i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài“Công tác quản lý Nhà nước đối với các KCN ở Vĩnh
Phúc:Thực trạng và giải pháp”là công trình nghiên cứu của chính bản than tôi, được
sự hướng dẫn của PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Loan. Các số liệu và kết quả nghiên
cứu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng ở bất kỳ đề tài
nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, tháng 03 năm 2013
Người cam đoan
Dương Trung Dũng
ii
MỤC LỤC
BẢNG 3.1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CÁC KCN (PHƯƠNG ÁN I) 46..................................III
BẢNG 3.2: DỰ BÁO PHÁT TRIỂN CÁC KCN 49......................................................................................III
ĐỒ THỊ 2.1 CHI PHÍ GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC ERROR: REFERENCE
SOURCE NOT FOUND.....................................................................................................................................IV
ĐỒ THỊ 2.2 CHI PHÍ VÀ THỜI GIAN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC
ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND.........................................................................................IV
ĐỒ THỊ 2.3 CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO TRÌNH ĐỘ ERROR: REFERENCE SOURCE NOT
FOUND.................................................................................................................................................................IV
ĐỒ THỊ 2.1 CHI PHÍ GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC ERROR: REFERENCE
SOURCE NOT FOUND IV II...........................................................................................................................20
ĐỒ THỊ 2.2 CHI PHÍ VÀ THỜI GIAN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC
ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND IV II...............................................................................20
ĐỒ THỊ 2.3 CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO TRÌNH ĐỘ ERROR: REFERENCE SOURCE NOT
FOUND IV II........................................................................................................................................................20
BẢNG 3.1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CÁC KCN (PHƯƠNG ÁN I) 46 III.............................20
BẢNG 3.2: DỰ BÁO PHÁT TRIỂN CÁC KCN 49 III.................................................................................20
CCN
: Cụm công nghiệp
CN
: Công nghiệp
CNĐT
: Chứng nhận đầu tư
CNH
: Công nghiệp hoá
CNKT
: Công nhân kỹ thuật
DN
: Doanh nghiệp
DV
: Dịch vụ
KCN
XD
: Xây dựng
QLNN
: Quản lý Nhà nước
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, mỗi quốc gia phải không
ngừng đổi mới, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của mình nhằm theo kịp và chủ
động hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Xuất phát từ nền kinh tế lạc hậu, kém phát
triển, để có thể theo kịp sự phát triển của nền kinh tế thế giới, đạt được mục tiêu xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải
có chiến lược phát triển kinh tế phù hợp, thực hiện từng bước CNH-HĐH đất nước
một cách vững chắc và có tầm nhìn lâu dài.
Văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII đã xác định “quy hoạch
các vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm, các Khu chế xuất, Khu kinh tế đặc
biệt, Khu công nghiệp tập trung”. Tiếp theo, đến Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII
năm 1996 đã xác định rõ: “Hình thành các Khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả
KCX, KCNC) tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới.
Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã, nâng
cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô
nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen lẫn
khu dân cư”. Hội nghị lần 4 của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã xác định
hướng phát triển Khu công nghiệp trong thời gian tới là “Phát triển từng bước và
Để góp phần đổi mới hơn nữa về công tác quản lý nhà nước đối với các khu
công nghiệp Vĩnh Phúc, tôi chọn đề tài “Công tác quản lý Nhà nước đối với các
khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc: thực trạng và giải pháp” là đối tượng nghiên cứu
trong Luận văn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung.
Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ thực trạng của công tác quản lý Nhà nước đối
với các khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc và đề xuất giải pháp đổi mới nhằm hoàn thiện
công tác quản lý Nhà nước góp phần vào sự phát triển của các khu công nghiệp ở
Vĩnh Phúc trong những năm tới.
Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quản lý
Nhà nước ở KCN.
3
Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đối với các KCN ở Vĩnh Phúc.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và các thuận lợi khó khăn trong công tác
QLNN đối với các KCN ở Vĩnh Phúc.
