HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
------------------------
PHẠM HỒ ĐIỆP
ph¸t triÓn doanh nghiÖp nhá vµ võa
trªn ®Þa bµn thµnh phè H¶i Phßng
trong giai ®o¹n hiÖn nay
Chuyên ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI VĂN HUYỀN
HÀ NỘI - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, tư liệu trong luận văn là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Phạm Hồ Điệp
53
bàn thành phố
2.3. Đánh giá chung về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
58
65
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
84
3.1. Phương hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
thành phố Hải Phòng
3.2. Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
3.3. Kiến nghị
84
88
110
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
114
116
Công ty trách nhiệm hữu hạn
5
DN
Doanh nghiệp
6
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
7
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
8
DNNVV
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
9
ĐKKD
Quản lý nhà nước
15
SBA
Small Business Administration
16
SMEFP
Small & Medium Enterprise Finance Program
17
SXKD
Sản xuất kinh doanh
18
UBND
Ủy ban nhân dân
19
VCCI
Một số tiêu chí xác định DN nhỏ và vừa đã được áp
dụng ở Việt Nam
Tổng sản phẩm quốc nội theo giá so sánh phân theo
thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2005- 2009
Tổng sản phẩm quốc nội theo giá so sánh phân theo
nhóm ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2005- 2009
Dân số trung bình thành phố Hải Phòng phân theo giới tính
và phân theo thành thị, nông thôn giai đoạn 2000 - 2009
Số doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động trên địa
bàn thành phố Hải Phòng tại thời điểm 31/12 phân theo
quận, huyện
Số doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động trên địa bàn
thành phố Hải Phòng tại thời điểm 31/12 phân theo loại
hình doanh nghiệp
Số doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động trên địa
bàn thành phố Hải Phòng tại thời điểm 31/12 phân theo
ngành kinh tế giai đoạn 2006-2009
Số doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hải
Phòng phân theo quy mô lao động thời điểm 31/12
Số doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hải
Phòng phân theo quy mô nguồn vốn thời điểm 31/12
Trình độ chuyên môn của lao động trong doanh nghiệp
nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2009
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên
địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2004-2009
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2004-2009 (Giá thực tế)
Thuế và các khoản nộp ngân sách của các doanh nghiệp
Bảng 2.15:
Hải Phòng giai đoạn 2004-2009
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện
trong năm trên địa bàn thành phố Hải Phòng chia theo
nguồn vốn giai đoạn 2004-2009
Lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn thành phố Hải Phòng thời điểm 31/12 phân theo
khu vực kinh tế
Thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp
nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn
2004-2009
Biểu đồ 2.1: Số lượng DNNVV và DN lớn trên địa bàn thành phố
Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2009
69
70
71
60
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế của các nước trên thế giới, các doanh nghiệp nhỏ và
vừa (SMEs-Small and medium enterprises) chiếm tới hơn 90% số lượng các
tre, mây... đặc biệt có khu rừng nguyên sinh Cát Bà với thảm thực vật đa dạng
và phong phú, trong đó có nhiều loại thảo mộc quí hiếm. Thú quí trên đảo có
khỉ mặt đỏ, khỉ mặt vàng, sơn dương, hoẵng, rái cá, sóc đuôi đỏ, sóc bụng đỏ,
mèo rừng, nhím..., đặc biệt là khỉ voọc đầu trắng sống từng đàn, là loại thú
quí hiếm trên thế giới chỉ mới thấy ở Cát Bà. Về ranh giới hành chính thì Hải
Phòng phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam
giáp tỉnh Thái Bình, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh. Hải Phòng nằm ở vị trí
giao thông thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua hệ thống giao
thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng không.
Chính vì thế, Hải Phòng là một trong bốn trọng điểm kinh tế - công nghiệp lớn
nhất của cả nước, đầu mối quan trọng giao thương kinh tế quốc tế, cửa ngõ ra
vào của không chỉ các DN Hải Phòng mà cả khối DN các địa phương.
