ.
Giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ khi còn bé không những tạo ra cho trẻ khả
năng tự lập trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là một trong những điều kiện quan
trọng để hình thành sự tự tin, năng động, sáng tạo, làm cơ sở hình thành các kĩ
năng sống sau này.
1.2.4 Giáo dục kĩ năng tự lập cho học sinh Tiểu học
1.2.4.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng tự lập cho học sinh Tiểu học
Giáo dục kĩ năng tự lập cho học sinh Tiểu học để học sinh có khả năng tiếp nhận
các kĩ năng sống khác một cách dễ dàng hơn. Các em có tư duy sâu sắc và suy nghĩ
đúng đắn về những sự việc, hiện tượng xảy ra xung quanh. Hơn nữa, giáo dục kĩ
năng tự lập là trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù
hợp. Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại
bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. Học sinh có khả năng ứng phó phù hợp và
14
vở, đồ dùng học tập; tự giác tham gia và chấp hành sự phân công của nhóm, lớp;
thực hiện được một số việc phục vụ cho bản thân; thực hiện được một số việc phục
vụ cho học tập; chấp hành nội qui lớp học, tự hoàn thành công việc được giao;
quần áo, đầu tóc luôn gọn gàng sạch sẽ; biết giữ gìn vệ sinh thân thể, ăn, mặc hợp
15
vệ sinh; biết bố trí thời gian học tập, sinh hoạt ở nhà phù hợp; chuẩn bị tốt đồ dùng
học tập khi đến lớp.
- Tự đưa ra quyết định, giải quyết vấn đề: Đưa ra những cách sắp xếp mới và
những trật tự mới một cách thuyết phục đối với các vấn đề học tập và sinh hoạt;
sáng tác những tác phẩm vừa sức và làm sản phẩm đơn giản phục vụ cho nhu cầu
bản thân; biết nhiều thông tin về vấn đề hay tình huống phải giải quyết; xác định
được bản chất của các vấn đề đơn giản và gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các
em; biết nhiều cách giải quyết vấn đề; hình dung được kết quả của từng cách giải
quyết; biết được suy nghĩ và cảm xúc của bản thân đối với từng cách giải quyết;
biết so sánh và chọn cách giải quyết tối ưu khi giải quyết các vấn đề hay tình
huống trong học tập và sinh hoạt hàng ngày của bản thân; hành động theo quyết
định đã lựa chọn; bước đầu biết chỉ ra bài học kinh nghiệm khi giải quyết vấn đề.
- Không ngại thay đổi: Biết thay đổi bản thân phù hợp với hoàn cảnh gia đình,
trường lớp; hòa nhập với các bạn khi làm bài tập nhóm; biết đồng ý với những ý
kiến hay hơn của mình; sẽ thay đổi nếu được góp ý mà không bảo thủ luôn cho
mình là đúng; biết lắng nghe và sửa sai; nếu thấy bản thân không phù hợp để đảm
nhận chức vụ nào đó trong lớp hay một công việc được giao thì mạnh dạn đề xuất
để thay đổi, để có một nhiệm vụ mới phù hợp hơn.
- Dũng cảm đối mặt với khó khăn, thử thách: Vượt lên nghịch cảnh gia đình,
vượt qua số phận để phấn đấu học tập; dũng cảm trình bày khó khăn của bản thân
để nhận được giúp đỡ thích hợp từ xã hội, nhà trường, thầy cô, bạn bè; trong học
tập, dám chọn những bài tập khó, nâng cao để thử sức.
Vì vậy việc rèn các kĩ năng, kĩ xảo đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ. So với tuổi mẫu
giáo thì não và thần kinh của học sinh Tiểu học đã có biến đổi to lớn về khối lượng
và chức năng. Sự phát triển của não về cấu tạo và chức năng không đồng đều nên
khả năng kìm chế của các em còn rất yếu, hưng phấn mạnh do đó ở độ tuổi này các
em rất hiếu động.