Đề xuất phương hướng và giải pháp đổi mới quản lý Nhà nước đối với các
KCN ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới.
Đóng góp của đề tài
Bổ sung các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối
với KCN.
Tổng kết một số mặt quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc đối
với KCN ở Vĩnh Phúc.
Đưa ra một số giải pháp về quản lý nhà nước để góp phần cho sự phát triển
nhanh hiệu quả và bền vững đối với các KCN.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN được nêu tại
Khoản 2&3, Điều 2 như sau: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản
xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh
giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thì KCN là khu
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về KCN, nhưng khái quát lại, có thể
hiểu KCN theo 2 cách:
Thứ nhất, KCN là một lãnh thổ xác định được xây dựng cơ sở hạ tầng và
pháp lý phù hợp với sản xuất CN. Trong KCN có thể xây dựng thêm các DN dịch
vụ, nhất là dịch vụ sản xuất CN, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí phục vụ người
lao động, khu thương mại, văn phòng, nhà ở cho công nhân... Về thực chất, đây là
khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Batam (Indonesia), công viên CN ở
5
ĐàiLoan, Thái Lan và một số nước Tây Âu, khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất ở
Việt Nam.
Thứ hai, KCN là lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các DN CN, DN
dịch vụ sản xuất CN, không có dân cư sinh sống. Mô hình này được xây dựng ở
một số nước như Malaisia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam.
Dù theo hình thức nào, KCN đều là một lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định,
có những điều kiện tương xứng với phát triển CN về tự nhiên, cơ sở hạ tầng, quản
lý nhà nước, tập trung các DN sản xuất CN, các DN dịch vụ có liên quan đến hoạt
động CN.
1.1.2. Đặc điểm của các KCN
Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết ở tất cả các quốc gia, đặc biệt
là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về qui mô, địa điểm và phương
thậm chí cho nó một cơ chế quản lý và chế độ ưu đãi riêng để khuyến khích các chủ
đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất CN ở đây.
Thứ hai, KCN tạo không gian áp dụng chính sách ưu tiên cho phát triển CN.
Thực tế cho thấy, áp dụng cùng một lúc nhiều chính sách mới ở diện rộng là hết sức
khó khăn, trong nhiều trường hợp Nhà nước không đủ nguồn lực hoặc chưa chuẩn
bị đủ tiền đề do đó, KCN là nơi thích hợp để thí điểm những chính sách kinh tế mới,
đặc biệt là chính sách về thuế, đầu tư và đất đai.
KCN được hình thành với những điều kiện địa lý, mặt bằng, giao thông…
thuận lợi, với những ưu đãi về giá thuê đất, về các chính sách linh hoạt và thủ tục
hành chính đơn giản tạo điều kiện để các chủ đầu tư giảm chi phí đầu tư, chi phí sản
xuất và chi phí hành chính khác. Ngoài ra, việc quy tụ các DN vào các KCN sẽ hạn
chế được việc sử dụng lãng phí đất đai, cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi trong
vấn đề xử lý môi trường và quảng bá sản phẩm. Đặc biệt, trong điều kiện nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng còn thiếu, thì việc xây dựng và phát triển các KCN
có vai trò quan trọng trong việc tập trung nguồn vốn hạn hẹp đầu tư vào một số khu
vực trọng điểm có nhiều lợi thế so sánh hơn các khu vực khác trên địa bàn lãnh thổ,
từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
7
Thứ ba, KCN là nơi hấp thu vốn và chuyển giao có hiệu quả những thành
tựu khoa học công nghệ. Do KCN được quy hoạch dựa trên cơ sở khoa học và chiến
lược phát triển lâu dài của nền kinh tế, thường thu hút các DN có quan hệ với nhau
về công nghệ, nên các DN có điều kiện hợp tác, liên kết với nhau trong việc nhập
khẩu, triển khai áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, tận dụng được những lợi thế
của nước đi sau, rút ngắn được khoảng cách về khoa học kỹ thuật với các nước đi
trước. Tập hợp các DN liên kết, hợp tác với nhau sẽ tiết kiệm được chi phí trong
lĩnh vực R&D và quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ tư, KCN hình thành và phát triển là cầu nối hội nhập nền kinh tế quốc
gia vào nền kinh tế thế giới. KCN thường gắn liền với các điều kiện thuận lợi cả về
mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động chung của con người trong xã hội.
