TƯ TƯỞNG CỦA LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN CÁCH MẠNG
TRONG TÁC PHẨM "LÀM GÌ". Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM .
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chủ nghóa tư bản phát triển tương
đối ổn đònh và hòa bình. Phong trào công nhân phát triển về bề rộng và
có xu hướng thiên về đấu tranh nghò trường. Lúc này nhiều chính đảng
của giai cấp công nhân được thành lập như ở Đức, Pháp, Mỹ, Anh… Giai
cấp tư sản đã lợi dụng điều kiện cùng tồn tại hòa bình với giai cấp công
nhân để tìm cách lũng đoạn phong trào công nhân, làm cho chủ nghóa cơ
hội xuất hiện và phát triển nhanh chóng. Tháng 7/1889 Quốc tế II được
thành lập, khi Ăngghen còn sống nội bộ Quốc tế II ổn đònh và kiên quyết
đấu tranh chống xu hướng cải lương, thỏa hiệp, cơ hội… Năm 1895
Ăngghen mất, bọn cơ hội xét lại trong Quốc tế II ngóc đầu dậy chống chủ
nghóa Mác, mưu toan biến các đảng dân chủ xã hội ở Tây âu thành các
đảng cơ hội, cải lương. Đồng thời làm cho phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế bò phân hóa thành các trào lưu tư tưởng khác nhau.
Vào thời kỳ này, cùng với sự phát triển của chủ nghóa tư bản, giai
cấp công nhân Nga cũng phát triển, trong 25 năm (1865-1890) chỉ tính
trong các xí nghiệp đại công nghiệp, số lượng công nhân tăng lên nhanh
chóng, từ 7 vạn tăng lên gần 1,5 triệu. Sang đầu thế kỷ XX số lượng công
nhân tăng lên gần 3 triệu người. Dưới ách thống trò tàn bạo của chế độ
Nga hoàng, công nhân và nông dân Nga không được hưởng một chút
quyền tự do chính trò nào. Từ những năm 70 và nhất là từ những năm 80
của thế kỷ XIX, công nhân Nga bắt đầu thức tỉnh và đấu tranh chống bọn
tư bản. Các tổ chức đầu tiên của công nhân Nga được thành lập, Năm
1875 "Hội liên hiệp công nhân miền Nam Nga" thành lập ở Ôđétxa; năm
1878 "Hội liên hiệp công nhân miền Bắc Nga" thành lập ở Pêtécbua,
nhưng đều bò Nga hoàng đàn áp và tan rã. Mặc dù vậy, phong trào công
đó. Năm 1895, Lênin hợp nhất các tổ chức của công nhân ở Pêtécbua
thành Hội liên hiệp chiến đấu giải phóng giai cấp công nhân Pêtécbua.
Song tổ chức này bò chính quyền Nga hoàng khủng bố, Lênin và các bạn
chiến đấu của Người bò bắt. Khi Lênin bò bắt, thì trong thành phần của
ban lãnh Hội có sự thay đổi lớn, một số nhân vật tự nhận là “thanh niên”
còn Lênin và các bạn chiến đấu của Người là “già” họ chủ trương: công
nhân chỉ nên đấu tranh về kinh tế chống lại bọn chủ, còn đấu tranh chính
trò là công việc của giai cấp tư sản tự do và quyền lãnh đạo cuộc đấu
tranh chính trò nên để cho giai cấp tư sản tự do. Đó là phái “kinh tế", bao
gồm bọn cơ hội, thỏa hiệp đầu tiên trong hàng ngũ các tổ chức mácxít ở
Nga. Lênin coi luận điệu của phái "Kinh tế" là phản lại chủ nghóa Mác; là
phủ nhận sự cần thiết phải thành lập một chính đảng của giai cấp công
nhân; là mưu mô muốn biến giai cấp công nhân thành vật phụ thuộc về
chính trò của giai cấp tư sản . Lênin cho rằng, phái "Kinh tế" là trung tâm
của chính sách thỏa hiệp và chủ nghóa cơ hội; rằng, trong phong trào công
nhân, nếu phái ấy thắng tức là phong trào cách mạng tan rã và chủ nghóa
Mác thất bại. Do đó, muốn thành lập được chính đảng của giai cấp vô sản
phải đánh bại phái "Kinh tế".
