NÂNG CAO KHẢ NĂNG tư DUY bản CHẤT hóa học CHO học SINH KHÁ, GIỎI ở TRƯỜNG THPT THÔNG QUA một số DẠNG bài tập về PHẢN ỨNG c - Pdf 57

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Hóa học không phải là quá trình được dạy, là sự tiếp nhận một cách thụ động
những tri thức hoá học mà chủ yếu là quá trình học sinh tự học, tự nhận thức, tự khám
phá, tìm tòi các tri thức hoá học một cách chủ động, tích cực, là quá trình tự phát hiện
vấn đề và giải quyết các vấn đề. Hóa học chứa đựng rất nhiều các hiện tượng hóa học
mang tính thực tế cao mà để giải thích được các hiện tượng đó ta cần có kiến thức sâu
về hóa học chứ không đơn thuần dùng số liệu xử lí như toán học. Khi học sinh hiểu
được bản chất sâu xa của các quá trình hóa học và biết cách giải thích các quá trình này
thì tự bản thân các em sẽ hình thành niềm đam mê khám phá, có tình yêu với bộ môn
hóa học. Đặc biệt, với xu thế thi cử hiện tại khi số lượng học sinh từ bỏ môn hóa ngày
càng tăng lên thì càng đặt cho bộ môn hóa nhu cầu giải quyết các hiện tượng hóa học
một cách đơn giản, dễ hiểu, dễ lôi kéo người học. Chính từ nhu cầu này đòi hỏi các
thầy cô giáo trong quá trình dạy học cần xây dựng cho học sinh cách khám phá, giải
thích đơn giản, nhanh gọn các bản chất hóa học, hình thành cho các em cách tiếp nhận
kiến thức một cách chủ động. Trong xu hướng thi cử hiện tại của Bộ giáo dục là thi
theo hình thức trắc nghiệm rất nhiều học sinh đã lựa chọn cho mình hình thức nhớ máy
móc các kiến thức hóa học, chỉ hướng vào rèn luyện tốc độ làm bài mà không quan tâm
nhiều đến bản chất hóa học. Xu hướng trên cũng tương đối phù hợp với xu thế thi cử
hiện tại nhưng mô hình chung lại biến học sinh thành những cái ″máy nhớ″ mà không
hiểu nhiều về bản chất, nhiều trường hợp sẽ gặp khó khăn khi có các câu hỏi khai thác
về bản chất hóa học. Vì vậy, việc cân bằng giữa rèn luyện kĩ năng, tốc độ với tìm hiểu,
phân tích bản chất vấn đề là nhu cầu rất cấp thiết khi giảng dạy bộ môn hóa học phổ
thông.
Trong quá trình giảng dạy và ôn thi tôi nhận thấy phần kiến thức về phản ứng của
các chất với nước xuất hiện ở nhiều mảng kiến thức và đều chứa đựng rất nhiều bản
chất hóa học. Phản ứng với nước có thể là quá trình trực tiếp tạo sản phẩm hoặc là phản
ứng mở đầu cho một chu trình gồm một số phản ứng hóa học. Học sinh khi nghiên cứu
về phần kiến thức này thường chỉ nhớ một vài trường hợp cụ thể mà không có cái nhìn
1


2


IV. Phương pháp:
- Nghiên cứu tài liệu, sưu tầm các tài liệu phục vụ việc soạn thảo.
- Cho học sinh trải nghiệm các hiện tượng hóa học trong thực tế, trong phòng thí
nghiệm và thông qua các thí nghiệm hóa học trên mạng, thực nghiệm giảng dạy.
V. Những điểm mới của SKKN:
- Phần kiến thức về phản ứng với nước là phần kiến thức tương đối phức tạp lại
bị trải dài trong toàn bộ chương trình hóa học phổ thông nên việc viết SKKN này giúp
học sinh có một cái nhìn tổng hợp hơn, tạo tâm lí cẩn thận khi trong đề thi khai thác
đến mảng kiến thức này.
- Học sinh được hướng dẫn thực hiện các chu trình hóa học để suy ra bản chất
phản ứng, khám phá hiện tượng chứ không giống như lâu nay vẫn học là nhớ máy móc,
dùng làm bài. Như vậy học sinh sẽ hứng thú hơn, chủ động hơn, dễ dàng có trao đổi,
tranh luận, tìm tòi kiến thức cùng thầy cô.
- Học sinh được nhắc nhở, sửa chửa các câu trắc nghiệm dễ bị sai sót khi liên
quan đến phần kiến thức này nên sẽ hạn chế bị mất điểm trong các kì thi.