Do đó, quản lý Nhà nước là các công việc của Nhà nước, được thực hiện bởi
tất cả các cơ quan Nhà nước, cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện thông qua
hình thức bỏ phiếu hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu
được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước. Quản lý Nhà nước thực
chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy
Nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng
của Chính phủ là hệ thống cơ quan được thành lập để chuyên thực hiện hoạt động
quản lý của Nhà nước.
Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà
nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế
trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh
tế đất nước đặt ra trong các điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước được thực hiện thông qua cả 3 loại cơ
quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp của Nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước được hiểu như hoạt động quản lý có tính
chất Nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)
1.2.1.2 Vai trò quản lý Nhà nước đối với KCN
Thứ nhất, Nhà nước có vai trò phát triển các KCN
theo quy hoạch. Định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đều được hoạch định trong thời
gian dài, do đó việc quản lý các ngành, lĩnh vực kinh tế nói chung và các KCN nói
9
riêng nhằm phát triển theo quy hoạch và định hướng có sẵn là vai trò quan trọng của
công tác Quản lý Nhà nước. Cụ thể, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Thứ năm, quản lý sử dụng đất và tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN.
Với tư cách là người quản lý toàn bộ đất đai, nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia,
Nhà nước cần phải quản lý, phân bổ nguồn lực này một cách hợp lý theo nguyên tắc
thị trường; hình thành và hoàn thiện thị trường đất đai, một yếu tố sản xuất không
thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường.
Thứ sáu, tiếp thị các khu công nghiệp. Việc quảng bá KCN tới các nhà đầu
tư, các doanh nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển khu công nghiệp cần có sự
tham gia của Nhà nước. Có như vậy mới đảm bảo sự yên tâm của các nhà đầu tư khi
tiến hành đầu tư sản xuất tại các khu công nghiệp.
Thứ bảy, tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Đó chính là vai trò chống độc
quyền. Độc quyền là một khuyết tật của kinh tế thị trường, làm cho thị trường hoạt
động kém hiệu quả. Nhà nước phải tìm ra các giải pháp phù hợp để giải quyết tình
trạng độc quyền, bao gồm cả độc quyền tự nhiên cũng như độc quyền tồn tại do
chính sách hạn chế cạnh tranh trong và ngoài nước.
Thứ tám, Nhà nước quản lý và đưa ra chính sách phát triển KCN. Nhà nước
định hướng bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Điều tiết, định hướng các hoạt động của các chủ thể kinh tế thông qua chính sách
thuế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư…
1.2.2 Công cụ quản lý nhà nước đối với KCN
1.2.2.1 Hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật điều chỉnh KCN khá đa dạng, bao phủ mọi mặt hoạt
động của KCN với tư cách một thực thể sống, một bộ phận của nền kinh tế, của xã
hội và chia làm hai loại: quy định pháp lý chung và quy định pháp lý riêng cho
KCN.
* Luật chung: Có thể nêu ra một số luật và văn bản dưới luật sau:
Luật Đầu tư: Chế định hoạt động đầu tư dưới ba hình thức: đầu tư vào cơ sở
hạ tầng KCN; đầu tư vào các dự án mới trong KCN; đầu tư vào các dự án mở rộng
11
Các chính sách ban hành của Nhà nước
Chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước
Nhà nước có thể sử dụng thuế và đầu tư Nhà nước để khuyến khích các nhà
đầu tư lấp đầy KCN. Công cụ thuế được sử dụng phổ biến nhất là miễn, giảm thuế
nhập khấu cho các lô hàng nhập khẩu phục vụ các dự án đầu tư trong KCN và thuế
thu nhập DN. Miễn và giảm thuế thu nhập DN thường được áp dụng cho các khoản
đầu tư mới vào KCN. Tuy nhiên, sử dụng công cụ thuế nhập khẩu thường phức tạp
vì khó kiểm soát mục đích các lô hàng nhập khẩu. Hơn nữa, miễn và giảm hai loại
thuế này thường là chính sách khuyến khích đầu tư chung, được vận dụng cho
KCN.