Hệ thần kinh cấp cao đang dần được hoàn thiện nhưng có sự mất cân đối giữa
tín hiệu tư duy cụ thể và tín hiệu tư duy trừu tượng. Lứa tuổi này hoạt động học tập
là hoạt động chủ đạo, sau đó là hoạt động vui chơi. Hoạt dộng học tập rất quan
trọng và có ý nghĩa to lớn đối với các em. Đây là sự biến đổi lớn trong đời sống đó
là lần đầu tiên được cắp sách đến trường, được tiếp xúc với nhiều thầy cô và bạn bè
mới. Hoạt động học tập là hoạt động hoàn toàn mới, hoạt động chủ đạo, giúp trẻ
hình thành năng lực nhờ đó mà sự phát triển tâm lý nhân cách.
Ngoài hoạt động học tập ở lứa tuổi này còn có hoạt động khác như vui chơi, lao
động. Các hoạt động này có vai trò quan trọng đối với sự phát triển sinh lý của học
sinh Tiểu học.
1.3.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
Nhu cầu nhận thức khám phá thế giới luôn đòi hỏi học sinh phải tìm tòi, sáng
tạo. Mức độ, tính chất và phạm vi hoạt động nhận thức của học sinh tiểu học được
bộc lộ ở các quá trình sau:
17
- Cảm giác: Các quá trình cảm giác về sự vật, hiện tượng bên ngoài có sự phát
triển khá nhanh. Những cảm giác thu được đã trở thành “vật liệu” để trở thành tri
thức mới. Ở độ tuổi này năng lực cảm giác của học sinh còn yếu.
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học phát triển khá nhanh đặc biệt là tri giác
các thuộc tính bên ngoài của sự vận động hiện tượng. Tri giác không chủ định
chiếm ưu thế. Giai đoạn đầu lứa tuổi tri giác của các em còn phiến diện một chiều
chưa đầy đủ và được chi tiết. Càng về cuối độ tuổi tri giác của các em ngày càng
đầy đủ và trọn vẹn hơn. Một số em bộc lộ khả năng quan sát các sự vật hiện tượng
châu Âu và thế giới đều biết tiếng.
Xã hội Pháp từ cuộc cách mạng 1830 đến công xã Pa-ri 1871 đã để lại những
dấu ấn sâu sắc trong lý tưởng thẫm mĩ của nhà viết tiểu thuyết Héc-tô Ma-lô.
1.4.1.2 Đôi nét về sự nghiệp
Trước khi đến với nghề văn, Ma-lô đã tốt nghiệp đại học luật và làm việc cho
một văn phòng luật sư. 25 tuổi, Héc-tô Ma-lô quyết định lên Paris, làm biên tập
cho một tờ nhật báo, sau đó viết tiểu thuyết.
Năm 1859, tác phẩm đầu tay Những người tình (Les Amants) của Héc-tô Ma-lô
được xuất bản đã gây được tiếng vang lớn trên văn đàn Pháp. Trong sự nghiệp của
mình, Héc-tô Ma-lô đã viết trên 70 tác phẩm có giá trị sâu sắc. Hơn một trăm năm
qua, những tác phẩm giàu tính giáo dục và nhân văn của Héc-tô Ma-lô như Romain
Kalbris (1869), Trong gia đình (1893) và đặc biệt là Không gia đình (1878) đã trở
thành người bạn thân thiết của thiếu nhi và nhiều thế hệ độc giả trên khắp thế giới.
Đặc biệt là Không gia đình (Sans Famille, 1878) và Trong gia đình (En Famille,
1893) là hai tác phẩm để lại ấn tuợng nhiều nhất cho các bạn thiếu nhi; được dịch
và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.
