TƯ TƯỞNG đạo đức của KHỔNG tử đặc điểm và ý NGHĨA LỊCH sử tt - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

PHẠM THỊ DINH

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ
- ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

Ngành: Triết học
Mã số: 62.22.03.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019


CÔNG TRÌNH HOÀN THÀNH TẠI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Nguyễn Anh Quốc
2. TS. Phạm Đình Đạt

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, số 10 – 12 Đinh Tiên
Hoàng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
vào lúc….. giờ, ngày….. tháng….. năm 2019.

Phản biện độc lập 1:

tảng của văn hóa Hán cùng với sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa với các tộc
người khác.
Trong suốt cuộc đời, trải qua hoạt động lý luận cũng như hoạt động
thực tiễn (chính trị, giáo dục…), và trên cơ sở kế thừa tiền đề lý luận trước
đó, Khổng Tử đã phân chia các quan hệ đạo đức trong xã hội thành năm
mối quan hệ cơ bản, đó là quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn
bè. Mỗi quan hệ có những tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng, như cha
hiền, con thảo; anh tốt, em ngoan; chồng biết tình, vợ nghe lẽ phải; bề trên
từ hiếu, bề dưới kính thuận; vua nhân từ, tôi trung thành. Đồng thời, ông đề
xuất một hệ thống khái niệm căn bản về đạo đức, như nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín, dũng, trung, hiếu, kính đễ... để mọi người tu dưỡng nhằm khắc phục,
loại trừ tình trạng phi nhân tính, vô đạo đức trong xã hội Trung Quốc thời
Xuân thu và xây dựng nó thành một học thuyết chính trị - đạo đức tương
đối hoàn chỉnh thời bấy giờ.
Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, có một lịch sử hình thành và phát
triển lâu dài trên cả bề sâu và chiều rộng. Bề sâu là, tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử đã được các thế hệ Nho gia và nhiều nhà tư tưởng sau này kế
thừa, phát triển; trong đó, giai đoạn sau thường phong phú hơn giai đoạn
trước vì phải thích nghi với điều kiện xã hội mới, hoặc vì phải đấu tranh
với các luồng tư tưởng, tín ngưỡng nội sinh khác hoặc các tư tưởng ngoại
sinh thâm nhập vào trong quá trình phát triển.
Chiều rộng là, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử đã trở thành truyền


2

thống văn hóa in đậm dấu ấn của mình lên lịch sử không chỉ ở Trung
Quốc mà còn ở nhiều nước Châu Á và thế giới trong suốt mấy nghìn
năm qua. Vì vậy, trong bức thư gửi tới lễ tưởng niệm Khổng Tử, tổng
thống Mỹ Reagan đã viết: “Những lý tưởng cao đẹp và những tư tưởng

sự hình thành, phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Hiện nay, tư
tưởng đó trở thành một trong những yếu tố trong đời sống nhân dân ta,
thể hiện ở phong tục, tập quán, lối sống, suy nghĩ, đạo đức luân lý, v.v…
1

Dương Lực. (2002). Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa. (Trần Thị Thanh
Liêm dịch). Văn hóa thông tin, tr.519


3

của nhiều người. Nếu chúng ta biết lọc bỏ những hạn chế, tiếp thu có
chọn lọc, sáng tạo những giá trị, tinh hoa trong tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử, tư tưởng đó vẫn còn những ý nghĩa lịch sử nhất định cả về mặt
lý luận và thực tiễn giáo dục đạo đức con người, ổn định trật tự xã hội. Đề
cập đến vấn đề này, tại hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn
luyện và học tập khai mạc ngày 06-5-1950, Hồ Chí Minh đã căn dặn:
“Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có
nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên
học. “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những
hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy chúng ta như vậy”2.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng đã khẳng định: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động,
không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với
Việt Nam”3.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: Tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử, làm luận án tiến sĩ