Công cụ đầu tư Nhà nước thường dùng là tài trợ vốn để đầu tư ban đầu vào
cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN. Có nhiều hình thức tài trợ như tài trợ toàn bộ, tài
trợ một phần, tài trợ bằng cấp vốn ngân sách, tài trợ bằng vaytín dụng ưu đãi…Nhà
nước thường sử dụng đầu tư nhà nước để đẩy nhanh tiến độ xây dựng KCN. Dễ
thực hiện hơn cả là Nhà nước khuyếnkhích đầu tư vào KCN bằng cách cung cấp
dịch vụ hành chính công với giá rẻ, thuận tiện, đồng thời tích cực cùng nhà đầu tư
tháo gỡ khó khăn. Đây là công cụ khả thi và có hiệu quả cao của Nhà nước. Bằng
cách tập trung các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động của các chủ đầu tư,
dự án và DN trong KCN vào một đầu mối, tập trung tháo gỡ các ách tắc do tệ quan
liêu trong quản lý hành chính của bộ máy quản lý nhà nước và công chức liên quan
đến KCN, hỗ trợ nhà đầu tư khi họ gặp khó khăn, tạo không khí thân thiện giữa cơ
quan quản lý nhà nước, công chức và nhà đầu tư, Nhà nước có thể khuyến khích rất
hiệu quả các nhà đầu tư vào các KCN. Nhiều nhà đầu tư coi trọng các hỗ trợ hành
chính cao hơn cả ưu đãi thuế.
Chính sách hỗ trợ về tài chính, tín dụng đối với KCN
Nhà nước có thể sử dụng ngân sách cấp vốn hoặc sử dụng quỹ tín dụng nhà
nước cấp vốn tín dụng ưu đãi cho DN kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN và doanh
nghiệp kinh doanh trong KCN. Thông qua sự hỗ trợ trực tiếp này các KCN có điều
kiện hình thành nhanh hơn, thời gian đưa cơ sở hạ tầng trong KCN vào sử dụng
tạo người lao động, tạo điều kiện để công nhân trong KCN có nhà ở, có dịch vụ về
14
y tế, học tập, chế định quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động
trong KCN về các phương diện bảo hiểm, quyền tham gia các tổ chức chính trị, xã
hội, quyền đình công, bãi công…Nhìn chung, các quy định quản lý của Nhà nước
trong lĩnh vực này rất phức tạp, luôn phải chịu sức ép từ hai phía là giới chủ đầu tư
và người lao động. Cân bằng các quyền lợi đồng thời vẫn khuyến khích đầu tư,
khuyến khích các KCN hoạt động hiệu quả, đóng góp lớn cho nền kinh tế là nhiệm
vụ rất khó khăn của Nhà nước trong khi sử dụng chính sách lao động việc làm tác
động vào KCN.
Kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với khu công nghiệp.
Nhà nước thực hiện kiểm tra các KCN dưới hai giác độ: Kiểm tra DN, dự án
đầu tư hoạt động trong KCN và kiểm tra việc thực hiện quy chế quản lý nhà nước
của các Ban Quản lý KCN.
Nội dung và phương thức kiểm tra của Nhà nước đối với các DN, dự án hoạt
động trong KCN không khác với nội dung kiểm tra DN và đầu tư nói chung. Tuy
nhiên, do các hoạt động CN và dịch vụ trong KCN tập trung với mật độ cao nên các
hoạt động kiểm tra liên ngành có điều kiện và cần thiết phải phối hợp với nhau
tránh gây cản trở không cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong KCN.