1.4.2 Tác phẩm Không gia đình
Không gia đình được xem là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn Héc-tô
Ma-lô. Không gia đình đã giành được giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp và tác
phẩm đã vượt qua biên giới nước Pháp để đến với lứa tuổi thiếu nhi ở khắp năm
châu. Cùng với thời gian Không gia đình luôn hấp dẫn mọi thế hệ tuổi thơ cũng
như người lớn bởi tính nhân văn cao cả, vẻ đẹp lãng mạn và bút pháp tinh tế điêu
luyện.
1.4.2.1 Sơ lược về nội dung tác phẩm
Nhờ ngòi bút tài hoa, tinh tế với những kiến thức sâu sắc và một trái tim nhân
hậu Héc-tô Ma-lô đã tạo ra một tác phẩm tuyệt vời. Tựa đề tiểu thuyết Không gia
đình gợi ra trong lòng người đọc sự buồn bã, cô đơn. Nhưng trong suốt cuộc phiêu
lưu của Rê-mi, ta ít thấy những giây phút cậu đau khổ vì không có bạn. Trái lại,
trong mọi hoàn cảnh, bên cạnh Rêmi luôn là những người tốt, giúp đỡ cậu, yêu
thương cậu. Không gia đình nói lên hoàn cảnh mồ côi của Rê-mi, nhưng cũng bao
bạn tốt, những vị ân nhân đã giúp mình vượt qua những năm tháng gian khổ trước
đây.
1.4.2.2 Giá trị hiện thực
Mỗi nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đều mang những số phận đáng thương, bất
hạnh. Đó là má Bác-bơ-ranh, bác A-canh – những người nông dân cần cù, chăm
chỉ, phúc hậu luôn hi sinh vì gia đình nhưng kém may mắn. Đó là những công
nhân mỏ như A-léc-xơ, cụ giáo già, chú Gát-xpa,… phải làm việc trong điều kiện
khắt nghiệt, thiếu thốn, đe dọa đến tính mạng. Kể cả những con người trí thức,
từng là người chức cao vọng trọng nhưng số phận rủi ro, bất hạnh đã khiến họ phải
20
mưu sinh kiếm sống bằng nhiều nghề… Những người lao động nghèo khổ ấy, bị
đẩy xuống tận cùng của xã hội và bị bỏ rơi, bị chà đạp. Cái chết của cụ Vi-ta-li
chính là một minh chứng tố cáo xã hội lúc bấy giờ. Một xã hội mà con người trở
nên thờ ơ, vô cảm, chạy theo tiền bạc cùng những lợi ích cá nhân mà quên đi
những giá trị tốt đẹp và những số phận cơ hàn cần được giúp đỡ. Bức tranh hiện
thực của tác phẩm đã tố cáo bản chất xấu xa của giai cấp tư sản Pháp lúc bấy giờ.
1.4.2.3 Giá trị nhân đạo
Tuy nhiên, Hec-tô Ma-lô không chỉ kể về những số phận bất hạnh, đáng thương
mà thông qua những nhân vật đó, tác giả muốn đề cập đến những giá trị tốt đẹp của
con người. Đó chính là những tấm lòng nhân đạo và những bài học giáo dục sâu
sắc và tiến bộ phù hợp với thiếu nhi.
Sinh ra không có một gia đình hạnh phúc như những đứa trẻ khác, nhưng Rê-mi
vẫn luôn cảm nhận được tình cảm ấm áp của gia đình nhờ những con người tốt
bụng mà em yêu thương và trân trọng. Má Bác-bơ-ranh – người mẹ nghèo, không
con nhưng sẵn sàng nhận nuôi và dạy dỗ Rê-mi, dành những tình cảm tốt đẹp nhất
cho Rê-mi như chính con ruột của mình. Cụ Vi-ta-li yêu quý bé Rê-mi. Cụ đã sẵn
sàng chống lại viên cảnh sát ở Tu-lu-dơ để bảo vệ em khi bị gã này đánh. Không
chỉ vậy, cụ còn dạy Rê-mi học chữ để đọc sách, dạy em học đàn để có nghề nuôi