trình trên đều là những thành quả đáng trân trọng của sự dày công
nghiên cứu của các tác giả. Các nhà nghiên cứu đã trình bày khoa học và
hết sức hợp lý, chặt chẽ những luận điểm triết học của các triết gia, các
trường phái triết học. Nhưng do lượng tri thức truyền tải quá rộng so với
một công trình nghiên cứu cụ thể, nên các tác giả cũng chỉ dừng lại ở
những nét khái quát nhất. Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên
cứu về tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, nhưng trong phạm vi giới hạn của
một bài báo không cho phép những công trình đó đi sâu vào toàn bộ nội
dung tư tưởng đạo đức của ông mà chỉ tập trung bàn luận một khía cạnh
nào đó của tư tưởng như: Phạm trù nhân, phạm trù hiếu, phạm trù chính
danh,… Song, đây thực sự là nguồn tài liệu quý giá giúp nghiên cứu sinh
tiếp tục phân tích, làm rõ nội dung, đặc điểm cơ bản trong tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử một cách đầy đủ, sâu sắc và có hệ thống hơn.
Hướng nghiên cứu thứ hai, đó là các công trình nhận định, đánh giá
về tư tưởng đạo đức Khổng Tử. Trong đó có các tác phẩm như: Khổng
giáo phê bình tiểu luận của tác giả Đào Duy Anh, Nhà xuất bản Quan
hải tùng thư, Huế, năm 1938. Tác phẩm Khổng học đăng, của Phan Bội
Châu, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, năm 1957. Tác phẩm Bàn về đạo
nho của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện, Nhà xuất bản Thế giới, Hà
Nội, năm 1993 . Tác phẩm Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm, Nhà
xuất bản Văn hóa, năm 1994. Tác phẩm Nho giáo và phát triển của
Nho giáo ở Việt Nam của Vũ Khiêu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
năm 1995. Tác phẩm Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam của Phan Đại
Doãn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1998. Tác phẩm
Triết lý phương Đông - giá trị và bài học lịch sử, của tác giả Doãn Chính,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2005. Gần đây nhất là tác phẩm Giá
trị của đạo đức nho giáo trong thời đại ngày nay của tác giả Tần Đại Đồng,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2014… Các công trình trên,
hầu hết các tác giả đã quán triệt quan điểm khách quan, toàn diện và quan
điểm lịch sử - cụ thể, đặt tư tưởng đạo đức của Khổng Tử nói riêng và tư

của ông hình thành cho đến hiện nay qua các tư liệu có liên quan.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức cho con người.
Phương pháp nghiên cứu: Để thực thiện luận án, nghiên cứu sinh đã
sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và
tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, logic và lịch sử, so sánh, đối chiếu lý
luận với thực tiễn, và phương pháp văn bản học,...
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở trình bày có hệ thống nội dung, đặc
điểm cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, giá trị, hạn chế và ý
nghĩa lịch sử của nó, luận án giúp cho người đọc có sự nhận thức tư
tưởng đạo đức của Khổng Tử một cách hệ thống và sâu sắc hơn.
Về ý nghĩa thực tiễn: Việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Khổng
Tử một cách có hệ thống cả về nội dung, đặc điểm, giá trị và ý nghĩa lịch
sử của nó, giúp chúng ta thấy rõ vai trò to lớn trong tư tưởng đạo đức
của Khổng Tử đối với việc xác định yêu cầu, trách nhiệm của mỗi người
trong các mối quan hệ xã hội, góp phần điều chỉnh hành vi đạo đức của


6

con người và cai trị, quản lý xã hội. Luận án có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy của các cá nhân, tổ
chức có liên quan.
7. Cái mới của luận án
Thứ nhất, luận án đã phân tích, làm rõ một cách có hệ thống nội
dung và đặc điểm cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử.
Thứ hai, luận án đã đánh giá những giá trị và hạn chế trong tư tưởng

nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và
thương nghiệp. Đặc biệt, những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông
nghiệp do sự xuất hiện của đồ sắt đã làm cho chế độ “tỉnh điền” 井井 - cơ
sở kinh tế của chế độ nô lệ dần dần bị tan rã, chế độ tư hữu về ruộng đất
từng bước hình thành và ngày càng phát triển.
Về chính trị - xã hội, trên cơ sở sự chuyển biến về lịch sử và sự phát
triển về kinh tế đã dẫn đến sự biến động về chính trị - xã hội ở thời kỳ
Xuân thu. Có thể khái quát sự biến đổi về chính trị - xã hội Trung Quốc
thời kỳ này ở một số mặt sau: một là, sự phân hóa giai cấp và nạn “tiếm
ngôi việt vị”; hai là, các cuộc chiến tranh liên miên và ác liệt giữa các
nước chư hầu hòng tranh giành đất đai, quyền lực, làm bá chủ thiên hạ.
Điều đó, đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, trật tự xã hội bị
đảo lộn.
1.1.2. Sự băng hoại về đạo đức trong xã hội Trung Quốc thời
Xuân thu
Cùng với sự biến động về lịch sử, kinh tế và chính trị - xã hội, đạo
đức trong xã hội Trung Quốc thời Xuân thu cũng băng hoại. Điều này
được biểu hiện ở sự đảo lộn trong các mối quan hệ đạo đức dẫn tới cảnh
bề tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy


8

ra. Bên cạnh đó, thời Xuân thu, các chuẩn mực đạo đức xã hội như:
nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu, đễ,... cũng băng hoại, không còn như
trước nữa.
Tất cả sự biến đổi đã đặt ra một loạt các vấn đề buộc các nhà tư
tưởng và các bậc vua chúa thời kỳ này phải giải quyết. Trong đó, nổi bật
là vấn đề làm thế nào để có thể ổn định trật tự xã hội và giáo hóa đạo
đức con người, đưa xã hội từ “loạn” trở thành “trị”, con người từ “vô

Do ảnh hưởng bởi hai luồng tư tưởng trên nên một mặt, Khổng Tử
rất tin ở trời, với ông, trời như vị quan tòa công minh, cầm cân nảy mực
quyết định sự sống chết và sự thành bại trong đời sống của con người.
Ông coi việc hiểu biết mệnh trời như là một điều kiện để trở thành con


9

người hoàn thiện. Song, mặt khác, ông lại không tán thành quan điểm
cho rằng con người cứ nhắm mắt dựa vào thiên mệnh. Ông luôn yêu
cầu con người phải chú trọng nỗ lực học tập, tận lực làm việc, việc
thành bại như thế nào, lúc đó mới là tại trời. Đây cũng chính là sự mâu
thuẫn và tính hai mặt trong tư tưởng của ông nói chung và tư tưởng đạo
đức nói riêng.
1.2.2. Nhân tố chủ quan hình thành tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử
Lý luận, tư tưởng bao giờ cũng là sản phẩm của con người, do con
người sáng tạo ra và được khái quát trên cơ sở nhận thức điều kiện
khách quan. Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Khổng Tử đặc điểm và ý nghĩa lịch sử, nhất thiết phải nghiên cứu về thân thế, cuộc
đời và sự nghiệp của Khổng Tử với tư cách là nhân tố chủ quan góp
phần hình thành nên tư tưởng đạo đức của ông.
Khổng Tử (551 – 479 TCN), tên Khâu, tự Trọng Ni, người ấp Trâu,
làng Xương Bình, nước Lỗ, nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông,
Trung Quốc. Ông xuất thân trong gia đình quý tộc sa sút, cha là Thúc
Lương Ngột, mẹ là Nhan Trưng Tại, hay còn gọi là Nhan Thị. Ông là
người rất thông minh, nhân hậu, hết lòng lo việc cứu đời, vì dân, vì
nước. Ông đã đem cái đạo của thánh hiền phát triển cho phù hợp với thời
thế, lập thành học thuyết lưu truyền cho đời sau. Vì vậy, Khổng Tử được
vinh danh là một trong những nhà đạo đức, nhà chính trị, nhà giáo dục
lớn của Trung Quốc cổ đại.