Với những lợi thế và thế mạnh như vậy, kinh tế thành phố Hải Phòng đã phát
triển nhanh trong thời gian dài, tốc độ tăng GDP bình quân 8 năm 2000 - 2007 đạt
11,17%, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1.300 triệu USD, tổng nguồn vốn đầu
tư khoảng 20.000 tỷ đồng, sản lượng hàng hoá thông qua cảng đạt 20 triệu
tấn, thu ngân sách nội địa trên 4.863 tỷ đồng; thu hút trên 2,2 triệu lượt khách
du lịch, tỷ lệ tăng dân số ở mức dưới 1%; giải quyết việc làm cho khoảng 4,2
vạn lượt người lao động; tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5,5%; tỷ lệ nhân dân nông
thôn được cấp nước sạch đạt 91-92%; tỷ lệ chất thải đô thị được thu gom và
quản lý hợp vệ sinh trên 90%. Có được những kết quả trên, có phần đóng góp
không nhỏ của các DNNVV. Hoạt động trên khắp các lĩnh vực kinh tế, các
DNNVV ở Hải Phòng đã phát huy được lợi thế, tiềm năng sẵn có như năng
lực vốn, công nghệ và quản lý. Sản xuất kinh doanh phát triển, các DN đã tạo
việc làm cho hàng vạn lao động, tỉ lệ đóng góp vào thu ngân sách và GDP
không nhỏ. Năm 2007, DNNVV chiếm trên 95% tổng số 4.460 DN đang hoạt
động tại Hải Phòng, đóng góp trên 51% GDP và giải quyết trên 106 nghìn lao
3
4
-Chiến lược cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
hiện nay, TS. Phạm Thuý Hồng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2004).
Cuốn sách hệ thống hoá vấn đề lý luận phát triển chiến lược cạnh tranh của
doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế;
thực trạng phát triển chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; một số giải pháp và kiến
nghị nhằm phát triển chiến lược cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
-Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Việt Nam đến năm 2005, PGS. TS. Nguyễn Cúc, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia (2004). Cuốn sách nêu lên quan điểm của Đảng và nhà nước về
chính sách hỗ trợ phát triển, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta.
-Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam, Nguyễn Hải Hữu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
(1995). Cuốn sách trình bày vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ, về quá
trình hình thành, phát triển và quản lý các doanh nghiệp ở Việt Nam, những
kinh nghiệm quốc tế áp dụng ở Việt Nam.
-Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội
nhập quốc tế, Phạm Văn Hồng, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế
Quốc dân Hà Nội (2007). Luận án nghiên cứu phát triển DNNVV ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
-Tác động của các chính sách điều tiết vĩ mô của Chính phủ đến sự phát
triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, Trần Thị Vân Hoa, Luận án
Tiến sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2003).
-Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam, Nguyễn Minh Tuấn, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc
dân (2008).
-Quá trình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ở
-Nâng cao hiệu quả dịch vụ hỗ trợ phát triển cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ từ nguồn tài trợ nước ngoài, Nguyễn Thị Thu Huyền, Luận văn Thạc
sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2007).
-Quản lý các dự án ODA nhằm xúc tiến phát triển doanh nghiệp vừa và
6
nhỏ tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nguyễn Khắc Huy, Luận văn Thạc sỹ kinh tế,
Đại học Kinh tế Quốc dân (2008).
-Kinh nghiệm lựa chọn chính sách hỗ trợ phát triển của doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Đài Loan và khả năng vận dụng vào VN, Phạm Văn Hồng,
Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (1999).
-Giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại nhằm hỗ trợ Doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam,
Phan Hồng Giang, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2002).
-Quá trình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Hải Phòng từ
1990 đến nay: Thực trạng và Giải pháp, Hà Văn Thuỷ, Luận văn Thạc sỹ
kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2006).
-Quá trình phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực ngoài quốc
doanh ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000: Thực trạng và giải pháp, Lê
Tâm Minh, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2003).
-Mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng, Bùi Trọng Nghĩa, Luận văn Thạc sỹ
kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008).
-Phát triển dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi
nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Hải Phòng, Luận văn Thạc sỹ
kinh tế, Phan Văn Hưng, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008).
-Giải pháp tài chính - tín dụng nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Vũ Thị Xuân, Luận văn Thạc sỹ kinh
tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2001) .
bàn thành phố Hải Phòng.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn thành
phố Hải Phòng để thấy được những thành công, hạn chế của phát triển
DNNVV, đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó.
+ Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển
DNNVV trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Kiến nghị với Trung ương một số
nội dung cụ thể về phát triển DNNVV.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
8
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nội dung phát triển DNNVV
trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu DNNVV trên địa bàn thành
phố Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp hệ thống: Thông tin về DNNVV được thu thập từ nhiều
tài liệu khác nhau nhờ hệ thống hoá sẽ có cách nhìn toàn diện về DNNVV,
thấy được mối quan hệ hữu cơ đối với các thành tố khác của nền kinh tế.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân chia các DNNVV theo quận,
huyện, thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp, ngành kinh doanh…từ đó
tìm ra được quy luật vận động của quá trình phát triển DNNVV.
+ Một số phương pháp khác như: thống kê, điều tra mẫu, lấy ý kiến
chuyên gia…
6. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Rút ra bài học cho Hải Phòng từ việc tổng kết kinh nghiệm phát triển
DNNVV của một số tỉnh thành phố ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn thành
Nhóm các tiêu chí định tính được xây dựng dựa trên các đặc trưng cơ
bản của các DNNVV như trình độ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý
ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp... Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh
đúng bản chất của vấn đề nhưng trên thực tế thường khó xác định. Vì thế,
chúng chỉ được sử dụng để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng trong
thực tế để xác định quy mô DN.
Nhóm các tiêu chí định lượng được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như
số lao động bình quân, tổng tài sản (hay tổng nguồn vốn), doanh thu hoặc lợi
nhuận của DN. Nhóm tiêu chí này mỗi nước sử dụng hoàn toàn không giống
nhau, có thể căn cứ vào cả lao động, vốn, doanh thu cũng có thể chỉ căn cứ
vào số lao động hoặc vốn kinh doanh.
10
Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định
quy mô DN. Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa
các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định.
Các nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV.
Các tiêu chí đó thường không cố định mà thay đổi tuỳ theo ngành nghề và
trình độ phát triển trong từng thời kỳ.
Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNNVV giữa các nước là việc
lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy mô DN và lượng hoá các tiêu chí ấy thông
qua những tiêu chuẩn cụ thể. Một số tiêu chí chung, phổ biến nhất thường
được sử dụng trên thế giới là: Số lao động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh
thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng.
Tiêu chí về số lao động và vốn phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu
vào, còn tiêu chí về doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá quy
mô theo kết quả đầu ra. Mỗi tiêu chí có những mặt tích cực và hạn chế riêng.
Như vậy, để phân loại DNNVV có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc các yếu
tố đầu ra của DN, hoặc là sự kết hợp của cả hai loại yếu tố đó.
Nguồn: SME definition, www. modcontractsuk. com
- Tại Mỹ: DN được coi là DNNVV nếu có tổng giá trị tài sản dưới 5
triệu USD, lợi nhuận hàng năm dưới 2 triệu USD (trong tất cả các lĩnh vực
sản xuất, dịch vụ và thương mại). Bên cạnh đó, tiêu chí lao động để phân loại
quy mô DNNVV còn có sự khác biệt giữa các ngành. Cục Quản lý doanh
11
nghiệp nhỏ (SBA) Mỹ xác định DNNVV là "một đơn vị kinh doanh có ít hơn
500 lao động".
+ Trong ngành sản xuất công nghiệp: DN có từ 250 lao động trở xuống
được gọi là DN nhỏ.
+ Trong ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại bán lẻ: DN có dưới
100 lao động thì được coi là nhỏ; từ 100-1.000 lao động được coi là vừa; từ
1.000 lao động trở lên được coi là lớn và rất lớn.
- Tại Nhật Bản: Luật cơ bản về DNNVV đã được sửa đổi (ban hành
ngày 3/12/1999) với nội dung thay đổi chủ yếu là tăng giới hạn vốn tối đa cho
các DNNVV trong từng lĩnh vực.
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn DNNVV của Nhật Bản
Ngành
1. Sản xuất
2. Thương mại, dịch vụ (bán buôn)
3. Thương mại, dịch vụ (bán lẻ)
Số lao động tối đa
(Người)
300
100
50
DN nhỏ là những DN có từ 50-100 lao động thường xuyên và DN vừa là
những DN có sử dụng từ 101 tới 500 lao động.
- Tại Thái Lan: Thái Lan không có định nghĩa chính thức về DNNVV.