Nhà nước đặc biệt chú trọng kiểm tra về các mặt ô nhiễm môi trường, thuế, chế độ
sử dụng lao động ở các DN trong KCN, bởi vì các hoạt động này tiềm ẩn khả năng
lây lan và gây mất ổn định cao trong KCN. Ngoài ra, các hoạt động kiểm tra sử
dụng đất đai trong KCN cũng được tăng cường hơn các nơi khác để tránh nguy cơ
lãng phí đất, sử dụng đất không đúng mục đích từ phía các nhà đầu tư.
Nội dung kiểm tra hoạt động của Ban quản lý KCN bao gồm kiểm tra của
cấp trên đối với Ban quản lý và kiểm tra nội bộ. Một mặt, trong ban quản lý phải có
bộ phận thanh tra, kiểm tra nội bộ để bảo đảm hoạt động của Ban đúng quy định
của Nhà nước. Mặt khác, UBND tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có chế độ kiểm tra
việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư uỷ quyền cho Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh
cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài đầu tư
vào KCN; đề nghị Bộ Thương mại quyết định việc uỷ quyền cho Ban quản lý khu
16
công nghiệp cấp tỉnh xét duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp
KCN.
+ Phê duyệt điều lệ quản lý KCN do Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh
trình theo điều lệ mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, hướng dẫn của Bộ
Công nghiệp về danh mục ngành nghề đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất,
hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Thương mại về thị trường.
+ Chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật dự án nhóm B (đầu tư nước
ngoài), nhóm B và C (đầu tư trong nước).
+ Đề xuất nhân sự đảm nhiệm Trưởng Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh
để Thủ tướng Chính phủ xem xét, bổ nhiệm; quyết định các Phó trưởng ban, các Uỷ
viên và bộ máy giúp việc của Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh theo quy định
và hướng dẫn chung của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ.
+ Cung cấp các văn bản do mình ban hành và các tài liệu, thông tin liên quan
đến KCN cho Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh.
Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan trực tiếp quản lý các KCN
có nhiệm vụ và quyền hạn (điều 28):
+ Xây dựng điều lệ quản lý KCN trên cơ sở điều lệ mẫu do Bộ Kế hoạch và
Đầu tư ban hành trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Trường hợp Điều lệ
quản lý KCN trên địa bàn liên tỉnh thì trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư phê duyệt. Đối
với Điều lệ quản lý khu công nghệ cao thì do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi
trường phê duyệt.
+ Tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch chi tiết, tiến độ xây
dựng, phát triển KCN bao gồm: Quy hoạch phát triển công trình kết cấu hạ tầng;
quy hoạch bố trí ngành nghề; tham gia phát triển công trình kết cấu hạ tầng ngoài
Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống đường xá, cầu cống, sân bay, bến
cảng, hệ thống điện, hệ thống nước, hệ thống thông tin liên lạc… Hệ thống dịch vụ
bao gồm dịch vụ vận chuyển, bảo hiểm, giải trí, ngân hàng...
Nếu hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, có sự phối hợp của các cấp các ngành
và hệ thống dịch vụ phát triển tốt, đáp ứng được nhu cầu các nhà đầu tư sẽ tạo ra
18
tâm lý tin tưởng và yên tâm khi đầu tư vào các KCN. Các vùng có điều kiện kinh tế
không thuận lợi, có cơ sở hạ tầng thấp kém sẽ khó thu hút được hoạt động đầu tư.
Trong KCN, công ty phát triển hạ tầng KCN chính là hạt nhân quyết định sự
thành bại của KCN. Công ty phát triển hạ tầng KCN đứng ra xây dựng kết cấu cơ sở
hạ tầng và sau đó kinh doanh bằng việc kinh doanh bất động sản đó.