được một lớp môn sinh tài giỏi và hữu dụng.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, chính từ môi trường xã hội,
cùng với năng lực cá nhân bẩm sinh và tư chất đề cao nhân trị, luôn lấy
đạo đức làm trọng đã hun đúc lên học thuyết triết học, tư tưởng đạo đức
của ông ra đời.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Sau khi nghiên cứu về điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử, tác giả rút ra kết luận sau:
Thứ nhất, là một trong những hình thái ý thức xã hội, tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử không hình thành một cách ngẫu nhiên mà xuất phát
từ đặc điểm, yêu cầu của xã hội Trung Quốc thời Xuân thu. Đó là sự
biến đổi toàn diện và sâu sắc về lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội, đạo
đức luân lý thời kỳ này. Chính thực tiễn lịch sử xã hội đương thời đã đặt
ra hàng loạt những vấn đề về triết học, chính trị - xã hội, luân lý đạo
đức, pháp luật, quân sự… thúc đẩy, yêu cầu các nhà tư tưởng, các bậc
tài sĩ phải trăn trở, tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra những diệu kế “cứu
đời”, “cứu người”, “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Cho nên, thời kỳ này
đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng thiên tài, đầy nhiệt huyết, nhiều trường
phái triết học lớn. Các nhà tư tưởng, các trường phái triết học là đại diện
cho các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau song đều cố gắng đưa ra
những lý giải và giải pháp của riêng mình để giải quyết vấn đề thực tiễn
xã hội đặt ra. Khác với các nhà tư tưởng đương thời, Khổng Tử đặc biệt
đề cao đạo đức, coi đó là công cụ, phương thức cai trị, quản lý xã hội
hiệu quả nhất.
Thứ hai, theo nguyên lý chủ nghĩa duy vật lịch sử, ý thức xã hội
một mặt do tồn tại xã hội quyết định, mặt khác nó có tính độc lập tương
đối biểu hiện ở khả năng kế thừa các lý luận của thời đại trước. Là một
nhà tư tưởng lớn, Khổng Tử đã biết tiếp thu, kế thừa những tư tưởng về
4


đạo đức bao gồm những quan hệ đạo đức như, vua - tôi, cha - con,
chồng - vợ, anh - em, bạn bè và các chuẩn mực đạo đức đó là nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng, hiếu đễ,... giữa chúng có mối liên hệ gắn
bó chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, nó chi phối mọi suy
nghĩ, hành động và là khuôn vàng, thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh
của con người. Vì vậy, theo Khổng Tử, đạo đức có những vai trò sau:
Thứ nhất, đạo đức có vai trò quan trọng trong việc tu dưỡng và rèn
luyện nhân cách con người.
Tu thân tức là sửa mình, là quá trình khắc phục những sai lầm, khiếm
khuyết trong suy nghĩ và hành động của mình để mình ngày càng hoàn
thiện, đúng đắn, tốt đẹp. Theo Khổng Tử, muốn sửa mình cho thành
người có đức hạnh hoàn toàn, mỗi con người cần phải lấy những chuẩn
mực đạo đức nhân, nghĩa, lễ, tín, chính danh… làm cơ sở, nhân tố quan
trọng trong việc điều chỉnh nhận thức, hành vi của mình trong các mối
quan hệ với bản thân, gia đình và xã hội cho phù hợp. Vì vậy, Khổng Tử


12

rất đề cao đạo đức, coi đó là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất trong việc
tu dưỡng và rèn luyện nhân cách con người.
Thứ hai, đạo đức có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì
trật tự kỷ cương, ổn định xã hội
Khổng Tử cho rằng, dùng đạo đức trong giáo hóa và cai trị thì dân
mới nể phục mà không sai phạm nữa; còn nếu dùng pháp luật thì dân
sợ nhưng không nể phục. Mặt khác, đạo đức có thể cảm hoá được lòng
người, thu phục được lòng dân trong việc trị quốc, bình thiên hạ. Vậy
nên, khi ông Quý - Khương - tử hỏi Khổng Tử về cách cai trị, Khổng
Tử đáp: “Ông muốn cai trị, cần chi phải dùng sự chém giết? Nếu tự
ông muốn làm thiện, thì dân chúng sẽ trở nên thiện hết cả”5. Kế đến,

Đoàn Trung Còn (dịch), Đại học - Trung dung, Nxb. Trí đức - Tòng thơ, 1950,
tr.69.
6