Các cơ quan Chính phủ khác nhau của Thái Lan sử dụng những tiêu chí khác
nhau như doanh thu, tài sản cố định, số lao động và vốn đăng ký để định
nghĩa DNNVV.
Bảng 1.3: Tiêu chuẩn về DNNVV theo giá trị tổng tài sản ở Thái Lan
Đơn vị tính:Triệu baht
Ngành
DN vừa
DN nhỏ
1. Sản xuất
Dưới 200
Dưới 50
2. Thương mại dịch vụ
Dưới 200
Dưới 50
3. Bán buôn
Dưới 100
trị tài sản cố định; In-đô-nê-xi-a lấy tiêu thức vốn bình quân cho một lao động.
1.1.1.2. Khái niệm và tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
Việt Nam
Ở Việt Nam, trước đây do chưa có tiêu chí chung thống nhất xác định
DNNVV nên một số cơ quan nhà nước, tổ chức hỗ trợ DNNVV đã đưa ra tiêu
thức riêng để xác định DNNVV phục vụ công tác của mình. Năm 1998, Thủ
tướng Chính phủ có Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 quy định tiêu
chí tạm thời về DNNVV. Theo Công văn này, các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ
đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người là các DNNVV.
Tuy nhiên, các tiêu chí xác định trong công văn 681/CP-KTN chỉ là quy ước
hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV , là cơ sở để các cơ
quan nhà nước, các tổ chức chính thức của nhà nước thực thi chính sách đối
với khu vực DNNVV. Việc các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính
không có chức năng thực thi các các chính sách Nhà nước đối với DNNVV áp
dụng các tiêu chí khác nhau là được, vì các cơ quan đó có mục tiêu, đối tượng
hỗ trợ khác nhau. Việc đưa ra các tiêu thức xác định DNNVV mới chỉ có tính
ước lệ, bản thân các tiêu chí đó chưa đủ xác định thế nào là khu vực DNNVV
14
ở Việt Nam, bởi vì có rất nhiều các quan điểm khác nhau về việc các đối
tượng, các chủ thể kinh doanh được coi là thuộc về hoặc không thuộc về khu
vực DNNVV. Do đó, mỗi một tổ chức đưa ra một quan niệm khác nhau về
DNNVV nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ hoạt động của tổ
chức mình.
Từ những phân tích khái niệm chung về DNVNN, các tiêu chí và giới
hạn tiêu chí, tiêu chí được sử dụng trong phân loại DNNVV trên thế giới
kết hợp với điều kiện cụ thể, những đặc điểm riêng biệt về quan điểm phát
triển kinh tế nhiều thành phần và các chính sách, quy định phát triển kinh
tế của nước ta, khái niệm DNNVV được quy định rõ trong Nghị định số
mô của DN. Trong khi đó, chỉ tiêu doanh số cho thấy chính xác hơn quy
mô DN, về thực trạng hoạt động kinh doanh của các DN thay vì chỉ là các
DN có đăng ký. Luận văn cho rằng chỉ tiêu doanh số hàng năm của các DN
sẽ phản ánh chính xác hơn quy mô của DN trong từng giai đoạn thay vì tiêu
chí vốn đăng ký.
Mặt khác, ở góc độ thống kê về DNNVV, việc sử dụng cả hai chỉ tiêu
lao động và vốn đăng ký đã tạo ra sự khác biệt đáng kể về số liệu thống kê
các DNNVV. Theo tiêu chí lao động, khoảng 95,8% các DN Việt Nam là
DNNVV. Trong khi đó nếu theo số vốn đăng ký kinh doanh thì chỉ có
87,5% là các DNNVV. Như vậy đã tạo ra sự khác biệt về số liệu thống kê
các DNNVV theo từng tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, không phải vì thế mà
chỉ sử dụng một chỉ tiêu lao động hoặc một chỉ tiêu vốn đăng ký/doanh số
để xác định DNNVV. Việc sử dụng cả hai tiêu chí lao động và vốn/doanh
thu sẽ khuyến khích các DN vừa sử dụng nhiều lao động lại vừa tập trung
tích tụ vốn để phát triển. Sử dụng một tiêu chí lao động để xác định
DNNVV, đồng nghĩa với việc tất cả các DN dù có vốn kinh doanh/doanh số
lớn hay nhỏ đều được hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ dành cho
các DNNVV. Điều đó sẽ không hạn chế các DN đầu tư vốn lớn kinh doanh
trong lúc vẫn muốn hưởng ưu đãi từ các chính sách dành cho DNNVV.