B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận:
- Các kim loại có thể tác dụng với nước ở điều kiện thường bao gồm: kim loại
nhóm IA, một số kim loại nhóm IIA (Ca, Sr, Ba), khi cho các kim loại này tác dụng với
dung dịch muối thì các kim loại này sẽ có phản ứng với nước trước
- Các oxit bazơ của một số kim loại mạnh, có khả năng tác dụng với nước ở điều
kiện thường thì khi cho vào nước có thể tác dụng với nước tạo thành dung dịch kiềm
tương ứng.
- Các chất chứa một số liên kết không bền như: chức este, cầu peptit hoặc liên
kết -CO-NH- thường dễ bị thủy phân trong môi trường axit hoặc môi trường kiềm.
- Một số hiđroxit lưỡng tính có thể dễ dàng tan trong dung dịch kiềm như:

Trong quá trình giảng dạy có một số trường hợp khiến học sinh phân vân không
biết vì sao sản phẩm lại khác nhau hoặc không biết tại sao quá trình lại tạo ra sản phẩm
như vậy, vì vậy các em chọn cách nhớ theo các phương trình có sẵn. Tuy nhiên, khi
giảng dạy các vùng kiến thức này giáo viên chỉ cần lồng vào phản ứng với nước và tổ
hợp các giai đoạn thì vấn đề lại rất rõ ràng, dễ hiểu. Cụ thể như sau:
4


*Ví dụ 1: Tại sao phản ứng thủy phân este trong môi trường axit là phản ứng thuận
nghịch thường tạo sản phẩm là axit và ancol còn phản ứng thủy phân este trong môi
trường kiềm lại là phản ứng một chiều thường tạo sản phẩm là muối và ancol?
Giải quyết vấn đề: - Trong môi trường axit xảy ra phản ứng như sau:
RCOOR1 + H2O

RCOOH + R1OH

Do axit có thể tác dụng với ancol để tạo este nên phản ứng xảy ra theo cả 2 chiều thuận
nghịch.
- Trong môi trường kiềm thì phản ứng xảy ra như sau:
RCOOR1 + H2O
RCOOH + R1OH
+
RCOOH + NaOH → RCOONa + H2O
RCOOR1 + NaOH → RCOONa + R1OH
Do phản ứng không còn axit để tham gia phản ứng với ancol nên phản ứng chỉ xảy ra
theo một chiều duy nhất.
*Ví dụ 2: Tại sao phản ứng của nhôm với dung dịch kiềm lại có sự tham gia của H 2O
trong khi phản ứng của Zn với dung dịch kiềm lại không có H2O?
Giải quyết vấn đề:
- Khi Al tác dụng với dung dịch kiềm thì:

2P + 10HNO3(đ) → P2O5 + 10NO2 + 5H2O
+

P2O5 + 3H2O → 2H3PO4
P + 5HNO3(đ) → H3PO4 + 5NO2 + H2O

* Ví dụ 5: Sau phản ứng nhiệt phân của các muối nitrat ta thường thu được hỗn hợp khí
gồm NO2, O2. Nếu dẫn hỗn hợp khí này qua một dung dịch kiềm dư thì phản ứng xảy
ra thế nào?
Giải quyết vấn đề:
Đa phần học sinh nếu không nắm vững bản chất đều cho rằng O 2 không có phản ứng
với kiềm, chỉ có NO2 là oxit axit nên có phản ứng xảy ra như sau:
2NO2 + 2NaOH → NaNO3 + NaNO2 + H2O
Tuy nhiên thực tế bản chất của phản ứng như sau:
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
+

4HNO3 + 4NaOH → 4NaNO3 + 4H2O
4NO2 + O2 + 4NaOH → 4NaNO3 + 2H2O (1)

Sau phản ứng (1) nếu dư O2 sẽ không có phản ứng tiếp theo, còn nếu dư NO2 sẽ có thêm
phản ứng: 2NO2 + 2NaOH → NaNO3 + NaNO2 + H2O (2)
*Ví dụ 6: Trong các bài toán thủy phân peptit thường dùng dữ kiện về axit hoặc kiềm để
lập các phương trình hóa học, tuy nhiên phản ứng thủy phân peptit trong sách giáo khoa
lại không thể hiện axit hoặc kiềm cụ thể, vậy ta cần biểu diễn phản ứng thủy phân peptit
trong môi trường axit và kiềm cụ thể thế nào?