KCN ra đời và phát triển phụ thuộc vào quá trình hoạt động của công ty phát
triển hạ tầng KCN. Nếu công ty phát triển hạ tầng KCN yếu kém về năng lực quản
lý điều hành, về vốn đầu tư hoặc về phương pháp tiếp thị, vận động đầu tư… thì
việc lấp kín diện tích KCN sẽ gặp nhiều khó khăn, hoạt động của công ty phát triển
sẽ không đem lại hiệu quả, ngược lại còn bị chôn vốn, dẫn đến phá sản. Do vậy lựa
chọn các công ty phát triển hạ tầng KCN là rất quan trọng.
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu về quản lý các KCN
Các KCN thường gắn liền với việc sử dụng đất, cơ sở hạ tầng, trong đó có
nhiều nội dung liên quan đến quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương.
Chính vì thế, năng lực, trình độ và nhãn quan của cấp chính quyền địa phương ảnh
hưởng rất lớn đến quản lý nhà nước đối với KCN.
Thứ nhất, ảnh hưởng của trình độ ban hành chính sách đối với khu công
nghiệp của cấp tỉnh. Khía cạnh ảnh hưởng ở đây là năng lực chủ trì xây dựng và
điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN trên địa bàn phù hợp với quy hoạch tổng
thể của cả nước. Mặc dù quy hoạch KCN ở địa phương phải phù hợp với quy hoạch
chung của vùng và cả nước, nhưng nội dung và chất lượng quy hoạch KCN của
từng địa phương phụ thuộc rất lớn vào sự quan tâm, tầm nhìn và quyết tâm chỉ đạo
sở đào tạo nghề tại địa phường để đáp ứng nhu cầu cho KCN. Tỉnh cũng tiến hành
kiểm tra giám sát việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong thẩm quyền và thực
hiện các nghĩa vụ của Nhà nước đối với các chủ đầu tư và người lao động trong
KCN… Chính vì thế, sự quan tâm và năng lực giải quyết các vấn đề này của cấp
tỉnh ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng và kết quả quản lý nhà nước đối với KCN.
Ngoài ra, cấp tỉnh đại diện cho nhiều quyền hạn quản lý nhà nước khác về
KCN theo quy định của pháp luật, do đó, hiển nhiên là, chất lượng của cấp tỉnh
quyết định chất lượng quản lý của họ đối với KCN.
20
1.3.3 Văn hóa – xã hội
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển KCN hỗ trợ quản lý nhà nước đối
với KCN trên các phương diện phát hiện nhu cầu, giảm nhẹ hỗ trợ tài chính, dễ thực
thi các chính sách thu hút đầu tư vào KCN, các KCN có điều kiện hoạt động hiệu
quả nên hỗ trợ thu ngân sách nhà nước, các vướng mắc cần tháo gỡ ít hơn. Ngược
lại, ở các địa phương có điều kiện không thuận lợi cho phát triển KCN thì quản lý
nhà nước vừa gặp nhiều vấn đề khó khăn cần tháo gỡ, vừa phải trợ cấp lớn cho
KCN, trong khi đó KCN có thể vẫn vận hành không hiệu quả.
Điều kiện kinh tế xã hội
Bản thân Nhà nước phải hỗ trợ nhiều mặt và giúp đỡ KCN nếu như xây dựng
KCN ở các vùng kém phát triển, lao động vừa thiếu, vừa chưa được đào tạo, cơ sở
hạ tầng nghèo nàn…Do đó, tuỳ theo các điều kiện kinh tế xã hội của từng địa
phương khác nhau mà nội dung quản lý nhà nước cũng khác nhau.
BẢNG 3.1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CÁC KCN (PHƯƠNG ÁN I) 46 III..............................II
BẢNG 3.2: DỰ BÁO PHÁT TRIỂN CÁC KCN 49 III..................................................................................II
ĐỒ THỊ 2.1 CHI PHÍ GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC ERROR: REFERENCE
SOURCE NOT FOUND IV.................................................................................................................................II