13

và thành tâm thật ý trong quan hệ với nhau.
Quan hệ cha con: Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ
hiếu làm đầu, cha đối với con phải lấy lòng từ ái làm trọng. Khổng Tử
cũng chỉ ra những việc người con cần phải làm để thực hiện điều hiếu
nghĩa với cha mẹ. Theo ông, phận làm người con phải thực hiện điều
hiếu nghĩa với cha mẹ suốt đời, khi cha mẹ còn sống cũng như lúc qua
đời chỉ còn lại nấm mộ. Hiếu là phải có tâm, có lòng thành, không có
tâm, không có lòng thành thì sẽ không được gọi là hiếu. Quan điểm “cha
ra cha, con ra con” của ông cũng đòi hỏi cha mẹ phải đối xử với con cái
cho đúng đạo của mình.
Quan hệ vợ chồng: Khổng Tử cho rằng, đã là vợ chồng phải thủy
chung, hoà thuận, thương yêu chăm sóc nhau.
Quan hệ anh em: Anh em là những người cùng huyết thống, phải
thật sự yêu thương, quan tâm chăm sóc, đoàn kết giúp đỡ nhau, tạo không
khí hoà thuận, kính trên nhường dưới, êm ấm trong ngoài có như vậy gia
đình mới hạnh phúc.
Quan hệ bạn bè: Theo Khổng Tử, trong quan hệ bạn bè, trung, tín
luôn là tiêu chuẩn của mọi hành vi.
Hai là, tư tưởng của Khổng Tử về các chuẩn mực đạo đức cơ bản
Về phạm trù nhân, theo Khổng Tử, nhân có hai nội dung cơ bản
sau: Thứ nhất là đối với bản thân mình, người có nhân phải luôn tu
dưỡng, rèn luyện đạo đức để giúp ích cho nước, cho dân. Ông nói:
“người có nhân trước phải làm những việc khó; sau thì thâu hoạch

minh việc phải trái, làm việc tốt, việc thiện ở đời và hành xử công bằng
theo lẽ phải. Cho nên, người có nghĩa, theo Khổng Tử là người thường
biết làm và dám làm những việc lớn, đại sự, suốt đời phấn đấu cho sự
thành công của sự nghiệp chung, lợi ích của toàn thể.
Lễ theo Khổng Tử, không chỉ là quy định, phép tắc, chuẩn mực về
mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa người với người, mà lễ còn là
trật tự, kỷ cương, phép nước mà mọi người đều phải thực hiện. Mọi
người thực hiện lễ không được thái quá mà phải đúng mực. Theo ông,
bất luận thái độ, hành vi nào của con người, mặc dù về bản chất là tốt,
nhưng thái quá, vượt khỏi lễ đều phản tác dụng, thậm chí còn gây nguy
hại. Ông nói: “cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình; cẩn thận
quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành ra loạn nghịch; ngay
thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách”13.
Đức trung trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử chỉ rõ thái độ, trách
nhiệm, nghĩa vụ của dân, bề tôi đối với nhà vua trong quan hệ vua - tôi.
Tức là, bề tôi phải hết lòng, hết dạ phụng sự nhà vua. Ông nói: “Vua
khiến bầy tôi thì phải giữ lễ phép; bầy tôi thờ vua thì phải cho hết lòng”14.
Lòng trung phải xuất phát từ trong tâm con người. Theo quan niệm của
Khổng Tử, trung với vua không có nghĩa là bề tôi lúc nào cũng hoàn toàn
tuân theo mệnh lệnh của bề trên, mà phải có lòng dạ ngay thẳng, biết can
ngăn, khuyên nhủ vua theo đúng điều nhân, tránh cho vua phạm những
điều lầm lỗi.
Chữ tín có nghĩa là tạo được lòng tin đối với mọi người bằng sự
trung thực, lời nói phải đi đôi với việc làm. Trong ngũ luân, tín được
xem là điều kiện đầu tiên của mối quan hệ bạn bè “bằng hữu hữu tín”
(bạn bè có lòng tin). Tuy nhiên, theo quan điểm của Khổng Tử, nội hàm
của đức tín không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ bạn bè mà còn bao hàm
cả lòng tin vô hạn vào đạo lý của bậc thánh hiền, các mối quan hệ vua
tôi, cha con, chồng vợ,…
Khổng Tử cho rằng, để nhận thức và hành động đúng bản chất của