Mùa xuân năm 1898 một số nhóm mácxít đã nhóm họp ở Minxcơ,
tiến hành đại hội lần thứ nhất tuyên bố thành lập Đảng công nhân dân
chủ - xã hội Nga, bầu ban chấp hành Trung ương. Nhưng Đại hội chưa
thông qua được cương lónh và điều lệ. Đại hội vừa kết thúc thì toàn bộ
Ban chấp hành Trung ương đã bò bắt. Do đó, trên thực tế Đảng vẫn chưa
hình thành. Đại hội I của Đảng không thành đã làm cho các tổ chức
mácxít và phong trào công nhân Nga rơi vào tình trạng dao động về tư
tưởng, phân tán về tổ chức. Tình hình càng trở nên nghiêm trọng khi phái
"Kinh tế" lợi dụng các cơ quan ngôn luận để tuyên truyền những quan
điểm cơ hội, xét lại. Vấn đề cấp thiết là phải thành lập một đảng tập
bá hệ tư tưởng xã hội chủ nghóa vào phong trào công nhân.
Chương III: Chính trò công liên chủ nghóa và chính trò dân chủ-xã
hội: Lênin phê phán sự sùng bái tính tự phát đã đẩy phái “kinh tế” tới
chỗ không những hạ thấp vai trò của lý luận cách mạng mà còn hạ thấp
mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân xuống
trình độ công liên chủ nghóa.
Lênin đã vạch rõ sự khác nhau căn bản về mục tiêu, nhiệm vụ
chính trò giữa đảng dân chủ – xã hội với phái “kinh tế” là ở chỗ: Không
phải đấu tranh đòi những cải cách dân sinh, dân chủ trong khuôn khổ của
chủ nghóa tư bản mà phải lật đổ chủ nghóa tư bản, thiết lập chuyên chính
vô sản tiến tới xã hội chủ nghóa và cộng sản chủ nghóa. Quy mô, tính chất
của đấu tranh giai cấp là đấu tranh chính trò, không chỉ đơn thuần là đấu
tranh kinh tế. Yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh chính trò là xoá bỏ tận gốc ách
áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, xoá bỏ chế độ tư hữu, thiết lập quyền
chính trò của giai cấp công nhân, xây dựng chế độ công hữu.
Chương IV: Lối làm việc thủ công nghiệp của phái "Kinh tế" và tổ
chức của những người cách mạng: Lênin tập trung vạch trần bản chất cơ
hội, cải lương của phái "Kinh tế" trên lónh vực tổ chức và chỉ rõ giai cấp
công nhân Nga cần phải có một Đảng tập trung thống nhất.
Chương V: Kế hoạch xây dựng một tờ báo chính trò của toàn nước
Nga: Lênin chỉ ra khâu quyết đònh nhất, mắt xích quan trọng nhất để
thành lập đảng là phải ra được một tờ báo chính trò bất hợp pháp của toàn
nước Nga.