6



ra và thu được dd Z. Cho Na2CO3 vào Z thấy có kết tủa. Số phản ứng đã xảy ra trong
các thí nghiệm trên là
A. 6.

B. 3.

C. 5.

D. 4.
7


Giải quyết vấn đề: Vì dung dịch Y có thể tác dụng với NaHCO3 tạo kết tủa nên ban
đầu phản ứng xảy ra là:
BaO + H2SO4 → BaSO4 + H2O
BaO + H2O → Ba(OH)2
2NaHCO3 + Ba(OH)2 → Na2CO3 + BaCO3↓ + 2H2O
Khi cho Al vào dung dịch sau phản ứng:
2Al + 6H2O → 2Al(OH)3 + 3H2
2Al(OH)3 + Ba(OH)2 → Ba(AlO2)2 + 4H2O
Na2CO3 + Ba(AlO2)2 → BaCO3↓ + 2NaAlO2
Vậy số phản ứng đã xảy ra là 6 ⇒ Chọn đáp án A.
*Ví dụ 2: Cho hỗn hợp gồm Al, Fe, Cu tác dụng hoàn toàn với dung dịch NaOH dư,
sau phản ứng thu được dung dịch A, khí B và phần rắn C. Cho C tác dụng hết với dung
dịch HNO3 đặc, vừa đủ, đun nóng thu được dung dịch X và khí NO 2 (sản phẩm khử
duy nhất). Thêm dung dịch NaOH tới dư vào dung dịch X thì thu được kết tủa Y. Số
phản ứng đã xảy ra trong các thí nghiệm trên là
A. 5.

B. 8.


ta có thể chọn: Al, Na, Ba, Zn. Tuy nhiên nhiều học sinh không chú ý là Na, Ba có phản
ứng với H2O ở điều kiện thường nên khi cho vào dung dịch chúng sẽ có phản ứng
với nước trong dung dịch nên thường chọn sai. Theo các điều kiện này chỉ có Al và Zn
là thỏa mãn
⇒ Chọn đáp án A.
* Ví dụ 4: Cho các chất sau: Al2O3, CO2, NO2, Al4C3, CO, PBr3, Cr2O3. Nếu cho các
chất trên lần lượt tác dụng với dung dịch NaOH loãng, dư thì số lượng các chất có thể
tham gia phản ứng là
A. 3.

B. 4.

C. 5.

D. 6.

Giải quyết vấn đề: Nếu học sinh nắm chắc bản chất hóa học sẽ xác định rõ: CO 2, NO2
là oxit axit nên có phản ứng; CO là oxit trung tính nên không có phản ứng; Al 2O3,
Cr2O3 là oxit lưỡng tính tuy nhiên Cr 2O3 chỉ phản ứng với kiềm đặc, đun nóng nên
trong dung dịch NaOH loãng không có phản ứng. Chỉ có Al 4C3 và PBr3 là gây cho học
sinh khó xác định có hay không vì không có phản ứng trong sách giáo khoa. Tuy nhiên
nếu phân tích theo tổ hợp quá trình ta có thể chỉ rõ phản ứng:
Al4C3 + 12H2O → 4Al(OH)3 + 3CH4
+

4Al(OH)3 + 4NaOH → 4NaAlO2 + 8H2O
Al4C3 + 4H2O + 4NaOH → 4NaAlO2 + 3CH4
PBr3 + 3H2O → 3HBr + H3PO3



2HCl + Na2CO3 → 2NaCl + CO2 + H2O
2Cl2 + H2O + Na2CO3 → 2NaCl + 2HClO + CO2↑

Hiện tượng: Mất màu vàng lục của khí Cl2 và có bọt khí CO2 sủi lên.
- Cho SO3 tác dụng với dung dịch BaCl2
SO3 + H2O → H2SO4
+

H2SO4 + BaCl2 → BaSO4↓ + 2HCl
SO3 + H2O + BaCl2 → BaSO4↓ + HCl

Hiện tượng: Có kết tủa trắng của BaSO4.
* Ví dụ 2: Nêu hiện tượng xảy ra khi lần lượt cho dư dung dịch NH 4Cl, dung dịch
AlCl3 hoặc sục CO2 tới dư vào dung dịch NaAlO2 ( hoặc dung dịch Na[Al(OH)4] )?
Giải quyết vấn đề:
Nếu bài toán cho từ từ HCl đến dư thì học sinh có thể nêu đúng vì đó là dạng tương đối
phổ biến trong bài tập, còn với các chất trên học sinh tỏ ra khó khăn, khi đó ta có thể
diễn tả như sau sẽ làm học sinh rất dễ hiểu vấn đề:
- Sục khí CO2 tới dư vào dung dịch NaAlO2
NaAlO2 → Na+ + AlO2+
CO2 + H2O
H2CO3
10