động bất chấp đạo lý. Người có đức dũng, phải là người có ý chí quả cảm,
hành động xả thân vì nghĩa, “lập thân” và “đạt nhân”. Dũng còn là tinh
thần can đảm, dám bày tỏ ý kiến đúng đắn của mình, có những hành
động trung thực, thanh cao, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Theo Khổng Tử, các chuẩn mực đạo đức trên có mối liên hệ
thống nhất với nhau về nội dung, trong đó nhân được coi là chuẩn
mực gốc, là toàn đức, các chuẩn mực nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng,
hiếu, đễ,… cũng từ nhân mà hình thành và có vai trò bổ sung, chỉ ra
cách thức, làm sáng tỏ nội dung của nhân. Các chuẩn mực đạo đức
này trở thành trục chính trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử.
2.1.3. Tư tưởng của Khổng Tử về các phương pháp giáo dục
đạo đức cho con người trong xã hội
Thứ nhất, phương pháp chính danh
Danh theo Khổng Tử có nghĩa là tên gọi, địa vị, công dụng; chính có
nghĩa là ngay thẳng, đúng đắn. Do đó, chính danh là làm cho mọi người ai
ở địa vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình,
cũng không dành vị trí của người khác, không lấn vượt và làm rối loạn.
Mặt khác, chính danh còn đòi hỏi mỗi người phải xứng đáng với cái danh
mà mình đang mang. Với những nội dung trên, ý nghĩa tích cực của
phương pháp chính danh là làm cho con người ý thức được trách nhiệm và
15
16

Đoàn Trung Còn (dịch), Sđd, tr.183.
Đoàn Trung Còn (dịch), Sđd, tr.69.


16

nghĩa vụ của mình một cách rõ ràng trong các mối quan hệ xã hội.

biết thế nào là nhân, lễ, nghĩa,… mà không thực hành nó thì đó mới chỉ là
cái biểu hiện hời hợt bên ngoài, không có ý nghĩa, nên ông đòi hỏi học trò
phải thực hành những điều đã học được với những người khác như với
vua, với cha mẹ, anh em, bạn bè.
2.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG
TỬ

Từ việc nghiên cứu những nội dung trong tư tưởng đạo đức của Khổng
17

Đoàn Trung Còn (dịch), Sđd, tr.59.


17

Tử, có thể thấy nổi lên một số đặc điểm cơ bản trong tư tưởng đạo đức của
ông như sau :
2.2.1. Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thể hiện sự thống nhất
giữa đạo đức và chính trị
Sở dĩ, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thể hiện sự thống nhất giữa
vấn đề đạo đức với vấn đề chính trị - xã hội là vì, Xuân thu là thời kỳ xã
hội Trung Quốc có sự biến đổi sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực; đạo
đức xã hội suy đồi, trật tự thể chế và các chuẩn tắc xã hội đảo lộn,… đã
khiến cho ông không thể bàng quan trước thời cuộc và vận nước. Có thể
nói, vấn đề ổn định chính trị - xã hội vừa là động lực, vừa là mục đích tối
cao trong việc đưa ra học thuyết đạo đức của Khổng Tử. Hay nói cách
khác, muốn ổn định chính trị - xã hội, theo Khổng Tử, cần phải nghiên cứu
về đạo đức con người, giáo hóa đạo đức con người. Ngược lại, đạo đức
được coi là phương tiện, công cụ chủ yếu và hiệu quả nhất của giai cấp
thống trị trong việc trị nước, quản lý xã hội. Không những thế, đạo đức còn