Tờ báo sẽ có vai trò thống nhất các quan điểm chính trò, quy tụ
đoàn kết các lực lượng, biến phong trào đấu tranh cục bộ, đòa phương, tự
phát thành một phong trào thống nhất cả ý chí và hành động trên toàn
quần chúng càng tăng lên và phong trào càng mở rộng thì sự cần thiết có
một ý thức cao trong công tác lý luận, chính trò và tổ chức của đảng dân chủ
– xã hội càng phải tăng lên vô cùng nhanh chóng hơn" 2. Bởi vì, phong trào
công nhân tự bản thân nó bao giờ cũng mang tính tự phát. Phong trào đấu
tranh tự phát đó không vượt qua được giới hạn cao nhất của nó là chủ nghóa
công đoàn. Cuộc đấu tranh của công đoàn ở các nước tư bản chống lại bọn
chủ và chính phủ là một cuộc đấu tranh chỉ cốt là để cải thiện điều kiện bán
sức lao động của công nhân cho bọn tư bản mà thôi. Trong khi đó lợi ích của
giai cấp công nhân không những là đấu tranh để đòi cải thiện đời sống mà
còn là để thủ tiêu chủ nghóa tư bản. Lênin đã phân tích sâu sắc vai trò của lý
luận, kiên quyết phê phán khuynh hướng tư tưởng sùng bái tính tự phát của
công nhân, phê phán chủ nghóa kinh tế; đồng thời khẳng đònh " Không có lý
luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng" 3. Ông chỉ rõ:
Lý luận cách mạng ở đây là lý luận của chủ nghóa Mác, đây là lý luận
mang bản chất cách mạng và khoa học, là kết quả của sự phát triển
những tư tưởng tiên tiến của nhân loại cùng với trí tuệ thiên tài và công
lao to lớn của Mác và Ăngghen. Trong đó triết học Đức đóng vai trò mở
đường: "Nếu không có triết học Đức mở đường, đặc biệt là nếu không có
triết học Hê-ghen, thì chủ nghóa xã hội khoa học Đức, chủ nghóa xã hội
khoa học duy nhất, chưa hề có từ trước tới nay, sẽ không bao giờ được xây
2
3
Sách đã dẫn, tr.67.
Sách đã dẫn, tr.30.
dựng nên"4. Lênin cũng chỉ rõ vai trò, vò trí của chủ nghóa xã hội không
tưởng: "Cũng giống như chủ nghóa xã hội, lý luận Đức sẽ không bao giờ
quên rằng nó đã dựa được vào Xanh-Xi-mông, Phu-ri-ê và Ô-oen là ba
Mác – Lênin rất vững mạnh, một bộ phận kiên cường của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Ngay trong quy luật ra đời của Đảng đã
thể hiện rõ: Đảng cộng sản Việt nam là kết quả của sự kết hợp chủ nghóa
Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
Cách mạng xã hội chủ nghóa ở nước ta đang trải qua những bước
đầu tiên. Trong lãnh đạo, Đảng ta đã có nhiều cố gắng tìm tòi, xây dựng
đường lối, xác đònh đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghóa,
nhưng do còn có sự lạc hậu về lý luận nên Đảng cũng phạm phải nhiều
sai lầm. Đại hội VI của Đảng đã khẳng đònh sự lạc hậu về lý luận là
“nguyên nhân của mọi nguyên nhân” kìm hãm sự phát triển của đất
nước. Trong những năm qua, nhất là từ sau Đại hội VI, công tác lý luận
của đảng ta đã có những thành tựu và bước trưởng thành nhất đònh, tạo
nên những tiến bộ mới về tư duy lý luận và sự lãnh đạo của Đảng. Công
tác lý luận đã góp phần tích cực vào qúa trình đổi mới tư duy, nhất là tư
duy kinh tế, đề xuất cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng đề ra nhiều chủ
trương, chính sách về cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, đổi mới tổ chức và
phương thức hoạt động của hệ thống chính trò. Bước đầu công tác lý luận
đã hình thành được những quan điểm về sự nghiệp đổi mới và về quá độ
tiến lên chủ nghóa xã hội ở nước ta, đóng góp quan trọng vào việc xây
dựng Cương lónh, Chiến lược của Đảng. Trước những diễn biến phức tạp
của tình hình thế giới, công tác lý luận đã kòp thời khẳng đònh được những
nguyên tắc cơ bản của công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ
nghóa, đònh hướng tư tưởng, bồi dưỡng nhận thức đúng đắn cho đảng viên
và nhân dân, góp phần xây dựng sự nhất trí trong Đảng, giữ vững sự ổn
đònh về chính trò và tư tưởng, phê phán những quan điểm lệch lạc trong
Đảng và trong xã hội. Những kết qủa nghiên cứu lý luận đó đã tạo cơ sở
quan trọng để giáo dục chủ nghóa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng, ý thức xã hội chủ nghóa, lòng yêu nước, nâng cao