Tương tự như vậy, nếu sử dụng tiêu chí vốn kinh doanh/doanh số thì các
16
DN sử dụng nhiều lao động cũng vẫn được hưởng lợi từ các chính sách
phát triển DNNVV. Vì vậy, việc xác định DNNVV cần dựa trên cả hai tiêu
chí là doanh số và số lao động thường xuyên trung bình hàng năm của các
DN.
Bảng 1.4: Một số tiêu chí xác định DN nhỏ và vừa đã được áp dụng
ở Việt Nam
Cơ quan, tổ chức đưa ra
Dưới 500 người
Dưới 1 tỷ
đồng/năm
Quỹ hỗ trợ DNNVV Vốn điều lệ từ 50.000 đến
(Chương trình Việt Nam300.000 USD
EU)
Dưới 100 người
Dưới 30 người
Từ 30 đến 500 người
Từ 10 đến 500
người
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.1.2. Đặc điểm của loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các DNNVV là các DN có quy mô vốn nhỏ và hầu hết hoạt động trong
các ngành thương mại, dịch vụ sử dụng nhiều lao động. Cũng như các loại
hình DN khác, DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình
thành và phát triển. Những đặc điểm này sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình phát
triển của DN cũng như cách thức tác động của Nhà nước đối với quá trình
này. So với các DN lớn, DNNVV có những đặc điểm sau:
Một là, DNNVV dễ khởi nghiệp
Phần lớn DNNVV có thể dễ dàng được khởi nghiệp từ khi có ý tưởng.
Hầu hết các DNNVV chỉ cần một lượng vốn ít, số lao động không nhiều, diện
17
18
dao động đột biến trên thị trường. Khả năng di chuyển vốn tương đối dễ dàng từ
ngành, vùng này sang ngành, vùng khác cùng với mục tiêu hiệu quả kinh tế là cơ
sở của tính nhạy bén, linh hoạt, thích ứng nhanh của DNNVV với sự biến động
của thị trường, thậm chí đối với các loại hình đầu tư mạo hiểm.
- Trên góc độ thương mại, nhờ tính năng động này mà các DNNVV dễ
dàng tìm kiếm những thị trường ngách và gia nhập thị trường này khi thấy
việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi các thị trường này
khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả. Điều này đặc
biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc các nền kinh tế
đang phát triển.
Ba là, DNNVV có lợi thế sử dụng lao động
DNNVV cũng có thể hoạt động trong điều kiện phân tán nhỏ lẻ, tận
dụng các yếu tố đầu vào thông qua việc thuê nhân công và sử dụng nguyên
vật liệu tại chỗ, qua đó giảm chi phí vận chuyển. Nó thay thế các DN lớn khi
điều kiện hạ tầng kỹ thuật không cho phép. DNNVVcó thể phân bố ở cả
những vùng nông thôn tận dụng nguồn lao động sẵn có của địa phương, giúp
giải quyết việc làm tại chỗ
Bốn là, DNNVV vốn ít, thiếu nguồn lực
- DNNVV thiếu các nguồn lực để thực hiện những ý tưởng kinh doanh
lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng. Nhiều DNNVV bị
phụ thuộc nhiều vào DN lớn trong quá trình phát triển như về thương hiệu, thị
trường, công nghệ, tài chính…Hạn chế về nguồn lực tài chính cũng gây khó
khăn cho tích luỹ cũng như huy động vốn để duy trì, phát triển mở rộng sản
xuất, kinh doanh, của loại hình DN này.
- DNNVV không có các lợi thế kinh tế theo quy mô và ở một số nước thì
loại hình DN này thường bị yếu thế trong các mối quan hệ với ngân hàng với
Chính phủ và giới báo chí cũng như thiếu sự ủng hộ của đông đảo công
chúng. Đây là vấn đề đã tồn đọng từ nhiều năm nay, để giải quyết cần tới nỗ
yếu của các DNNVV được hình thành và hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân.
Tính đa dạng về hình thức sở hữu, thành phần kinh tế cũng như hình thức tổ
chức, quản lý, hoạt động và chế độ phân phối trong các DNNVV là cơ sở