H2CO3
HCO3- + H+
H+ + AlO2- + H2O → Al(OH)3
NaAlO2 + CO2 + 2H2O → Al(OH)3↓ + NaHCO3


3Na2S + 2AlCl3 → Al2S3 + 6NaCl
+ Al2S3 + 6H2O → 2Al(OH)3 + 3H2S
3Na2S + 2AlCl3 + 6H2O → 2Al(OH)3↓ + 3H2S↑ + 6NaCl
Hiện tượng: Có kết tủa keo trắng của Al(OH)3 và khí mùi trứng thối.
Dạng 4: Vận dụng phản ứng với nước để xác định vai trò của các chất hoặc xác
định thành phần sản phẩm sau các giai đoạn phản ứng.
Trong một số phản ứng nếu học sinh chỉ nắm được phản ứng tổng gộp thì sẽ thấy
khó khăn khi phân tích vai trò của các chất trong phản ứng, hoặc nếu phản ứng là một
dây truyền các phản ứng nối tiếp nhau thì học sinh cần nắm chắc bản chất phản ứng
mới có thể phân tích được từng giai đoạn phản ứng. Cụ thể như sau:
*Ví dụ 1: Khi cho một mẩu nhôm vào dung dịch NaOH dư thì nhận xét đúng là:
A. Nhôm không có phản ứng với NaOH do hiđroxit của nhôm kết tủa.
B. Nhôm tan trong dung dịch NaOH, sau phản ứng chỉ thu được dung dịch.
C. Có phản ứng xảy ra và NaOH là chất oxi hóa.
D. Có phản ứng xảy ra và H2O là chất oxi hóa.
Giải quyết vấn đề: Nếu học sinh nắm chắc bản chất hóa học sẽ nhận thấy đáp án A, B
là các đáp án sai. Tuy nhiên nhìn vào phản ứng trong sách giáo khoa học sinh không
biết là nguyên tử hiđro trong H 2O hay trong NaOH sẽ có mức oxi hóa giảm từ +1 về 0.
Vì vậy ta cần phân tích theo từng giai đoạn để học sinh nhận diện đúng vai trò các chất.
Khi cho Al vào dung dịch NaOH thì phản ứng xảy ra là:
2Al + 6H2O → 2Al(OH)3 + 3H2
+ 2Al(OH)3 + 2NaOH → 2NaAlO2 + 4H2O
2Al + 2 NaOH + 2H2O → 2NaAlO2 + 3H2
Như vậy ta thấy H2O là chất oxi hóa, còn NaOH chỉ tham gia phản ứng trao đổi hòa tan
Al(OH)3 ⇒ Chọn đáp án D.
*Ví dụ 2: Hỗn hợp X chứa Na2O, NH4Cl, NaHCO3 và BaCl2 có số mol mỗi chất đều
bằng nhau. Cho hỗn hợp X vào H2O (dư), đun nóng thì dung dịch thu được chứa sản
phẩm là
A. NaCl, NaOH, BaCl2.

Giải quyết vấn đề:
Giả sử trong hỗn hợp ban đầu thì số mol mỗi chất đều là 1 mol, ta có các phản ứng xảy
t
ra như sau: MgCO3 
→ MgO + CO2
1(mol)
1(mol)
1(mol)
BaO + H2O → Ba(OH)2

;

o

;

t
BaCO3 
→ BaO + CO2
1(mol)
1(mol)
Ba(OH)2 + 2CO2 → Ba(HCO3)2
o

1(mol)
1(mol)
Như vậy sản phẩm thu được là Ba(HCO3)2 ⇒ Chọn đáp án D.
* Ví dụ 4: Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp X gồm BaO, NH4HCO3, NaHCO3 (có tỉ lệ mol
tương ứng là 5:4:2) vào nước dư, đun nóng. Đến khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn thì
thành phần của dung dịch Y thu được sau phản ứng là

4R + O2 → 2R2O

;