dù vậy, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử vẫn có giá trị và ý nghĩa to lớn
về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong chủ trương ổn định trật tự xã hội
và giáo dục đạo đức con người.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trên cơ sở tìm hiểu nội dung, đặc điểm cơ bản trong tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử, tác giả nhận thấy, tư tưởng đạo đức của ông thể
hiện một trình độ tư duy phong phú và sâu sắc. Điều này được biểu
hiện qua việc Khổng Tử không chỉ đưa ra quan điểm về vai trò của đạo
đức mà ông còn xây dựng lên một học thuyết đạo đức tương đối hoàn
chỉnh, bao gồm các quan hệ đạo đức và các chuẩn mực đạo đức hết sức
cụ thể để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người.
Bên cạnh đó, Khổng Tử cũng chú trọng đến việc giáo dục đạo đức
cho người dân, coi đó là nhiệm vụ quan trọng nhất để đào tạo ra con
người có đạo đức và xã hội có đạo đức. Ông đã đưa ra những phương
pháp giáo dục đạo đức hết sức tích cực và tiến bộ như: Phương pháp
chính danh, phương pháp tùy nghi thuyết giáo; phương pháp nêu
gương; thống nhất giữa học với hành, giữa tri thức và cuộc sống,…
Chính điều này đã làm cho Khổng Tử không những trở thành nhà tư
tưởng kiệt xuất, mà còn là một nhà giáo dục vĩ đại, người thầy của muôn
đời (vạn thế sư biểu).
Những nội dung trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, nhìn một
cách khái quát, nổi lên những đặc điểm chủ yếu sau: Một là, tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử thể hiện sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị. Hai
là, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thể hiện tính thống nhất giữa ý thức
cá nhân, gia đình và ý thức cộng đồng. Ba là, tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử thể hiện tính mâu thuẫn giữa quan điểm tiến bộ với quan
điểm bảo thủ, lạc hậu.
Chương 3
GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ

lễ, phương pháp đối xử với mọi người là trung thứ,… Khổng Tử đã chủ
trương quý trọng sinh mạng, vì yêu thương người thân mà yêu thương
mọi người, vì yêu thương loài người nên ủng hộ nền chính trị nhân chính
để xây dựng thế giới đại đồng cùng với những nỗ lực để thực hiện khát
vọng hạnh phúc cho con người gắn với việc đánh giá mức độ “thành
nhân” của họ; trong đó, bao gồm cả việc hoàn thiện nhân cách và hoàn
thành nghĩa vụ làm người, khẳng định vai trò của dân, nhấn mạnh cả
yếu tố vật chất và tinh thần, không bỏ qua vai trò của cá nhân, tập thể
đứng đầu… đã cho thấy giá trị nhân bản, nhân văn đáng được ghi nhận
trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử.
3.1.2. Những hạn chế trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử
Thứ nhất, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thể hiện quan điểm duy
tâm, và phiến diện về lịch sử
Khổng Tử đã quan niệm đạo đức là nhân tố duy nhất quyết định sự
hưng vong, thịnh suy của triều đại mà quên mất vai trò quyết định của kinh


20

tế, của tồn tại xã hội đã thể hiện quan điểm duy tâm về lịch sử trong tư
tưởng đạo đức của ông. Bên cạnh đó, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử đã
đề cao đến mức tuyệt đối hóa vai trò đạo đức của nhà vua trong việc ổn
định xã hội. Ông coi đạo đức của người quân tử, tức giới cầm quyền, mang
tính quyết định đến đạo đức của tiểu nhân (thảo dân). Đó là quan niệm hết
sức siêu hình, phiến diện và một chiều. Khổng Tử rất quan tâm đến lĩnh
vực giáo dục con người. Mục đích của ông là nhằm giáo hóa, đào tạo, hoàn
thiện con người. Theo ông, sự hoàn thiện con người vừa là nguyên nhân,
vừa là điều kiện hoàn thiện xã hội, nhưng ông lại chú trọng đến con người
chủ yếu ở phương diện đạo đức. Quan niệm của Khổng Tử về con người
như vậy không thể tránh khỏi tính chất siêu hình.



21

Các yêu cầu, chuẩn mực trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử vẫn
còn những giá trị nhân văn và học thuật sâu sắc. Những giá trị đó, chính
là tinh thần trọng điều nhân, nghĩa, quý người hiền, khinh lợi, ghét kẻ
bất hiếu, bất trung, giữ vững nghĩa khí trong mọi hoàn cảnh. Chính vì
vậy, sau khi Khổng Tử mất, tư tưởng đạo đức của ông đã được học trò
và các thế hệ Nho gia sau này kế thừa, phát triển, không những thế nó
còn ảnh hưởng tới rất nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Thứ hai, phương pháp giáo dục đạo đức cho con người trong tư
tưởng của Khổng Tử là một đóng góp to lớn và quý báu vào sự hình
thành, phát triển lý luận về tâm lý và lý luận về giáo dục trong lịch sử
tư tưởng của nhân loại.
3.2.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn trong tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử
Thứ nhất, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử có ý nghĩa trong việc
xác định rõ yêu cầu và trách nhiệm của mỗi người trong các quan hệ xã
hội.
Thư hai, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử có ý nghĩa trong việc điều
chỉnh hành vi đạo đức của con người.
Khổng Tử đã đưa ra những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức hết sức
cụ thể đó là nhân, nghĩa, lễ, dũng, tín, hiếu,... để điều chỉnh hành vi đạo
đức của con người trong các mối quan hệ.
Thứ ba, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử có ý nghĩa trong việc cai
trị và quản lý xã hội
Các phạm trù, nhân, lễ, chính danh trong tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử có ý nghĩa tích cực trong việc thực hiện đường lối cai trị và
quản lý xã hội, là phương tiện, công cụ nhằm duy trì, bảo vệ địa vị của

và các phương pháp như: phương pháp chính danh, định phận, phương
pháp thuyết giáo tùy nghi, phương pháp nêu gương, phương pháp thống
nhất giữa học với hành, tự tu dưỡng bản thân… là một trong những đóng
góp to lớn và quý báu vào kho tàng lý luận giáo dục của Trung Hoa và
nhân loại. Đặc biệt, với chủ trương “nhân trị”, “lễ trị” tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử có ý nghĩa trong việc cai trị, quản lý xã hội, ảnh hưởng sâu sắc
đến đời sống đạo đức xã hội ở một số nước phương Đông trong đó có
Việt Nam.
Đánh giá về những ý nghĩa trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử
đối với thời đại ngày nay, một đại diện của UNESCO có nói:
Chỉ cần tư duy một chút người ta sẽ nhận ra ngay những ý nghĩa
của tư tưởng Khổng Tử đối với xã hội đương thời. Thật đáng kinh
ngạc vì ngay từ 2540 năm trước, ông đã tìm ra những nhu cầu căn
bản của xã hội loài người cùng những thay đổi nhỏ bé của nó. Dù
chúng ta tiến bộ hay chưa tiến bộ thì một xã hội như ngày nay cũng
đang tồn tại trên cơ sở rất nhiều quan niệm về giá trị xã hội mà
Khổng Tử đã mô tả…19.
KẾT LUẬN CHUNG
Qua quá trình nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Khổng Tử - đặc
điểm và ý nghĩa lịch sử, có thể rút ra những kết luận sau:
1. Sự ra đời tư tưởng đạo đức của Khổng Tử trước hết là sự phản
ánh và bị quy định bởi điều kiện xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu. Đó
là thời kỳ xã hội có sự chuyển biến cả về kinh tế, chính trị - xã hội và
luân lý đạo đức. Thời Xuân thu - bước quá độ chuyển từ chế độ chiếm
19

Dương Lực. (2002). Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa. (Trần Thị Thanh
Liêm dịch). Văn hóa thông tin, tr.518-519.



đạo đức cơ bản, quan trọng đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng,...
Nó được coi là khuôn vàng, thước ngọc để điều chỉnh và đánh giá hành
vi của con người.
Khổng Tử rất coi trọng đến việc giáo dục đạo đức cho con người.
Vì vậy, ông đã đưa ra rất nhiều phương pháp giáo dục đạo đức hết sức
tích cực và tiến bộ như: Phương pháp chính danh định phận, phương
pháp tùy nghi thuyết giáo; phương pháp nêu gương; thống nhất giữa học
với hành, lời nói với việc làm,… nhằm đem lại hiệu quả giáo dục cao.
Với những nội dung trên, có thể nói, tư tưởng đạo đức của Khổng
Tử rất phong phú, đa dạng, nhưng tựu trung lại, nổi bật lên những đặc
điểm chính. Đó là tính thống nhất giữa đạo đức và chính trị; giữa thực
tiễn và lý tưởng; là sự liên hệ giữa ý thức cá nhân, gia đình và ý thức
cộng đồng; do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp nên trong



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status