2R + O2 → R2O2

Chất rắn sau phản ứng có thể gồm: R2O, R2O2, R(dư)
Nếu cho chất rắn này tác dụng với H2O dư thì:
R2O + H2O → 2ROH
;
2R2O2 + 2H2O → 4ROH + O2↑
2R + 2H2O → 2ROH + H2↑
- Trường hợp 2: Đốt cháy kim loại kiềm trong không khí
4R + O2 → 2R2O
;
2R + O2 → R2O2
6R + N2 → 2R3N
Chất rắn sau phản ứng có thể gồm: R2O, R2O2, R(dư), R3N
Nếu cho chất rắn này tác dụng với H2O dư thì:
R2O + H2O → 2ROH
;
2R2O2 + 2H2O → 4ROH + O2↑
2R + 2H2O → 2ROH + H2↑ ;
R3N + 3H2O → 3ROH + NH3↑
*Ví dụ 1: Đốt cháy hoàn toàn 1 mẩu Na trong không khí, sau phản ứng thu được chất
rắn A. Hòa tan A trong H2O dư thu được dung dịch B và 4,48 lít hỗn hợp khí C (đktc)
có tỉ khối so với H2 là 12,25. Để trung hòa dung dịch B cần 500 ml dung dịch HCl 2M.
Tính khối lượng mỗi chất trong A.
Giải quyết vấn đề: Do đốt cháy hoàn toàn nên Na đã phản ứng hết. Sau phản ứng thu
được hỗn hợp khí C nên trong A chắc chắn có Na2O2, Na3N, có thể có Na2O

ta thu được dung dịch X và 1,792 lít khí Z (đktc) gồm 2 khí có khả năng làm xanh quỳ
tím ẩm và có tỉ khối so với H2 là 4,75. Công thức của kim loại kiềm là:
A. Na.

B. Rb.

C. K.

D. Li.

Giải quyết vấn đề: Ta có: MZ = 9,5 → Z có H2 → trong A có kim loại kiềm dư
Z có khả năng làm xanh quỳ tím ẩm nên có NH3 → trong A có muối nitrua
Z có 2 khí nên trong A không có peoxit
4R + O2 → 2R2O
0,12(mol)
0,04(mol)
6R
+
N2 → 2R3N
2a(mol)
a(mol)
Cho A tác dụng với nước dư:
R2O + H2O → 2ROH
0,08(mol)
0,04(mol)
2R + 2H2O → 2ROH + H2↑
a(mol)
R3N + 3H2O → 3ROH +
NH3↑
15

D. 4,45.

Dạng 6: Vận dụng phản ứng với nước cho quá trình thủy phân một số muối tạo
thành các sản phẩm khí.
Trong quá trình nghiên cứu về các hợp chất vô cơ trong chương trình hóa học phổ
thông thì có thể nhận thấy một số chất không bền, không tồn tại trong nước. Nguyên
nhân chính của hiện tượng này là các hợp chất đã có phản ứng với nước tạo thành một
số sản phẩm khí. Một số học sinh khi nhìn vào bảng tính tan có thể có thắc mắc về điều
này, tuy nhiên phần lớn đều không để ý đến. Nếu giáo viên không làm rõ bản chất thủy
phân của các muối này cho học sinh thì trong một số bài tập học sinh sẽ nhầm bản chất
hóa học. Vì vậy giáo viên cần xây dựng cho học sinh nhìn nhận tổng hợp về các hợp
chất có khả năng này. Cụ thể như sau:
- Muối hiđrua: Chủ yếu là muối hiđrua của các kim loại kiềm, kiềm thổ, Al
NaH + H2O → NaOH + H2↑
- Muối sunfua: Có một số muối sunfua có khả năng thủy phân như Al2S3, Cr2S3, MgS
Al2S3 + 6H2O → 2Al(OH)3 + 3H2S↑
16


MgS + 2H2O → Mg(OH)2 + H2S↑
- Muối nitrua: Chủ yếu là muối nitrua của các kim loại mạnh như IA, IIA, Al, Zn...
Na3N + 3H2O → 3NaOH + NH3↑
Ca3N2 + 6H2O → 3Ca(OH)2 + 2NH3↑
- Muối photphua: Các muối photphua dễ bị thủy phân, hay gặp trong thực tế là muối
Zn3P2:

Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3↑

- Muối cacbonat: Một số muối cacbonat có khả năng thủy phân trong nước bao gồm
Al2(CO3)3, CuCO3, Fe2(CO3)3, Cr2(CO3)3

Giải quyết vấn đề:
Giả sử số mol của Al và Al4C3 trong m gam hỗn hợp trên lần lượt là x, y (x,y>0)
Cho hỗn hợp tác dụng với H2O dư thì:
Al4C3 + 12H2O → 4Al(OH)3 + 3CH4
y(mol)
3y(mol)
Ta có: 3y = 0,3 (*)
Cho một nửa hỗn hợp tác dụng với dung dịch HCl dư thì:
2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2
x/2(mol)
3x/2(mol)
Al4C3 + 12HCl → 4AlCl3 + 3CH4
y/2(mol)
3y/2(mol)
Ta có: 3x/4 + 3y/2 = 0,45 (**)
Giải hệ phương trình ta có: x= 0,4(mol); y= 0,1(mol)
Vậy giá trị của m là 25,2 gam.
*Ví dụ 3: Hỗn hợp X gồm: x mol CaC2 và y mol Al4C3. Cho một lượng nhỏ X vào H2O
rất dư, thu được dung dịch Y, hỗn hợp khí Z (C2H2, CH4) và a gam kết tủa Al(OH)3. Đốt
cháy hết Z, rồi cho toàn bộ sản phẩm cháy hấp thụ vào Y được 2a gam kết tủa. Biết các
phản ứng đều xảy ra hoàn toàn. Tỉ lệ x: y là:
A. 3: 2

B. 4: 3

C. 1: 2

D. 5: 6.

Giải quyết vấn đề: Cho hỗn hợp X vào nước dư thì:

21,96 lít NO (đktc) với hiệu suất chuyển hóa là 98%. Xác định kim loại M.
Giải quyết vấn đề: Các phản ứng xảy ra:
3M + N2 → M3N2
1,5(mol)
0,5(mol)
M3N2 + 6H2O → 3M(OH)2 + 2NH3
0,5(mol)
1(mol)
4NH3 + 5O2 → 4NO + 6H2O
1(mol)
0,98(mol)
Vậy ta có: M = 40 → M là Ca.
Bài tập vận dụng tương tự:
1. Hỗn hợp X gồm CaC2 và Al4C3. Cho hỗn hợp tác dụng hoàn toàn với H2O dư, sau
phản ứng thu được a gam kết tủa và khí Z. Đốt cháy hoàn toàn Z và hấp thụ toàn bộ sản
phẩm cháy vào dung dịch nước vôi trong dư thu được a gam kết tủa. Tính phần trăm
khối lượng mỗi chất trong hỗn hợp ban đầu.
2. Cho 20 gam kim loại R tác dụng với N 2 đun nóng thu được chất rắn X. Cho X vào
nước dư thu được 8,96 lít hỗn hợp khí (đktc) có tỉ khối so với với H 2 bằng 4,75. Kim
loại R là:
A. Mg

B. Ca

C. Ba

D. Al.
19



có tỉ lệ phần trăm điểm cao hơn hẳn lớp đối chứng.
LỚP

TỔNG SỐ
HỌC

ĐC(12C2)
TN(12A1)

SINH
20
20

1

2

SỐ ĐIỂM HS ĐẠT ĐƯỢC
3
4
5
6
7
8

0
0

0
0


II. Kiến nghị:
Bộ môn hóa học là bộ môn có tính thực nghiệm cao nên để tăng tính hứng thú
cho học sinh thì rất mong ban giám hiệu nhà trường, các cấp quản lí giáo dục đầu tư
thêm về cơ sở vật chất cho phòng thí nghiệm, cấp mới thêm các loại hóa chất và dụng
cụ, có thể có thêm các buổi tham quan, ngoại khóa. Tôi cũng rất mong nhà trường sẽ
thường xuyên tổ chức các buổi trao đổi chuyên đề để giáo viên trong tổ góp ý, học tập
lẫn nhau để từng bước hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn hóa
trong nhà trường, giúp học sinh yêu thích bộ môn hóa hơn nữa trong thi thpt quốc gia.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã trình bày, tôi hy vọng nó sẽ có ích cho
công tác giảng dạy của giáo viên và cho việc học của các em học sinh trong các chương
trình đổi mới hiện nay. Rất mong được sự góp ý của bạn đọc và các bạn đồng nghiệp để
đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa hóa học 10,11,12 Nâng cao/ NXB Giáo dục.
2. Hóa học vô cơ của Hoàng Nhâm.
3. Tuyển tập bài giảng vô cơ của Cao Cự Giác.
4. Các đề thi thử thpt quốc gia, đề thi học sinh giỏi của các trường, các tỉnh trong cả
nước.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác

Nguyễn Tiến Dũng

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status